Đồ thờ cơ bản trong ngôi đình

Một phần của tài liệu Đình làng Việt (Châu thổ Bắc Bộ) (Trang 179 - 195)

CHẠM KHẮC Ở ĐÌNH LÀNG

3.3. Đồ thờ cơ bản trong ngôi đình

Đồ thờ, suy cho cùng, tro n g m ộ t giới h ạn nào đó, là n h ữ n g

"v ật" để th ô n g linh, vì th ế tro n g mọi kiến trú c tô n giáo tín

<a®3e@Í!>141

ngư ỡ ng th ì q u an trọ n g n h ấ t là bàn th ờ của các vị T hần T hánh, đối tư ợ n g để tiế p cận q u a n g h i lễ. Vì vậy, cầ n có n h ữ n g h iệ n v ậ t để xác n h ậ n về vị th ầ n tro n g di tíc h đó, n h ư n h ữ n g tư ợ n g ch ín h , bài vị với tê n tu ổ i cụ th ể . M ột v ấ n đ ề khác cần q u an tâ m là từ chứ c n ă n g sự n g h iệ p củ a vị th ầ n m à ngư ờ i x ư a đáp ứ n g n h ữ n g đồ th ờ liê n q u an , c h ẳ n g h ạ n n h ư g ắn với n h ữ n g th ầ n có n h iề u c h iế n công th ì hầu n h ư đồ th ờ có bộ chấp kích, văn võ song to àn th ì có bộ chấp kích kèm b á t bử u, th ầ n có công với đời sống th ư ờ n g n h ậ t của n h ân d â n n h ư chống lụ t thì thư ờ ng có n h ữ n g "th ầ n cụ" tro n g việc chống th u ỷ quái, rồi tu ỳ th eo công trạ n g v à sự phong th ầ n tro n g q u á k h ứ m à th ầ n có lọng, tàn , tá n khác n h au .

Ngoài ra, đồ th ờ còn liên q u an đ ến lòng su y tô n của người đời, được biểu h iện q u a n g ai thờ, gh ế thờ, kiệu rước các loại và các đồ nghi trư ợ n g liên quan. Suy cho cùng, người đời xưa th ư ờ n g cố g ắn g tạo uy linh cho th ầ n bởi tro n g tư duy của họ th ư ờ n g n g h ĩ rằ n g th ầ n càng uy linh th ì làng xóm càng vinh quang, sẽ được h ư ở n g tố t lành n h iều hơn tai họa..., th ầ n n h ư m ột th ế lực siêu h ìn h bảo vệ cho con d ân tro n g cộng đồng m à th ầ n cai quản.

Bàn thờ

T rong m ộ t đình th ư ờ n g có n h iều ban th ờ n h ư bàn thờ công đồng, b à n th ờ T hánh, đôi khi cũng có n h iề u b à n th ờ khác của th ầ n lin h liên quan . Song, về tin h th ầ n th ì b àn th ờ nào, dù ở thời nào cũ n g th ế, đ ều m a n g m ộ t tín h c h ấ t cơ b ản để biểu h iện về tầ n g trời. Người ta có th ể th ấy rấ t rõ ở đây với hai cây n ế n đều được đ ố t b ằn g lửa, để tư ợ ng cho m ặ t trời, m ặ t trăn g . Theo n g u y ên tắc tả dương h ữ u âm (nhìn từ tro n g ra), cây n ến /đ èn ở góc ngoài b ên trá i là tư ợ n g cho m ặ t trời, b ê n p h ải là tượng cho m ặ t tră n g , b á t hư ơng ở ch ín h giữa s á t m ép n g o ài củ a bàn th ờ để tư ợ ng cho tin h tú . T rụ hư ơng vòng, ngoài có khói để thông linh,

còn được coi n h ư m ột "trục vũ trụ " n h ằm chuyển sinh khí từ tần g trên x u ố n g tần g dưới, đem h ạn h phúc đ ến cho th ế gian. Vì th ế no th ư ờ n g sơn m ầu đỏ (sinh khí) và có chữ Hỉ ở giữa th â n

"tượng trư n g cho m ọi nguồn h ạ n h phúc", n h iều khi người ta th ay đổi trụ hư ơng vòng bằng m ộ t cây trầ m hoặc kỳ n a m khúc khủy để tư ợ n g cho càn h th iê n m ệnh, cũng là m ộ t trụ c vũ trụ nối giữa siêu n h iê n với cõi thế.

Người xưa th ư ờ n g th ắ p hương vòng, th eo n g u y ên tắc khi cháy phải chạy theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, để phản án h về ý th ứ c th ờ m ặ t trời, n guồn sinh lực khởi n g u y ên và vô biẻn củ a m u ô n loài (được hội về đầu trụ và tru y ề n xuống trầ n gian).

về n g u y ê n tắc bao giờ h ư ơ n g n ế n cũ n g p h ải có khói mới

m a n g tín h linh th iê n g v à m ới có k h ả n ă n g th ô n g linh, để con n g ư ờ i tiế p cận với tầ n g trê n , vì: th e o n h iề u n h à n g h iê n cứu d â n tóc học th ì từ th ờ i n g u y ê n th ủ y , con người đ ã tự cảm n h ậ n th ấ y hình n h ư có m ộ t th ế lực siêu h ìn h nào đó có kh ả n ă n g chi phối tíến m ọi m ặ t tro n g cuộc sống củ a họ. N hư n g b ằ n g vào sự h iể u biết đ ơ n sơ ở đ ư ơ n g thời, họ k h ô n g th ể xác đ ịn h được th ế lực đc m a n g d ạ n g th ứ c ra sao v à ở đâu, d ần d ầ n khi p h â n đ ịn h đư ợc vũ tr ụ ít n h ấ t có 3 tầ n g 4 th ế giới, khi con ngư ờ i có th ể tiế p cận được với th ế giới trê n m ặ t đ ất, dưới m ặ t đ ấ t v à dưới nư ớc, họ k h ô n g th ấ y m ộ t bóng d án g nào đại d iện cho th ế lực siêu h ìn h ... Cuối cùn g , m ộ t tấ t y ế u củ a tư d uy là đẩy th ế lực n ày lên tầ n g trê n , q u á trìn h k h ẳ n g đ ịn h vai trò v à sự "cao quý"

đối với các th ế lực th iê n g liêng, là h iện tư ợ n g n h â n d ạ n g hó a các th ần linh. Song, n h iề u khi sức m ạ n h củ a th ầ n lin h cũng đư ợ c thể h iệ n ra b ằn g sức m ạ n h tự n h iê n củ a trờ i đ ất, m ây, m ư a , ũ lụ t... đ ã th ú c đẩy con ngư ờ i tìm cách giao tiế p với th ầ n linh, hay đ ú n g hơ n là tìm cách cầu x in để các th iê n th ầ n che chở va để các th ầ n v ừ a lòng, bớ t gây ta i họa. N hư ng con người

143

k h ô n g th ể tự đi lên tầ n g trời, không th ể trự c tiế p gặp gỡ các th ầ n , ch ỉ tới khi họ th ấ y được đặc đ iể m củ a lử a th ì y ê u cầu tâ m lin h đó m ới p h ầ n n ào được giải q u y ế t. T h ô n g th ư ờ n g có lử a th ì có khói, m à khói th ì luôn có xu h ư ớ n g bay lê n cao, đó là m ộ t gợi ý để con ngư ờ i m ư ợ n khói tiế p x ú c với các đ ấ n g vô b iên . R ất n h iề u tộc ngư ờ i trê n th ế giới, m à h iệ n n a y v ẫ n còn tư ơ n g đối phổ b iến ở ch â u Phi đen, th ổ d â n ch â u ú c ... rồi ở v ù n g rừ n g n ú i c h â u Á, tro n g đó có cả V iệt N am , th ư ờ n g đ ố t n h ữ n g đ ố n g lử a lớn để tổ chức lễ hội. N gười ta th ư ờ n g m ú a n h ả y với n h ịp đ iệu m ạ n h , đầy gợi ý, p h ầ n n h iề u v ậ n c h u y ể n th e o bước đi ngược c h iề u kim đồng hồ q u a n h đ ố n g lửa. C húng ta có th ể th o á n g n h ư tìm th ấ y ở đây m ộ t h ìn h th ứ c g ắn với tục th ờ m ặ t trờ i (hội Lồng T ồng - lễ x u ố n g đ ồ n g củ a ngư ờ i th iể u số V iệt Nam ), tro n g đó n h ữ n g động tác m ú a n h ả y đ ã m a n g đầy sự gợi ý b ằ n g ch ín h cơ th ể con người, ch ủ y ế u là giới nữ , lực lượng tạ o n ê n sự sin h nở và n u ô i dư ỡng (nói lên k h á t v ọ n g cầu no đủ, sin h sôi, p h á t triể n ...). T ất cả có th ể tạ m h iể u rằ n g , ngư ờ i ta m u ố n d ù n g n h ữ n g h ìn h ả n h v à đ ộ n g tác c ủ a điệu m ú a đ ể th ô n g q u a lử a khói m à gửi lời cầu của con n g ư ờ i lên cõi th iê n g liêng. T ạm có th ể d iễn giải lời cầu đó n h ư sau: Hỡi các th ầ n lin h đầy sức m ạ n h siêu p h àm , h ã y cho m u ô n loài m u ô n v ậ t th e o sự gợi ý q u a th â n xác củ a c h ú n g tôi đây, m à b a n cho c h ú n g tôi n h iề u củ a cải cho cây trồ n g v à v ậ t n u ô i sin h sôi p h á t triể n , để c h ú n g tôi luôn có m ù a vụ bội th u v à cuộc đời đầy h ạ n h p h ú c.

Vượt q u a thời n g u y ên thủy, với n h ữ n g p h á t kiến phục vụ n gày càn g cao cho cuộc sống, th ì ở lĩnh vực sinh h o ạ t tâ m linh, dần d ần tro n g các tô n giáo đã hội lử a khói vào n ế n và hương, người ta coi n ế n tư ợ ng trư n g cho n g u ồ n sán g củ a đạo pháp, n h ư n g nó cũng tư ợ n g trư n g cho n g u ồ n sin h lực khởi n g u y ên vô bờ b ến là m ặ t trời, m ặ t trăn g ... còn h ư ơ ng đ ã n h ư tin h tú . Đương

nhiên, với việc khói bay lên đã n h ư m ang tín h th ô n g linh, đối với cư d ân Á Đ ông ít n h iề u ý n g h ĩa này đã chịu ả n h hư ởng của văn hóa T ru n g Hoa, về cơ bản, hương m ang ý n g h ĩa là thơm . Song, đây là thơ m củ a tin h th ần , bởi ch ấ t thơm đ ã biểu h iện lòng kính trọ n g c ủ a c h ú n g sinh đối với các th ầ n linh và n h ấ t là đối với Phật với tuệ, với tầm . Vì thế, "tâm hương" được hiểu là ngũ hương, bao gồm:

Giới hương-, sự thơm của giới, n g h ĩa là n h ữ n g giới tro n g

"luật" m à ngư ờ i tu h à n h không được phạm .

Định hương-, do giữ được giới m à tâm kẻ h à n h giả không bị rối loạn, n h ờ đó m à tậ p tru n g tư tưởng đi sâu vào n h ữ n g yếu n g h ĩa sâu x a c ủ a đạo, vào cõi định, th iề n định.

Tuệ /Huệ hương-, nhờ đ ịn h (thiền định) m ới có trí tu ệ (Phật đ ã dạy tâ m tĩn h /đ ịn h tu ệ sinh) từ đó kẻ h àn h giả m ới đoạn tu y ệ t được các m ối tà ác đ ể chứ ng được ch ân lý.

Giải th oát hương-, nhờ trí tu ệ mơi dẫn đ ến giải th o á t khỏi sự ràn g buộc dụ c v ọng để được tự tại, nghĩa là th o á t khỏi sự phiền não (làm m ê hoặc v à rà n g buộc th â n tâm ), đó là con đường dẫn tới N iết Bàn.

Giải thoát tri kiến hương-, là dẫn tới sự hiểu b iế t cao độ để đắc đạo. Tri kiến có m ức cao th ấp , rộng h ẹ p khác n h a u tu ỳ th eo khả n ăn g tu ch ứ n g củ a từ n g h ạ n g chú n g sinh m à cao n h ấ t là tri kiến củ a P h ậ t N hư Lai, m an g nghĩa giải th o á t h oàn to àn trọ n vẹn...

T ro n g n g h i lễ c ủ a ngư ờ i V iệt, sin h h o ạ t cao n h ấ t là th u ộ c về tr í v à tâ m , q u a n h ệ củ a tin h th ầ n , ở m ộ t lĩn h vự c nào đó là k h ai m ở cái tâ m c h â n th ự c tứ c cái p h áp th â n v ĩn h cửu củ a con người, m à n h ư P h ậ t đ ã dạy: h ã y v é n đ ám m ây m ù n g u tối che

145

đ ậ y th ầ m tâ m th ì tự n h iê n án h sá n g trí tu ệ sẽ rọ i tới (n h ư m ộ t cu ộ c h à n h tr ìn h đi tìm c h â n lý củ a đạo củ n g c h ín h ỉà m ộ t cuộc h à n h h ư ơ n g đi tìm c h ín h m ình) hội cả n g ũ h ư ơ n g đư ợc b iểu tr ư n g b ằ n g m ộ t n é n h ư ơ n g . T hông th ư ờ n g n g ư ờ i V iệt th ờ th ầ n lin h th e o lối th ế g ia n (lối b ìn h dân) th ì p h ầ n n h iề u d ù n g 3 n é n h ư ơ n g , th íc h ứ n g tr o n g điều k iện kêu cầu h o ặc m o n g có sự c h u y ể n đổi tíc h cực n à o đó, vì th e o q u a n n iệ m củ a n g ư ờ i V iệt, số 3 là số lẻ, lẻ th ì đ ộ n g chuyển, đ ộ n g th ì b iế n đổi, b iế n đổi th ì p h á t triể n .

T rê n đ â y là m ộ t cách bài trí đơn g iản n h ấ t củ a b à n thờ, so n g , tro n g q u á tr ìn h p h á t triể n , m ỗi th ờ i có cá ch ứ n g x ử khác n h a u v à x u h ư ớ n g bổ su n g đồ th ờ cho đầy đủ là đ iề u tấ t yếu . N gười ta đ ã sử d ụ n g bộ "ta m sự" gồm 2 c h â n n ế n v à b á t h u ơ n g , h a y ''n g ũ sự " (th ê m hai lọ để hương) h o ặc c ũ n g có khi là t h ấ t s ự (cả h a i lọ h o a nữa). H iện nay, r ấ t h iế m khi tìm th ấ y đ ư ợc tr o n g n h iề u n g ô i đ in h các ch ân n ế n gốc, lọ cắm h ư ơ n g có n iê n đ ạ i từ th ế kỷ XIX v ề trư ớc, m à c h ú n g th ư ờ n g chỉ đ ơ n sơ m ộc m ạ c , c h ủ y ế u đư ợc tiệ n b ằn g gỗ hoặc đúc b ằ n g đ ồ n g , ít có h o a v ă n , tu y n h iê n tr a n g trí n g h ệ th u ậ t th ư ờ n g đ ặ t vào b á t h ư ơ n g là c h ín h . Vào th ế kỷ XVI, XVII c h ú n g ta đ ã g ặp được n h iề u b á t h ư ơ n g b ằ n g gốm , m a n g giá trị n g h ệ th u ậ t r ấ t cao, t r ê n đó đ ắ p n ổ i n h ữ n g con v ậ t linh, n h ữ n g b iể u tư ợ n g , cả ho a lá đ ư ợ c th iê n g h o á v à cá ch điệu. Sự gồ g h ề củ a c h ú n g đôi Khi ở lĩn h v ự c tạ o h ìn h m a n g tín h c h ấ t đ iêu k h ắc rõ rệ t. T h o ản g h o ặc , c ũ n g có m ộ t v à i b á t h ư ơ ng gỗ ở v ù n g H à Tây (cũ) ch ạ m trổ r ấ t kỹ, n h ờ đó m à c h ú n g ta xác đ ịn h được n iê n đ ại củ a c h ú n g m ộ t c á c h d ễ d à n g . Vào th ế kỷ XVIII tr ở về s a u tro n g đ ìn h là n g n ổ i lê n loại b á t h ư ơ n g gốm m e n d a lươn với n h iề u loại to n h ỏ k h á c n h a u , c h ú n g m a n g đầy y ế u tố d â n g ian , đó là s ả n p h ẩ m c ủ a là n g T hổ Hà (Việt Yên, Bắc G iang). T ro n g k h o ả n g th ờ i g ia n n à y ,th ự c sự ở n h iề u đ ìn h đ ã có b á t h ư ơ n g với n h iề u d ạ n g r ấ t đ ẹ p , n h ư n g q u a c h iế n tr a n h v à q u a n h ữ n g tiê u

cực c ủ a xã hội n ê n tro n g th ờ i g ần đây, c h ú n g đ ã bị đ ậ p bỏ ho ặc đ ã bị m ấ t cắp, k h iến m a i m ộ t g ầ n h ế t. M ột b á t h ư ơ n g đ iể n h ìn h về n g h ệ th u ậ t và đ ầy n é t sá n g tạ o ở đ ìn h Lệ M ật (Long B iên, H à Nội), đó là m ộ t b á t h ư ơ n g k ép 3, th e o th ế " ta m sơ n" b ằ n g gốm n u n g , m à ch ú n g ta ngờ là s ả n p h ẩ m B át T rà n g (Gia Lâm - H à Nội). Bát h ư ơ n g này nhỏ, b ề rộ n g tr ê n d ư ớ i 40 cm , cao x ấp xỉ 25 cm , m an g h ìn h th ứ c r ấ t độc đáo , q u ý h iế m , h ầ u n h ư ch ứ a đ ự n g m ộ t ý th ứ c sá n g tạo . Có th ể n g h ĩ là m ộ t sả n p h ạ m đ ặ t h à n g chứ ch ư a p h ải là sả n p h ẩ m s ả n x u ấ t h à n g lo ạt. K hoảng cuối th ế kỷ XIX v à tro n g th ế kỷ XX, ý th ứ c th ự c d ụ n g v à đơn g iả n h o á các b á t h ư ơ n g củ a đ ìn h th ư ờ n g đư ợc th ể h iệ n với h a i loại, đ ề u dưới d ạ n g h ìn h trụ , có v iề n n ổ i con c h ạ c h ở s á t ch â n , n h ữ n g b á t h ư ơ n g gốm m e n tr ắ n g v ẽ h o a v ă n m à u c h à m , th ư ờ n g có h ìn h lư ỡ ng long c h ầ u n h ậ t/n g u y ệ t, về

b á t h ư ơ n g đ ồ n g cũ n g g ầ n m a n g h ìn h th ứ c n h ư b á t h ư ơ n g gốm , n g ư ờ i ta tạ o r a đ ư ờ n g gân nổi ch ứ k h ô n g p h ả i v ẽ tr ê n gốm , th ư ờ n g có 3 ch â n , đôi khi có cả đế b ằn g đ ồ n g .

N h ữ n g c h â n n ế n có n iê n đ ại từ th ế kỷ XVIII v ề sau th ư ờ n g làm đơ n g iản b ằn g đ ồng, b ằn g gỗ m à n a y d ạ n g n à y v ẫ n cò n p h ổ b iến . N h ữ n g ch â n n ế n /đ è n củ a th ế kỷ XVI, XVII đ ã đ ạ t đ ư ợc g iá trị n g h ệ th u ậ t r ấ t cao. Đó là n h ữ n g câ y đ è n c ủ a th ờ i M ạc g iố n g n h ư ch iếc độc b ìn h , có b ụ n g v à c h â n là m ộ t khối riê n g , p h ầ n đ ầ u n h iề u khi là m ộ t khối riê n g k h ác, s ở d ĩ có h iệ n tư ợ n g n à y là do c h ú n g n h ư đ ã m a n g y ế u tố th ư ơ n g m ạ i. Các n h à n g h iê n cứ u n g h ệ th u ậ t d â n tộc học đ ã cho rằ n g ; h iệ n tư ợ n g m ộ t h iệ n v ậ t gốm lớn đ ầy đủ với sự g á lắp b ằ n g n h iề u bộ p h ậ n kh ác n h a u , đ ã m a n g tín h th ư ơ n g m ại, là đ ể tiệ n cho sự đ ó n g gói, d ễ v ậ n ch u y ể n đi xa, đ ồng th ờ i th íc h h ợ p vớ i sự sả n x u ấ t h à n g lo ạ t v à tín h c h u y ê n b iệ t. Đ ầu c ủ a n h ữ n g cây đ è n n à y là m ộ t khối trụ cao tr ê n dưới 10 cm , p h ía t r ê n hơ i lõm x u ố n g và m ặ t đ ứ n g (th à n h đ èn ) bao q u a n h đ ề u vẽ h a y g ắ n n h ữ n g c á n h se n v u ô n g m à tro n g lòng m ỗ i c á n h có v â n x o ắn

147

cù n g h o a cúc cá ch đ iệu , c ổ đ èn cũ n g là lá th iê n g , B ụng đ è n được v ẽ m ây cu ộ n v à m ộ t đặc đ iểm nổi b ậ t là được ngư ờ i đ ư ơ n g th ờ i đ ã tạ o n ê n m ộ t con rồ n g b ằn g đ ấ t s é t tr ắ n g lu y ện , th â n r ấ t dài đ ể d á n q u a n h b ụ n g đ èn . P h ần k h ô n g g ian n g ă n cá ch g iữ a đ ầ u v à đuôi rồ n g n h iề u khi đ ã đư ợc ghi n iê n đ ạ i và n g ư ờ i công đức cây đ è n cho các di tíc h cụ th ể , với h ìn h th ứ c c h ữ v iế t n à y th ư ờ n g là v ạ c h trê n th â n đ è n khi đ ấ t còn ẩ m sau khi đ ã h o à n c h ỉn h sản p h ẩm , trư ớ c khi n u n g . Vì th ế m é p c h ữ n h iề u k h i k h ô n g n h ẵ n n h ụ i (n h ữ n g n iê n đ ại th ư ờ n g gặp, đó là D iên T h à n h , Đ oan T hái, S ùng K hang củ a th ờ i M ạc), c ổ dưới củ a đ è n th ư ờ n g th ó t lại rồ i loe ch â n ra để tạ o m ặ t đ ứ n g v ữ n g chãi. Ở p h ầ n b ụ n g dưới v à cổ này cũ n g v ẽ cá n h se n v u ô n g , tư ơ n g tự n h ư p h ầ n đầu , so n g c á n h h o a th ư ờ n g cao hơ n. M ột số cây đ è n được làm th e o đơn đ ặ t h à n g h o ặ c n h ữ n g cây n h ỏ th ư ờ n g k h ô n g có rồ n g d án, c h ú n g được làm r ấ t kỹ v à h iế m có h iệ n tư ợ n g ỉắp ghép .

Ở cuối th ế kỷ XVI và tro n g th ế kỷ XVII n h ữ n g cây đ è n n à y có p h ầ n c h u y ể n h ó a th à n h d ạ n g trụ v u ô n g . Đ ỉn h c ủ a cây đ è n c ũ n g làm v u ô n g , có "tai" ở bốn góc. N gười ta làm đ ư ờ n g d iềm nổi b ằ n g k h u ô n rồi d á n vào đ ỉn h đ è n v à đ ầu trụ . Đ ế đ è n th ư ờ n g có lâ n p h ụ c. Một tro n g bốn m ặ t c ủ a tr ụ n h iề u khi k h ắc c h ữ ch ìm g h i tê n củ a di tíc h hoặc người cô n g đức. Ở n h ữ n g cây đ è n do lân đội này rõ rà n g đ ã m a n g tín h c h ấ t sả n x u ấ t h à n g lo ạt, y ế u tố th ư ơ n g m ại được sử d ụ n g , c h ú n g ta có th ể n h ìn n h ậ n n iê n đ ạ i củ a c h ú n g th ô n g q u a n h ữ n g h o a v ăn , m à ch ủ y ế u với n h ữ n g đao m ác tr ê n th â n c ủ a lâ n đội đ èn . Thời n à y có n h iề u sả n p h ẩm r ấ t đẹp, có loại ch ỉ cao 20 cm , có loại cao tr ê n 50 cm , c h ú n g th ư ờ n g được p hủ m e n trắ n g ng à, đ iể m m e n x a n h lá cây v à ho a v ă n d án k h ô n g m e n . T heo đ iề u tr a hồi cố, trư ớ c đ ây ở c h ù a Keo T hái Bình và c h ù a Bối Khê (khi cây đ è n n à y c h ư a bị m ất), các cụ già đ ịa p h ư ơ n g cho b iế t nó tư ợ n g trư n g cho á n h s á n g củ a P h ậ t P háp, được coi n h ư m ộ t b iể u

tư ợ n g , n ê n to à n bố cục củ a cây đ è n v ừ a hợp lý v à c h u ẩ n m ực v ề n g h ệ th u ậ t n h ư n g cũ n g hợp lý về cả y ế u tố tâ m lin h ...

P h ía sa u củ a b á t hư ơng, g ầ n n h ư là m ộ t sự b ắ t buộc, ở b à n th ờ c ủ a đ ìn h nào củ n g vậy, th ư ờ n g có m ộ t "ta m sơn"

(n h ữ n g ta m sơn c ủ a th ế kỷ XVII, XVIII h iệ n n a y đ ã bị m ấ t hết) m à chủ y ế u m an g n iê n đại c ủ a th ế kỷ XIX, XX. T ro n g n h ữ n g h ìn h th ứ c c ủ a h iệ n v ậ t loại n ày m à c h ú n g ta đ ã được tiế p cận, c h ú n g đư ợc coi n h ư m ộ t cái ỷ (ghế) tạ o n ê n b a cấp c h ê n h n h a u , th ô n g th ư ờ n g cấp ở g iữ a cao n h ấ t rồi tới cấp b ê n trái, các cấp n à y đ ề u có d ạ n g khối trụ v u ô n g b ằn g gỗ với tra n g trí các d ạ n g h o a lá c á c h đ iệu là ch ín h . T am sơn có n g h ĩa là qu ả n ú i 3 n g ọ n , người x ư a cũ n g cho rằ n g , đó là b ó n g d á n g củ a m ộ t trụ c vũ tr ụ n ố i g iữ a trờ i v à đ ấ t. T ín h th ự c d ụ n g củ a đư ơ ng thời đ ã tạ o cho m ặ t tr ê n củ a 3 " đ ỉn h n ú i" là 3 m ặ t v u ô n g để đỡ 3 ch iếc đài. Mỗi đài th ư ờ n g có p h ầ n th â n và n ắ p h ìn h trụ trò n , n ú m h ìn h b ú p se n , tro n g m ỗi đ ài th ư ờ n g đ ể m ộ t c h é n nước th iê n g , đó là nước m ư a h o ặc nước g iến g . H iện n ay tro n g m ộ t số di tíc h n h ư ở đ ề n , đ ìn h P hù Đ ổng v à m ộ t số đ ìn h kh ác (ứ n g Hoà, H à Nội), c h ú n g ta v ẫn còn tìm được n h ữ n g chiếc đài cao x ấp xỉ 20 cm v à c h â n đế c ũ n g cao k h o ản g 10 cm được chạm n h ữ n g h o a v ă n c ủ a th ế kỷ XVII. Đ ằng sau " ta m sơn" th ư ờ n g là m ộ t ch iếc đ ỉn h tr ò n có n ắp . C hính tâ m là m ộ t con lân đ ặ t ở đ ỉn h n ắ p tro n g th ế n g ồ i q u ay ra ngoài. H ai ta i c ủ a đ ỉn h là m ây cu ộ n hoặc rồ n g , đ ỉn h trò n th ư ờ n g có 3 ch ân ; (m ột trư ớ c, h ai sau), tr ê n đ ầ u b ắ p c h â n th ư ờ n g là h ìn h m ộ t bộ m ặ t củ a q u ái v ậ t n h ìn c h ín h d iệ n , n h ư m ộ t m ặ t hổ p h ù v à p h ầ n dưới th e o k iểu ch â n quỳ. Đ ỉn h n ào c ũ n g được đ ặ t tr ê n m ộ t đ ế trò n th ấ p , c ũ n g có 3 ch â n . T ấ t cả các đ ỉn h tro n g đ ìn h h iệ n n a y ch ủ y ếu đ ề u được làm b ằ n g đ ồ n g . N gười x ư a th ư ờ n g q u a n n iệm , con lân ở n ắ p đ ỉn h n h ư đ ã m a n g tư cách tư ợ n g cho tầ n g trờ i (tần g trê n ), m ộ t b iể u tư ợ n g c ủ a t r í tu ệ , n ê n nó n h ư có chức n ă n g

149

k iểm s o á t tâ m h ồ n kẻ h à n h h ư ơ n g ..., n ắp đ ỉn h h ìn h m u i lu y ện (d ạ n g lợi c h ậ u ú p , có đục khe cân x ứ n g đ ể th o á t khói). Tai đ ỉn h là n h ữ n g b iể u tư ợ n g của các lực lư ợ ng tự n h iê n tro n g ý th ứ c c ầ u m ư a , g ắ n với sự sinh sôi th u ộ c tư duy n ô n g n g h iệ p (còn c h â n đ ỉn h là h ìn h tư ợ n g m ộ t con quỳ h ìn h con v ậ t chỉ có đ ầ u liề n m ộ t c h â n , đ ã được n h ắc tới từ đời K hổng Tử, với ý n g h ĩa tư ợ n g tr ư n g cho sự x u ấ t h iệ n củ a T h á n h n h â n ). Suy cho c ù n g , tr o n g n h ữ n g n g à y hội, với khói trầ m bay lê n c ũ n g m an g tư c á c h th ô n g lin h v à tạ o n ê n n é t uy n g h i cho T h à n h h o à n g làn g . Vào cu ố i th ế kỷ XIX và th ế kỷ XX, đ ã có h iệ n tư ợ n g c h u y ể n từ đ ỉn h 3 c h â n sa n g đ ỉn h 4 chân. T ro n g h ìn h th ứ c này, n h iề u đ ỉn h c ũ n g đư ợc tra n g trí b ằn g các đ ề tà i nổi h o ặ c chìm , đôi k h i là b iể u tư ợ n g m a n g y ếu tố Dịch học, với h ìn h b á t quái:

K iền, K hảm , c ấ n , C hấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Ở m ặ t b ên th ư ờ n g có n h ữ n g h ìn h tra n g trí tứ linh, tứ h ự u h o ặ c n h ữ n g c ả n h liê n q u a n tớ i các th á n h n h â n với h ìn h th ứ c " tiê n p h o n g đ ạo c ố t" ... N goài ra , cò n rấ t n h iề u d ạn g đ ỉn h k h ác được cú n g vào đ ìn h , đó là s ả n p h ẩ m của các h iệp th ợ đú c đ ồ n g ở H uế v à r ấ t n h iề u nơ i k h ác , n h ư n h ữ n g đ ỉn h h ìn h trá i đào, đ ỉn h đ ứ n g tr ê n cóc, h o ặ c dư ới n h iề u d ạn g khác n h a u , su y cho cù n g ý n g h ĩa khở i n g u y ê n c ủ a ch ú n g v ẫ n ít khi th a y đổi. Ở th ờ i g ian n ày , tạ i m ộ t số đ ìn h (N gự T riều Di Quy, c ổ Loa, H à Nội), p h ầ n n à o do c h ịu ả n h h ư ở n g củ a T ru n g H oa hay do c h ín h n g ư ờ i H oa c ú n g tiế n m à có m ộ t số đ ỉn h k hông m a n g d ạ n g trê n . C húng k h ô n g có c h â n q u ỳ m à chỉ có m ộ t con rồ n g u ố n th â n đội đ ỉn h . N h ữ n g đ ỉn h n à y k h á đ ẹ p , song c h ú n g v ư ợ t ra n g o à i n h ậ n th ứ c tâ m lin h q u e n th u ộ c c ủ a người Việt, bởi c h ú n g có p h ầ n m a n g tín h á p c h ế với n g h ệ th u ậ t n ằm n g o ài d ò n g tru y ề n th ố n g .

Ở m ộ t số đ ìn h có vị th ầ n linh th ư ợ n g đ ẳ n g v à có sự th a m g ia c ủ a tầ n g lớp N ho sỹ, th ì n h iề u khi, đ ằ n g sa u đ ỉn h còn để m ộ t b á t h ư ơ n g /đ in h tr ò n bè, th ấ p , d ạn g b a ch ân , ta i là h ai m ặ t

hổ n ổ i v ừ a phải, c ũ n g có ch ân m an g h ìn h tư ợ n g c ủ a con quỳ, đó là "B àn trò n T h ái cực". H ầu n h ư m ọi h iệ n v ậ t n à y đ ề u làm b ằn g đồng, h ã n h ữ u có khi được làm b ằ n g gỗ (h iệ n n a y c h ư a tìm được m ộ t h iệ n v ậ t tư ơ n g ứ n g nào đư ợc là m b ằ n g đ á và gốm ). N hữ n g trư ờ n g hợp này th ì c h ấ t liệ u đ ồ n g đ ã đ ả m bảo cho y ế u tố lin h th iê n g (như đ ã trìn h bày ở trê n ), cò n đ ĩn h gỗ th ì ch ắc c h ắ n p h ả i là gỗ m ít v à được sơ n m à u h u y ế t dụ, được v iền v à n h đ e n ở m iệ n g , n h ư th ế , h iệ n v ậ t gỗ n à y đ ã m a n g ý n g h ĩa về tr í tu ệ v à sin h lực th iê n g liê n g ... T h ự c ra, h iệ n v ậ t n ày n h ư m ộ t b iể u h iệ n v ề sự đóng góp c ủ a y ế u tố N ho giáo.

T uy n h iê n , với n g ư ờ i d â n b ìn h th ư ờ n g th ì ý n g h ĩa sâ u x a củ a nó k h ô n g m ấy đư ợc q u a n tâm , m ặc dù nó m a n g y ế u tố dịch học, tự th â n n h ư tư ợ n g cho th á i cực, th á i cực v ậ n đ ộ n g tạ o cho âm d ư ơ n g n ả y sin h , đó là lư ỡ ng nghi, n h ư h a i ta i c ủ a h iệ n v ậ t, từ đó m à m u ô n loài m u ô n v ậ t p h á t sin h . Đ ằ n g sa u " b à n trò n th á i cực" th ư ờ n g là n g ai v à bài vị, đ a số n h ữ n g n g a i c ủ a đ ìn h được làm r ấ t cẩ n th ậ n , với ta y n g ai n g a n g v a i c ủ a b à i vị, c ũ n g n h ư n g a n g vai củ a vị th ầ n N hữ ng n g ai b ằ n g gỗ sớm nhất, của nư ớc ta, h iệ n n a y còn tìm được có n iên đ ạ i v ào k h o ả n g th ế kỷ XVI (đình Đ ông K ết, H ư n g Yên).

N gười x ư a c ũ n g th ư ờ n g tạo ra g iữ a h ệ th ố n g đồ th ờ b ằ n g m ộ t vách n g ă n , tạo n ê n m ộ t h ậu c u n g th â m n g h iê m . T ro n g trư ờ n g hợp này, n g a i có bài vị được đ ặ t n g a y tr ê n b ụ c g iư ờ n g th ò tro n g h ậ u c u n g , đ ồ n g thời phía trư ớ c m ặ t n g a i c ũ n g để m ộ t b á t h ư ơ n g , k h o ả n g g iữ a b á t h ư ơ n g v à n g a i có h ò m sắc củ a v u a các th ờ i nối n h a u p h o n g cho th ầ n . Ở các đ ìn h có n h iề u T h à n h h o à n g làn g th ì có n h iề u n g ai k h ác n h a u v à th ư ờ n g được đ ặ t n g a n g b ằ n g ở tro n g h ậ u cung, song, v ị th ầ n c h ín h b ao giờ c ũ n g có b à i vị to hơ n, ch iếm lĩnh vị tr í tr u n g tâ m . T rê n bước đ ư ờ n g trô i chảy c ủ a th ờ i gian, người x ư a cò n đ ặ t lê n b à n th ờ n h iề u h iệ n v ậ t k h á c n h a u n h ư lọ hoa, m â m b ồ n g , đó là b iể u

151

h iệ n v ề sự h iể u b iế t tro n g qu ần c h ú n g còn h ạ n ch ế, n ê n cách sắp đ ặ t đó v ư ợ t q u a n g u ỵ ê n tắc, dẫn tới vị tr í của các h iệ n v ậ t n ày k h ô n g cố địn h , c h ú n g chỉ p h ả n á n h m ộ t tin h th ầ n sù n g k ín h củ a n h â n g ian m à thôi.

N hìn ch u n g , n h ữ n g đồ thờ k hông chỉ có ở b a n th ờ ch ín h m à còn được p h â n bố ở n h iề u b à n th ờ khác n h a u , m ỗ i b à n th ờ đ ề u có cả h ư ơ n g lẫ n n ế n , song chỉ b à n th ờ ch ín h d à n h riê n g cho th ầ n với sự sù n g k ín h cao đ ặ t ở h ậ u cu n g là còn h ò m sắc, h ộp m ũ, hộp đai, th ậ m chí cả hộp đ ự n g q u ầ n áo th ờ v à ngai, bài vị. T ro n g n h iề u trư ờ n g hợp ở n h ữ n g h ậ u cu n g cổ tru y ề n m a n g tín h c h ấ t lử n g th ì cơ b ản đồ th ờ được để tr ê n sập , Ỷ th ấ p , n h ư n g ở n h ữ n g h ậ u cung k h ô n g sử d ụ n g sàn lử n g th ì đồ th ờ th ư ờ n g đ ặ t tr ê n b à n cao.

T ro n g n h ữ n g k iến trú c cổ tru y ề n , chủ y ếu ở đ ầ u th ế kỷ XVIII tr ở v ề trư ớ c, m ặ t b ằng cơ b ản củ a đ ìn h th ư ờ n g m an g d ạ n g c h ữ N h ất m à c h ú n g ta có th ể th ấ y đ iể n h ìn h n h ư đ ìn h Tây Đ ằng, đ ìn h T h ụ y P hiêu, đ ìn h C hu Q uyến, đ ìn h D iềm , đ ìn h Thổ H à th ì sà n lử n g th ư ờ n g được làm k h á cao và chỉ c h iế m vị trí ch ủ y ế u từ h a i cộ t cái tro n g chạy đ ế n cột q u â n h ậ u , với m ặ t sàn có th ể cao tới 2m v à p h ần th ờ T h á n h được b ư n g k ín b ằn g v á n gỗ, m ặ t trư ớ c có từ 4 đ ế n 6 c á n h cử a th ờ đư ợc ch ạm th ủ n g với n h iề u đ ề tà i n g h ệ th u ậ t củ a đ ư ơ n g thời, đ ủ tạ o n ê n m ộ t á n h sá n g h u y ề n ảo nơi T h à n h h o à n g làng n g ự . Người đ ư ơ n g th ờ i lu ô n có ý th ứ c xác n h ậ n vai trò củ a T h à n h h o à n g làn g với d â n c h ú n g , n ê n đã tạo ra ở p h ía trư ớ c m ặ t c ủ a h ậ u cu n g m ộ t sà n th ờ rộ n g k h o ản g tr ê n lm , sàn n ày tỳ lực tr ê n h ệ x à rầ m cử a h ậ u cu n g , đó là 2 x à nối từ cột cái ra đ ầ u h a i trụ p h ụ ở p h ía trư ớ c. Đ ầu h a i trụ n à y lại được nối với n h a u bởi m ộ t x à lớn, tạ o n ê n m ộ t k h u n g sà n p h ụ h ìn h chữ n h ậ t. T hông th ư ờ n g tr ê n đ ầ u h a i cộ t p hụ người ta cũ n g tra n g tr í h ế t sức đơn g iản , dưới d ạ n g đ ấ u "n ắm cơm " hoặc dưới d ạ n g lâ n ch ầu .

Một phần của tài liệu Đình làng Việt (Châu thổ Bắc Bộ) (Trang 179 - 195)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(222 trang)