Thành phần bao che của đình

Một phần của tài liệu Đình làng Việt (Châu thổ Bắc Bộ) (Trang 129 - 136)

2.3. Cấu trúc bộ khung của đình làng

2.3.7. Thành phần bao che của đình

N hư trê n đã trìn h bày, đình làng là m ộ t sản phẩm của lịch sử, với n h ậ n th ứ c hư ớng về niên đại ra đời củ a nó vào khoảng cuối th ế kỷ XV, n h ư n g thự c ra đ ìn h làng không h ẳ n chỉ được nảy sin h từ sá n g kiến riên g biệt của triề u đình m à m ặ t nào đó trong cuộc đ iều tra đ iền d ã của ch úng tôi ở m ột số v ùng th u ộ c H à Nội

107

(Đan Phượng, Hoài Đức, Ba Vì...) còn gặp được n h iề u ngôi điếm m ộ t gian hai chái của các xóm, thờ vị th ầ n bảo vệ xóm vởi m ột b an th ờ ở gian giữa, hai b ên có sạp để ngồi, n h iề u ngôi k hông có tư ờ ng bao, đôi khi chỉ xây tường ở phía lưng... T ừ h ìn h th ứ c đó, k ết hợp với việc khảo sá t n h ữ n g ngôi đình cổ của các th ế ký XVI, XVII, XVIII, ch ú n g ta th ấ y rằng, đình làng không có tư ờ n g bao cả bốn phía (trừ phía sau ở gian giữa hoặc p h ần h ậu c u n g kiểu chuôi vồ), cụ th ể n h ư đ ìn h Tây Đ ằng có n iên đại th ế kỷ XVI, đình H ữu Bằng h u y ện T hạch T h ất có n iên đại th ế kỷ XVII... Các đình khác tro n g thời kỳ này n h iều khi cũng th ấy được bư ng b ằn g hệ v án đố, n h ư n g các n h à n g h iên cứu liên q u an đ ã h ầ u n h ư rấ t th ố n g n h ấ t rằng: sản p h ẩm tường bao này k h ông đồng n iê n đại với k ế t cấu ch ín h của đại đình m à chỉ m an g n iên đại m u ộ n , chủ y ếu được lắp th ê m ở th ế kỷ XIX, khi người ta đ ã th â m n ghiêm ho á m ộ t bước n ữ a về T h àn h hoàn g làng, n h ấ t là khi ngôi đình được bổ su n g th ê m tả h ữ u vu và h iện tư ợ n g "hư ơ ng đ ả n g tiểu triề u đình" p h á t triển. Từ đây, đình đã bị h ạ n chế tín h c h ấ t là nơi sinh h o ạ t th ư ờ n g xuyên của cộng đồng, m à chủ yếu chỉ còn duy trì h ìn h th ứ c đó tro n g n h ữ n g ngày lễ hội.

N hư trê n đã nói, trư ớc đây, vào th ế kỷ XVI, XVII, đình không có tư ờ n g bao, khi có việc họp d ân đinh, th ì rõ rà n g p h ần sàn n ằ m giữa các cột cái (bao giờ cũng th ấ p hơn x u n g qu an h ) là chỗ ngồi củ a bô lão, chức sắc, còn n h ữ n g th à n h v iên khác với cương vị th ấ p hơn được ngồi xung q u a n h n ề n cao hcm ch ú t ít (khoảng 1 0 - 2 0 cm) không rõ các d ân đ in h có được vào từ cửa giữ a không? H ay tự động vào bằng cách nào (theo giáp) th ì chư a th ấ y có m ộ t tư liệu cụ th ể nào đề cập tới. Tuy n h iê n ch ú n g tôi ngờ rằ n g có th ể đ ã có bậc ở hai b ên và p h ía sau đ ể lên sàn. Vì rõ rà n g tin h th ầ n tín ngư ỡ ng không cho p h ép người ta trè o leo m ột cách tu ỳ tiệ n v ư ợ t qu a h à n g lan can (tuy rấ t thấp) bao q u a n h sàn đình. Mọi đ ư ờ ng lên đó h iện nay còn dấu v ết, n h ư n g đ a số chỉ là

sả n p h ẩm b ằn g n h ữ n g bậc vôi gạch hay xi m ăn g của th ế kỷ XX m à thôi, lan can của đình H ữu Bằng không th ấy th ể h iện rõ về các lối lên sàn này, n ê n đây còn là vấn đ ề tồ n nghi, rấ t tiếc là b ằn g đ iều tra hồi cố điền dã ch ú n g tôi vẫn còn phải chờ m ộ t dịp m ay m ắn ở tư ơ ng lai.

K hoảng th ế kỷ XIX và th ế kỷ XX, v ậ t liệu vôi vữ a gạch ngói đ ã được sử d ụ n g để tạo n ên tư ờ n g bao q u a n h đại đình, th ậ m trí có n h iều đình bỏ truyền thống kết cấu hoàn toàn bằng gỗ m à làm th eo kiểu tường hồi bít đốc bao kín ba m ặt, còn phía trước được lắp hệ th ố n g cửa bức bàn. Nhìn chung, hiện tượng bưng kín, khiến cho ngôi đ ìn h p hần nào đã gần hơn với tính ch ất của m ột ngôi đền, T hành hoàng làng cũng đã m ang thêm tư cách của m ột ông thần th ô n g thư ờng để ban ơn huệ cho nhiều người khi họ đến lễ và cầu xin. H iện tượng này cũng hé m ở cho chúng ta thấy m ột thực tế của lịch sử là, p h ần nào do sự p h á t triể n của kinh tế phi nông nghiệp k h iến cho tổ chức xã th ô n không còn đủ sức tạo n ê n m ộ t "tường rào đ óng kín" củ a x ã hội cổ tru y ền nữa, n ên dù cho vai trò của T h àn h h o à n g làn g không h ẳ n đ ã bị hạ thấp, n h ư n g n h iều khi vẫn cần p h ải biến đổi để th ích ứ ng với n h ữ n g chức n ăn g mới thuộc lĩnh vực tâ m linh, k h iến kiến trú c ít nhiều đ ã phải đổi theo.

2.3.8. Các cấu kiện kiến trúc sàn, trần

Sàn

Là các cấu kiện th ự c h iệ n chức năn g tạo m ặ t b ằng sử dụng, bao gồm d ầm sà n và ván sàn.

Dầm sàn phân thành 2 loại

D ầm ch ín h và dầm phụ. D ầm chính được liên k ết trự c tiếp vào các cột, có n hiệm vụ chính là đỡ các dầm phụ, n hận v à tru y ền tải trọ n g trê n sà n vào cột, có th ể kết hợp chức n ăn g giằng cột hoặc k hông (th ứ yếu). T rong n h ữ n g trư ờ n g hợp có th ể, người ta

109

luôn cố g ắn g tậ n d ụ n g các loại xà giằng cột để làm th ê m chức n ăn g d ầm chính. D ầm p hụ gối lên các dầm chính th e o m ộ t phư ơng n h ấ t đ ịn h có n h iệm vụ đỡ v án sàn, n h ậ n v à tru y ề n tải trọ n g từ sàn vào dầm chính.

Ván sàn

Được ghép khít n h au trê n dầm p hụ th eo phương v u ô n g góc với n h iều dầm p hụ để tạo ra m ặ t bằng sử dụng. Ván sàn th ư ờ n g có chiều dày dao động từ 3 - 4cm.

X ung q u an h sàn, n ế u không có vách hoặc cửa th ì th ư ờ n g có lan can n h ằm m ục đích an toàn. Lan can th ư ờ n g làm th e o kiểu ch ấn song (hoặc con tiện) tro n g hệ trụ p hù hợp với bước gian hoặc chiều dài lan can.

Trân

Là th à n h p h ầ n kiến trú c chỉ có ở n h ữ n g vị trí q u an trọ n g với chức n ăn g tra n g trí, che bụi là chính. Kết cấu gồm dầm trầ n , ván trầ n v à n ẹ p trần . D ầm trầ n được liên k ết trự c tiếp vào k ết cấu k h u n g chịu lực (thường là câu đầu). Ván trầ n được g h ép p h ẳ n g liên k ế t với dầm trầ n ở phía dưới. Do chỉ có chức n ă n g tra n g trí n ê n v án trầ n th ư ờ n g được làm rấ t m ỏng, chiều dày chỉ vào khoảng 0 ,8 -l,2 c m cho nh ẹ. X ung q u an h v án trầ n là n ẹp trầ n , có tác d ụ n g tra n g trí cho trần . Nẹp trầ n thư ờ ng được soi chỉ n ô n g do có chiều dày rấ t nhỏ (thường chỉ dày b ằng ván trần ). T rần th ư ờ n g được tra n g trí bằn g sơn vẽ, hiếm có chạm khắc, do quá m ỏ n g (dấu tích v á n trầ n sớm n h ấ t là ở ch ù a Dâu với n ẹ p tr ầ n có n iên đại khoảng th ế kỷ XVI - các ván trầ n khác chủ yếu m a n g n iê n đại từ th ế kỷ XIX về sau.

Sàn

N hiều n h à n g h iê n cứu, từ thời Pháp cho đ ến n g ày nay, đã đ in h n in h rằ n g sàn đ ìn h là sản p h ẩm được b ắ t n g u ồ n từ ngôi n h à

sàn. N hưng gần đây với xu hướng nghiên cứu mới, dưới góc độ liên ngành, m ột vài n h à n g h iên cứu dân tộc học v ăn hoá đã đ ặt lại vấn đề về "sàn đ ìn h ". Ý kiến đầu tiên được đư a ra là n ếu ngôi n h à sàn bỏ sàn đi th ì nó m ấ t gần h ế t chức n ăn g th u ộ c cả lĩnh vực kiến trú c và tâ m linh (trước h ế t ư lĩnh vực kiến trúc), nó không còn m a n g tư cách là ngôi n h à sàn nữa, nó không có được n h ữ n g yêu cầu cần th iế t tro n g cuộc sống của cư d ân ở n ú i rừ ng và v ùng đ ầm lầy (hiện vẫn cần tới nó). G ần đây, tro n g cuộc khảo s á t điều tr a và hội thảo về ngôi nh à rông (của V iện Văn hóa N ghệ th u ậ t Việt N am cùng s ở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉn h Kom Tum ), khi tiếp xúc vái m ột số cụ già ở địa p hư ơ ng Sa Thầy, đã cho p h ép ch ú n g ta tạm hiểu, ngoài ý n g h ĩa là m ộ t ngôi n h à công cộng, ở n h iều địa phương (m ột số n h à rông chỉ là nơi sinh h o ạ t của n am giới) th ì n h à này ít n h iều còn m an g ý nghĩa và tư cách và m ộ t trụ c vũ trụ để th ô n g tam tầ n g th ế giới.

Trở lại với ngôi n h à củ a người S T iê n g Nam Bộ, đó là kiểu n h à dài, m ái cũng đổ x u ống gần sá t đất, th â n n h à rấ t thấp, cũng phải đục m á i làm cử a vào, sonq đáng q u an tâm là ử k ết cấu bên tro n g vừa có sạp để nằm nghỉ, vừa có lều nư ơng kiểu sàn (đã trìn h bày ở p h ần trên ). Q ua đó liên hệ tới n h ữ n g ngôi đ ìn h cổ tru y ề n th u ộ c thời Mạc (thế kỷ XVI) và hầu h ế t các đình của th ế kỷ XVII, th ì nơi th ờ T h àn h hoàng làng được d ự n g trê n các hệ th ố n g từ 2 cột cái p h ía tro n g vào tói 2 cột q u ân h ậ u th ì có th ể chắc ch ắn đ ã m an g tín h c h ấ t sàn. Còn hệ th ố n g v án lát ở các gian b ê n v à bao q u a n h của đại đ ìn h th ì th ự c ch ấ t nó g ần gũi với h ệ th ố n g sạ p hơn, bởi:

- Ở lĩn h vực tâ m linh, trong m ột số ngôi đ ìn h đã không có hệ th ố n g gọi là s à n này, đồng thời qu a n h ữ n g b iến đổi củ a lịch

sử, n h iề u đ ìn h đã bị m ấ t sạp, song hầu n h ư m ọi chức n ăn g liên q u a n tới đ ìn h vẫn g ầ n n h ư ít thay đổi. Trước h ế t người ta vẫn gọi nó là ngôi đình, v ẫ n sin h h o ạ t tầm linh tế tự bình thư ờ ng, đồng

111

thời v ẫ n th ự c h iện cả m ọi sinh h o ạ t cộng đồng th ô n dã. Như vậy ở m ặ t ý n g h ĩa cái gọi là sàn của đ ìn h và sàn củ a n h à sàn đã có n h iều tín h c h ấ t v à chức n ăn g khác nhau.

- Trở lại với kết cấu của "sà n đình" đây chỉ là m ộ t bộ phận cấu trú c g á lắp vào hệ th ố n g cột củ a đình. Người ta đục nhữ ng lỗ

m ộng k h ông sâu lắm vào phần dưới của cột cái v à các cột khác để lắp dầm sàn. Đôi khi, với m ộ t số ngôi đ ìn h h iện tượng lắp dầm ít ă n m ộng vào cột cái m à nó được kê trê n n h ữ n g cột phụ nhỏ ốp vào th â n cột rồi cùng đứ ng lực trê n h ò n ch ân tả n g chung.

T rong n h ữ n g trư ờ n g hợp có kết cấu được gọi là sàn n ày thì m ặ t n ề n th ư ờ n g để lộ đất, n h iều khi không n h ấ t th iế t phải đầm hoặc n é n ch ặt. Ở n h ữ n g trư ờ n g hợp n h ư ch ân tả n g bị sàn che k h u ất không q u an s á t được m ộ t cách b ìn h th ư ờ n g th ì n h iều khi chỉ là n h ữ n g h ò n đ á tự n h iê n ít có sự gia công về n g h ệ th u ậ t, những chân tả n g bao q u a n h h àng cột ngoài cùng cũng chỉ được gia công th eo h ìn h thứ c âm dương đối đãi ch ú t ít m à thôi, có thể lấy hình th ứ c cụ th ể này với đình H ữu Bằng (thế kỷ XVII) Thạch Thất, H à Nội làm m ột ví dụ điển hình. Ở m ộ t số ngôi đ ìn h m ang n iên đại m uộn, có sự gá lắp cột p h ụ để đỡ dầm th ì nhữ ng chân tả n g gầm sàn cũng được gia công ch ú t ít, điều đó đã biểu hiển về m ộ t sự th a y đổi n h ậ n th ứ c so với thời gian từ th ế kỷ XVIII về trước. C ũng có th ể đó là m ột biểu h iện về sự p h á t triể n của tâ m linh d â n d ã x u ấ t p h á t từ q u an n iệm âm dương đối đãi (theo điều tra hồi cố tại đình làng đình Bảng, đĩnh Đồng Kỵ, Bắc Ninh). Trở lại với h ệ th ố n g sàn, vào n h ữ n g ngôi đ ìn h cổ v à cả đ ìn h mới thì gian "lòng nưóc" tứ c gian giữa, không bao giờ được lát ván sàn, m à ở vị tr í n ày th ư ờ n g chỉ lát n ề n b ằng đ á tả n g khối chữ n h ậ t lớn, khoảng (30-40) X (50-60) cm 2. Trong n h ậ n thứ c, th ự c sự, sự tế lễ của người xư a th ư ờ n g ít n h iề u gắn với h iệ n tư ợ ng th ô n g ta m tầ n g th ế giới (trờ i/th ần /th án h , ngư ờ i/thế g ian và th ế giới bên dưới). Người ta th ư ờ n g q u an n iệm đ á bao giờ cũng chứa m ộ t

h uyền lực n h ấ t định, nó như m ộ t v ật có khả n ă n g tru y ề n tải sinh khí, vì vậy nó đ ã không ngăn cách mối liên h ệ giữa th ế giới bên dưới và b ên trê n . Hệ sàn chỉ được lắp ở các gian bên, th ô n g th ư ờ n g p h ầ n n ằm giữa các cột cái th ấp hơn hệ sàn bao q u an h là nơi của các n h â n vât được tồn trọng. Do các già làng luôn giữ vai trò q u a n trọ n g , hiện th â n của đạo và đức nơi th ô n dã, đã vào tuổi

"lão giả a n tri" n ê n gần hơn với yếu tố "tĩn h " th ì nơi ngồi của các cụ ở b ên phải đình. Còn các chức sắc đ ang g ắn bó với việc đời, g ần với y ếu tố "động" hơn th ì ngồi bên trái. Đ ương n h iên , tu y th eo cương vị m à chỗ ngồi gần xa nơi cửa T h án h có khác nhau.

N hững người có cấp bậc th ấp hơn và dân b in h th ì chỉ được ngồi ở hệ sàn cao n ằm giữa h ệ cột cái và cột q uân m à thôi.

Cho tới n ay do sự suy lạc của n h ận th ứ c m à n h iều khi trậ t tự n h ư n ê u trê n không còn được duy trì, th ậ m chí người ta đã p h ân đ ịn h cho b ên nam , bên n ữ trong n h ữ n g n g ày hội và n h ữ n g ngày sóc, vọng...

Môt n hận x ét khác (tuy chưa được khẳng định hoàn toàn) là ở nhiều ngồi đình, khi được tu bổ hoặc được dựng mới, nếu không sử d ụ n g sàn th ì người ta th ư ờ n g tạo cho đ ìn h m ộ t n ề n khá cao, n h iều khi tới trê n lm (vì thế, đ ã có n ề n đắp cao th ì n ê n thôi sàn).

Nói đ ến k ết cấu kiến trúc gỗ là nói đến công trình kiến trúc sử dụng các loại gỗ là vật liệu chịu lực chính, không có nghĩa là công trìn h chỉ được làm hoàn toàn bằng gỗ, m à vẫn có sự kết hợp sử dụng các v ật liệu phụ khác n h ư gạch (xây tường, lát nền...), ngói (lợp mái, làm bờ...), gốm (hoa văn, con giống...), đá (kê cột, lát nền...), vữa (xây, trát, lát...), đất (làm tường, đắp nền...), sỏi (làm m óng...).

v ề m ặ t cấu tạo, kiến trú c gỗ tru y ền th ố n g cũng n h ư các công trìn h kiến trúc khác được p hân chia th à n h ba phần: ph ần n ề n m ó n g , p h ần th â n và p h ần m ái. Ở đây ch ú n g tôi chú ý tới:

- P h ần n ề n m óng bao gồm kết cấu m óng và k ế t cấu nền.

113

- P hần th â n bao gồm: k ết cấu k hung chịu lực v à k ết cằu bao che, n g ă n chia, tra n g trí.

Một phần của tài liệu Đình làng Việt (Châu thổ Bắc Bộ) (Trang 129 - 136)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(222 trang)