Những bộ phận chạm khắc trên kiến trúc

Một phần của tài liệu Đình làng Việt (Châu thổ Bắc Bộ) (Trang 147 - 179)

CHẠM KHẮC Ở ĐÌNH LÀNG

3.1. Tượng tròn trong đình

3.2.2. Những bộ phận chạm khắc trên kiến trúc

N hư p h ầ n tr ê n đã trìn h bày, kiến trú c h iện còn của người Việt ít n h iề u g ắn với tô n giáo tín ngưỡng, tro n g lĩnh vực tâm linh ít n h ấ t ch ú n g lệ thuộc vào hai n é t lớn: th ứ n h ấ t chư a đẩy th ầ n linh lên cao, th ứ hai là tín h dàn trải th eo m ặ t bằng, kể cả n h ữ n g hạn chế khác n h ư c h ấ t liệu co bản là đá, gỗ và k ết cấu của kiến trú c th ư ờ n g dưới d ạn g lắp ghép. Ngoài ra còn n h iều điều kiện khác n ữ a khiến cho các th à n h p hần cấu kiện của kiến trúc thực sự ít b ề n vững, h ìn h thứ c của chú n g th ư ờ n g n g ắn và m ập. Một trớ trê u củ a bộ k h u n g này là không tạo được sự th a n h th o át, n ê n đã làm h ạ n chế giá trị n ghệ th u ậ t kiến trúc.

Đổ giải q u y ế t "m âu th u ẫ n " này, tro n g kiến trúc, ngoài m ột số ít được ch ạm khắc th ẳ n g vào các cấu kiện, th ì chủ y ếu các m ả n g ch ạm khắc chỉ n ằm ở k ết cấu g h ép vào. Đ en thời Mạc, chạm khắc trê n kiến trú c gỗ n h ấ t là ở ngôi đ ìn h tìm th ấ y được n h iều hơn. Tuy n h iên , về cơ bản, ch ú n g v ẫn chủ yếu n ằm trê n các bộ p h ậ n g ắ n vào kiến trú c là chính, thời này cũng đã th ấy x u ấ t h iệ n n h iề u d ầ n h iện tư ợ ng đục th ẳ n g vào cấu kiện n h ư chạm tr ê n bẩy, v á n dong, trê n n h ữ n g con chèn, con chống, đấu ba chạc... Đ ồng thời đã tìm được khá n h iều đ ầu dư đội b ụ n g câu đ ầu có chạm trổ . Còn trê n n h ữ n g rường, cột, câu đầu vẫn hiếm

125

có dấu v ế t chạm khắc n ghệ th u ậ t, ngoài m ộ t vài v ân xoắn lơn ở các đ ầu rư ờ ng củ a vì nóc và cốn. Tình trạ n g n h ư n ê u trên , về cơ bản, cũ n g vẫn th ấ y ở các th ế kỷ sau. Song, từ n ử a cuối th ế kỷ XVII, ngoài n h ữ n g v ân xoắn lớn nổi khối ở các đ ầ u rường th ì h ìn h tư ợ n g đao m ác cũng đ ã x u ấ t h iện ở p h ần đ ầ u câu đ ầ u của đình, dù cho th ự c sự chư a n h iề u lắm . Đôi khi ở p h ầ n giữ a m ặt b ên củ a câu đ ầu cũng đã th o á n g có h ìn h chạm , n h ư m ộ t bông cúc cách điệu m ã n khai, hay m ột đề tài nào đó, v ừ a đủ, để trá n h đi sự khô cứng của cấu kiện.(1)

C àng về sau, vào th ế kỷ XVIII và XIX th ì p h ầ n đ ầu qu á giang củ a đ ìn h đã được chạm n h iều hơn, rộng hơ n và lan dần vào giữa, h àn g chữ ghi về n iên đại của đ ìn h hay m ộ t dòng chữ m an g yếu tố ước vọng n h ư "Càn, N guyên, H anh, Lợi, Trinh" trở n ên phổ biến hơn. H ình th ứ c chữ ghi n iên đại khởi dự ng hoặc tu bổ cũng tìm được ở dạ xà nóc. về cơ bản từ giữa th ế kỷ XIX trở về trước, ở m ặ t b ên th â n của câu đầu hoặc q u á g ian g hiếm có h iện tư ợ n g chạm kín đặc m à chủ y ếu chỉ đ iểm x u y ế t ở hai đầu và tru n g tâ m (hãn h ữ u có m ột vài đ ư ờ ng chỉ soi ở m ép).

Cuối th ế kỷ XIX đầu th ế kỷ XX đôi khi cũ n g đ ã gặp được h iện tư ợ n g chạm g ần kín m ặ t b ên của qu á giang, x à nách và m ặ t b ên xà đai/xà lòng.

H iện tư ợ ng n ê u trê n đây n h ư m ộ t dòng ch ảy chung của chạm khắc trê n kiến trú c Việt. Song ở th ế kỷ XVII, tr ê n m ột số di tích, ý th ứ c ch ạm trổ ở m ặ t n g o ài của kiến trú c đ ã được q u an tâ m đặc biệt, m à ch ủ yếu th u ộ c m ấy v ù n g vốn v ẫ n nổi tiến g về n g h ề chạm n h ư tại N am Đ ịnh với cửa đ ề n Xám, đ ề n Trần K hát C hân (T hanh Hóa)...

(1> Trong một số trường hợp đặc biệt, như ở đình Hung Lộc (Nam Định), ? rường vì nóc kê sát vào nhau, tạo thành một mặt phẳng đã đuợc chạm khắc lon đặc các hình tượng rồng.

3.2.3. Đề tà i chạm khắc cơ b ản của đình Thời M ạc (thế kỷ XVI)

H iện nay, các n h à n g h iên cứu v ăn hóa n g h ệ th u ậ t mới chỉ tìm được n h ử n g ngôi đinh có n iê n đại từ th ế kỷ XVI về sau. Vì th ế khi b àn về chạm khắc, ch ú n g tôi chỉ có th ể m ở cuộc "hành hương" vào lĩn h vực này từ thời Mạc.

Từ thời Lê sơ về trước hầu n h ư ch ú n g ta chư a tìm được m ột kiến trú c đầy đ ủ nào để b iết được n g h ệ th u ậ t chạm khắc trê n đó.

Chỉ tới n ử a cuối th ế kỷ XVI dưới thời Mạc mới gặp được m ột số ngôi đ ìn h (và chùa) để n h ậ n b iế t về n h ữ n g giá trị của n g h ệ th u ậ t ch ạm khắc. Trước h ết, chính từ chạm khắc của thời Mạc m à có th ể n g h ĩ tới th ờ i Lê sơ n h ư m ộ t giai đ oạn bản lề chuyển đổi từ phong cách n g h ệ th u ậ t chịu n h iề u ản h hưởng của phư ơng Nam, với gốc Ân Độ, sang m ột phong cách chịu ản h hư ởng n h iều của phư ơ ng Bắc với gốc T rung Hoa. Tuy n h iê n dưới th ế kỷ XV, thực sự h iệ n nay m ới chỉ tìm th ấy n g h ệ th u ậ t chạm khắc p h ần nào g ắn với n h ữ n g kiến trú c của triề u đ ìn h m à chư a th ấy m ở rộng ra xã hội, ch ú n g chỉ đủ sức tạo sự san g tra n g cho tạo hình. Trong 100 n ă m dưới thời Lê sơ, sự p h á t triể n của n g h ệ th u ậ t chạm khắc có bị h ạ n chế, nó xa lìa d ần với tru y ền th ố n g Lý v à Trần.

Song, thời n à y cũ n g không h o àn to àn dập khuôn m ỹ th u ậ t T rung Iloa, mà mặt nào tự nó cũng tạo điều kiện cho một dòng nghệ th u ậ t có p h ầ n p h ả n á n h tâ m th ứ c g ắn với vũ trụ v à n h â n sinh của d â n tộc, c h ú n g b ắ t buộc p h ải V iệt hó a để phù hợp và tồ n tại.

Ở th ờ i Mạc, n g h ệ th u ậ t ch ạ m khắc nổi b ậ t trê n kiến trú c với ch ấ t liệu gỗ, h ìn h th ứ c này được diễn ra ở bộ vì nóc, cốn, lá gió, các đ ấu , con ch ồ n g kiểu cán h gà... Kiến trú c đ ìn h ở thời n ày hầu n h ư ch ư a có tư ờ n g bao v à h ệ th ố n g ván b ư n g ở ngưỡng, nên n g h ệ th u ậ t ch ạ m khắc chỉ n h ậ n b iế t được g ắn với các bộ p hận chính (hiện tư ợ n g chạm th ẳ n g vào các kết cấu củ a kiến trú c vẫn

127

còn h ạ n chế). T rong n h ữ n g đ ìn h được xác n h ậ n vào n iê n đ ại th ờ i M ạc có m ộ t số h ìn h tư ợ n g th ư ờ n g x u y ê n gặp, đó là rồng.

C h ú n g đư ợc th ể h iệ n ở ván lá đ ề củ a vì nóc, ở các đ ầ u dư, đ ầu đ ò n ta y kê tr ê n đ ấ u b a chạc làm nơi "ngồi" của các th iê n th ầ n , rồi ở các co n chồ n g kiểu cán h g à đầu cột quân , n h iề u khi cũ n g g ặp c h ạ m nổi tr ê n v á n lá gió n h ư dưới d ạ n g cá ho á rồ n g ch ầu m ặ t trờ i k iểu h o a cúc cách đ iệ u (như ở đ ìn h Lỗ H ạn h , Bắc G iang), h a y đôi rồ n g cuộn th â n với n h a u ở cốn để n â n g m ộ t ch iếc h o à n h phi đề "H oàng đế v ạ n tu ế". T ất cả n h ữ n g con rồ n g tr ê n gỗ n à y đa p h ần đ ã Việt h ó a kh á m ạn h m ẽ, dù cho m ặ t nào v ẫn có d á n g dấp rồ n g thời Minh. So với thời Lê sơ th ì c h ú n g ấm áp h ơ n với m ắ t to hơn, m õm n g ắ n lại, th â n m ập, đặc b iệt có n h ữ n g đao m ản h , dài lượn sóng n h ẹ bay ra từ m ắt và khuỷu rồi đè lê n th â n , chạy về phía sau.

về n h ữ n g đề tài khác, n g o ài h ìn h tư ợ n g rồng, ch ú n g ta cũng đã gặp được một số phượng chạm trên gỗ như ở đình Tây Đ ằng. Đó là đôi p h ư ợ n g m úa tr ê n n ề n củ a n h ữ n g cụm v â n xoắn dưcri d ạ n g dây leo. H ình tượng n ày được lồng tro n g v án lá đ ề của vì nóc. Tại vị trí này, ở chùa Bối Khê có đôi phượng cũ n g đ ã tạc tro n g lá đề, song được diễn ra dưới d ạn g n g ậm hoa. Người xư a th ể h iệ n ch ú n g với n h ữ n g động tá c khá sin h động, con cao con th ấ p , m ở rộ n g hai cánh, m à phối hợp giữ a h ai con tạo th à n h m ột đ ư ờ n g v iề n n g h ệ th u ậ t viên m ãn . Phượng đã vượt ra ngoài k h u ô n khổ có tín h n g u y ê n tắc q uy p h ạm củ a các thời gian trư ố c v à sau . M ột con p h ư ợ n g khác đầy tín h c h ấ t dân gian đ ã được làm ở vì nóc đ ìn h Thổ Hà, trê n m ặ t n g o ài v án lá đề và k hông m ộ t chi tiế t p h ù trợ. Con p h ư ợ n g đ ứ n g c h ê n h v ên h , m ộ t m ình, tro n g tư th ế m ú a . Người ta có cảm giác đ ầ u phư ợ ng gần gũi với đ ầu quạ cách đ iệu , th â n nhỏ, trơn, ch ân th ấp , h ai cánh d an g rộ n g lưa th ư a v à i chiếc lông, b a dải lông đuôi q u ặ t ngược bay lên trê n . T hự c sự h ìn h tư ợ n g rấ t đơn g iản n h ư n g bố cục lại khá c h u ẩ n m ự c với n é t khái q u á t cao, đầy gợi cảm .

T h â n trí tu ệ (ngườ i và lân), đìn h P h o n g C ố c , Q u á n g N in h , T K XVII

( T ư liệu: V M T ) Lân, đ ìn h T r ù n g T h ư ợ n g ,

G a V iễn, N in h Bình, T K XVII ( T ư liệu: V M T )

V ẹt, đình Phú G ia, T ừ Liêm , H à N ộ i, TK XVII ( T ư liệu: T ạ p chí Di sán V ă n hóa)

C h ạ m khắc rồng, đình A n c ố , T hái Bình, T K XVII ( T ư liệu: V M T )

C h ạ m k h ắ c rồ n g , đình An c ổ , Thái Bình, T K XVII ( T ư liệu: V M T )

T rị tội, đình P h ư ơ n g C hâu, Ban nguồn sữa ngọt, đ ìn h V ĩn h T ư ờ n g , B a Vì, H à N ội, T K X V I I Vĩnh Phuc, TKL X V IĨ

( T ư liệu: V M T ) ( T ư liệu: V M T )

Đ ấ u thú, đình T â y Đ ầ n g , Ba Vì, H à N ộ i, T K X V I ( T ư liệu: V M T )

Ph ư ợ n g , trên bộ vì n óc, đ ìn h L ỗ H ạ n h , H iệp H òa, Bắc G ia n g , T K XVI ( T ư liệu: V M T )

L ân trên vì nóc , đình T h ô Hà, Việt Y ê n , Băc G ia n g , T K X V II ( T ư liệu: V M T )

B ản vẽ rồng, lân, đ ìn h Lồ H ạnh, H iệp Hòa, Bắc G iang, T K XVỈ ( T ư liệu: V M T )

P h ư ợ n g trê n sập thờ, đ ì n h P hú Gia, T ừ L iê m , Hà N ộ i, T K X V II ( T ư liệu: T ạ p chí Di sản V ă n hóa)

B ản rập p h ư ợ n g trêr bộ vì, đình T h ổ Hà, Bắc G iang T K X V I I

( T ư liệu: V M T

H ư ơ u , đ ìn h L ỗ H ạnh, H iệp H ò a , B ắ c G i a n g , T K X V I

( T ư liệu: V M T )

N g ự a thần, đ ìn h Tá/ Đằng, B a Vì, H à N ội, TC X V I

( T ư liệu: V M ')

R ồng, trên cửa, đ ìn h Lỗ H ạnh, H iệ p Hòa, B ắ c G ia n g , T K XVI (T ư liệu: V M T )

Lào N h â n v à b à Đ a n h , đình T â y Đ ằ n g , B a V ì, H à N ội, T K X V I ( T ư liệu: V M T )

M ối tình thần thánh, đ ìn h T â y Đ ằ n g , Ba Vì, H à N ộ i, T K X V I ( T ư liẹu: V M T )

C á c h u n g đầu, đ ìn h C a m Đ à, B a Vì, 1 ỉà N ộ i, T K X V I ( T ư liệu: V M T )

P h ư ợ n g , đình T rà c ổ , Q u a n g N inh, T K XV Ii ( T ư liệu: V M T )

T h ú vui đùa, đình T rù n g H ạ, G ia V iễn, N in h Bình, T K X V I 1 (T ư liệu: V M T )

C h è o t h u y ề n , đình H ư ơ n g C a n h , C h è o th u y ền , đình C a m Đ à, C h è o th u y ề n , đ ì n h H o à n h Sơn, B ình X u y ê n , V ĩn h P húc, T K X V II B a Vì, Hà N ộ i, T K X V II N g h ệ A n, T K X V III

( T ư liệu: V M T ) ( T ư liệu: V M T ) ( T ư liệu: V M T )

T ắ in tiê n , đ ìn h Đ ô n g V iên, Hà N ộ i, T K X V I 1 ( T ư liệu: V M T )

Vi nóc, đ ìn h Q u a n L ạn, Q u ả n g N inh, T K X IX ( T ư liệu: V M T )

B à n thờ, đình Phú G ia, T ừ Liêm , H à Nội, T K X V Iỉ ( T ư liệu: T ạ p chí Di sản V ăn hóa)

R ồ n g , sập thờ, đình P h ú G ia , T ừ Liêm , H à N ộ i, T K X V ĨĨ ( T ư liệu: T ạ p chí Di sản V ă n hóa)

Bài vị, đình T h ố Khối,

Giía L âm , N ộ i, T K XVII ( T ư l iệu: T ạ p chí Di sản V ăn hóa)

Cửa v õ n g , đình D i ề m ,

Bắc Ninh, T K X V II ( T ư liệu: V M T )

Bài vị, đình T r ư ờ n g Lâm , L o n g Biên, Hà Nội, T K X IX ( T ư liệu: T ạ p chí Di sản V ă n hóa)

C ử a vòng, đ ìn h T r à c ổ , Q u ả n g Ninh, T K XVII ( T ư liệu: V M T )

R ồng trên y m ô n , đình K iền Bái, K iến T hụy, Hải P hòng, T K X V II ( T ư liệu: V M T )

C ử a võng, đì n h D iề m, Bắc Ninh, T K X V I I ( T ư liệu: V M T )

M ột h ìn h th ứ c dân gian khác lại được th ể h iện ở con p h ư ợ n g củ a đ ìn h Lỗ H ạnh, con chim th iê n g này được bố cục th eo d ạn g n h ìn nghiêng, m ỏ không khoằm , m ắ t giọt lệ, th â n trò n nổi m ập, rấ t g ần gũi với con chim nước. Đuôi là n h ữ n g cụ m vân xoắn được tỏ a ra k ết hợp với n h ữ n g vân xoắn khác tạo th à n h n ền th iê n g liêng cho phượng. Có th ể còn tìm thấy, đó đây, n h iề u con Dhượng khác nữa, n h ư n g suy cho cùng rõ ràn g ở th ờ i Mạc, qua p hư ợ ng, m ộ t tin h th ầ n nghệ th u ậ t đã n h ư tự do p h ó n g khoáng m u ố n vư ợ t ra ngoài khuôn khổ để hòa vào n h ữ n g "th ổ n thứ c"

đời th ư ờ n g .

C ùng với phượng là hạc, chúng được th ể h iệ n rấ t ít. Lần đ ầu tiê n đ ã tìm được trê n m ột bộ p h ận ván gió củ a đ ìn h Lỗ H ạnh. Hạc đ ứ n g n g hiêm chỉnh, phần nào có n é t q uy p h ạ m v à có bố cục tư ơ n g đồng với n h ữ n g con hạc của thời sau, song h ầ u n h ư ch ư a th ấ y h iện tư ợ n g đứ ng trê n rùa. Thời này củ n g x u ấ t h iện n h ữ n g con chim nhỏ m an g h ìn h thức khá thự c, c h ú n g chỉ có tín h c h ấ t đ iểm x u y ết vào m ảng chạm , như tại đình Lỗ H ạn h có con chim th iê n q đ ang m ổ môi lân.

H ình tư ợ ng lân được th ể hiện khá nhiều. C húng có m ặ t ở đầu bẩy v à trê n m ộ t số bộ p hận kiến trú c khác. Tại đ ìn h Tây Đ ằng, lân được tạc trê n m ặ t n ền của đầu bẩy cù n g v á n dong.

C húng h á m iệng n g ậm đế chiếc đấu đỡ hoàn h m ái g iọ t gianh.

H iện nay, đ a số lân đình Tây Đằng đã bị xén h o ặc xẻ đ ầu để tạo m ộ n g n g o àm đỡ tà u m ái. Chính hiện tư ợ n g n ày đ ã cho ch ú n g ta h iể u m ộ t cách kh á chắc chắn rằn g ngôi đ ìn h Tây Đ ằng của thời Mạc h ầ u n h ư chư a có tà u m ái, có n g h ĩa là ch ư a có k ế t cấu góc m ái cong lệ th u ộ c vào tà u m ái (như p h ần kiến trú c đ ã đề cập tới), về h ìn h tư ợ n g lân n h ư đã b ắt đầu chịu ả n h h ư ở n g n h iề u hơn của p h ong cách T rung Hoa vói m ắ t quỉ, m iện g sói, cổ rắn, vẩy cá chép, chân m óng guốc... chúng được làm ở đ ầ u bẩy n h ư để b iểu tư ợ n g cho tần g trời cho tính th iê n g v à v ẫ n m a n g sức

129

m ạn h trí tu ệ của tầ n g trê n nhằm kiểm so át tâ m h ồn kẻ h à n h hương khi tới đình. T rên lĩnh vực tạo hình, n h iều lân được tạc dưới d ạn g n h ìn th ẳ n g từ trê n xuống. Các chi tiế t được th ể hiện rõ rà n g để ta th ấ y ch ú n g gần gũi với d ạng "sư tử hí cầu " của T rung Hoa. M ột số con lân khác được th ể h iện có n h iều y ế u tố d ân gian, n h ư đôi lân ngồi chầu m ặ t trời th eo kiểu chó ở trê n đ ìn h Lỗ H ạnh. Có th ể coi n h ư đây là m ột bố cục sớm n h ấ t củ a đề tài này. Lân có th â n chắc lẳn, thon, cao, sự th iê n g hóa chỉ được đ ặ t vào m ộ t vài chi tiế t kèm theo n h ư ở các biểu tư ợ n g v â n xoắn, m ặ t trời... H oặc lân ở đ ìn h Thổ H à lại được th ể h iện với th â ne • * • • dạn g đứng, đ ầu chim , có m ỏ, phải chăng đó là m ộ t sự phối hợp của tư d uy liên tư ở n g d ân dã ở đương thời - m ộ t dấu ấ n rơi rớ t từ n g h ệ th u ậ t còn ả n h hư ởng từ phương N am (có gốc An Độ). Trong h ìn h th ứ c này, lân được đ ứ n g chầu vào ván lá đề chạm rồ n g ở vì nóc, và n h ư th ế, nó cũng n h ư m ột biểu tư ợ n g tro n g sự phối hợp các linh khí củ a tầ n g trê n .

T rong h ệ bốn chân, chú n g ta cũng còn tìm được m ộ t số con v ậ t khác, ch ẳ n g h ạ n n h ư n gự a với đao khuỷu bay chéo lên phía lưng (đình Tây Đ ằng) v à được th ể hiện n h ư chiếc cánh, nó gần gũi với h u y ề n th o ại là linh v ậ t cõng á n h sáng, là á n h sá n g hay m ộ t b iểu tư ợ n g của n g u ồ n p h át sáng. H ình tư ợ n g n g ự a có đao bay từ khuỷu ch ân trước (gần gũi với cặp cánh) còn tìm đựơc ở trê n gạch củ a ch ù a T răm Gian (Chương Mỹ, H à Nội), ch ù a sổ (T hanh Oai, H à Nội), n h a n g án chùa Bút T háp (T huận T hành, Bắc Ninh), ở cửa đ ề n T hiên H ậu (H ưng Yên)... C hính "đôi cánh này" đ ã tạo cho n g ự a vư ợ t ra ngoài con v ậ t b ìn h th ư ờ n g . Cùng với n g ự a còn tìm th ấ y n h ữ n g con hươu th ể h iệ n dưới các dạn g khác n h a u tro n g th ế động, đa số ch ú n g được n ằm lọt tro n g m ộ t v ân x oắn lớn, m à n h ư cố giáo sư Từ Chi đ ã ngờ rằn g , cũng n h ư ngự a, ch ú n g là b iểu tư ợ n g của án h sán g hay n g u ồ n p h á t sáng (đình Lỗ H ạnh), có th ể là m ột dạng của m ặ t trời h ay tin h tú (?)

M ột d ạn g linh v ậ t khác cũng đ áng chú ý đó là voi. Điển h ìn h là con voi trê n v án lá gió củ a đình Tây Đằng. Voi này có đầu nhin v ề phía sau, vòi cong lên, bộ m ặ t n h ư có th ầ n , ch ân trước ch ân sau đ ều duỗi, nó n h ư đ an g bay tro n g m ộ t khung, được viền hai b ê n b ằng n h ữ n g vân xoắn lớn. Đã có n h iều ý kiến xung q u a n h n é t tạo h ìn h về con voi này, h ầu n h ư m ọi n h ậ n x é t đều ca tụ n g v ề ý th ứ c v à tài hoa gắn với tạo h ìn h của người đương thời.

Song, ở lĩnh vực tâm linh, m ộ t số n h à n g h iê n cứu d ân tộc học n g h ệ th u ậ t còn n h ư th ấy được ở đây voi là biểu tư ợ n g của n guồn nước, củ a m ư a, của sức m ạ n h m an g tín h chân lý, n ằm ở giữa n h ữ n g vân x oắn và đan g vận động tro n g th ế n h ư bay... bố cục n ày cho p h ép c h ú n g ta ngờ rằ n g phải chăn g đó là m ộ t biểu tượng cầu m ư a củ a người xưa.

N goài n h ữ n g linh v ậ t phổ b iến n h ư kể trê n , h ã n h ữ u chú n g ta còn gặp được m ộ t vài con v ậ t bốn ch ân khác m a n g đầy tín h c h ấ t d ân gian n g ẫ u hứ ng, rồi được thời gian tô điểm , để nhữ ng th ớ gỗ nổi hằn , tạo th à n h m ộ t tác p h ẩm điêu khắc m an g giá trị rấ t cao, n h ư con hổ ỏ' đ in h Lỗ H ạnh. Hổ tro n g th ế đ a n g n ử a động n ử a tĩnh, bố cục n g h iê n g n h ư n g m ặ t qu ay ra g ầ n n h ư n h ìn th ẳ n g , đuôi v ắ t ngược lên phía trên . Người ta k h ông tạo n ê n m ột con hổ tả th ự c, m à là m ộ t h ìn h tư ợ ng đ ã đọng lại tro n g tâm thức, rồi được th ể h iệ n th eo lối d ân gian, n h ư m ộ t ch ân sau được mọc ra ờ dưới b ụ n g vơi sự "khá tu ỳ tiện" m à v ẫn không th ấy phi lý và k h iên cưỡng. T h ân h ìn h hổ chắc khỏe, n h ư n g chỉ nói lên sức m ạ n h tiề m ẩn m à không nói lê n tín h h u n g dữ, h ìn h th ứ c này vẫn m a n g n é t m ề m m ại, u yển chuyển, nhịp n h à n g được th ể h iện ở n h ữ n g đường lượn củ a bụng, lưng, đuôi... T rong q u a n n iệm của ngư ờ i xưa, hổ được coi là m ộ t linh v ậ t để b iểu tư ợ n g cho sức m ạ n h trầ n gian, cai q u ả n m ặ t đ ấ t có khả n ăn g trừ tà sá t quỉ (nên th ư ờ n g x u ấ t h iệ n m ặ t ngoài của bức b ìn h p h o n g đình, đền), T rong ý th ứ c củ a người xư a hổ không th u ộ c linh v ậ t của tầ n g

131

trên , vì th ế con hổ được chạm ở m ộ t m ản h v án trê n cốn c ủ a đình Lỗ H ạnh h iệ n v ẫn còn là m ột dấu hỏi cho các n h à n g h iê n cứu.

Vào th ế kỷ XVII tại chùa Láng (Hà Nội), c h ú n g ta cũ n g đã gặp đôi hổ tro n g th ế đ ang vận động, bố cục n g h iê n g n h ư n g m ặ t được v ặn quay ra dưới dạn g n h ìn chính diện. Mỗi con đ ề u cắn m ộ t m ặ t trờ i/tră n g khiến cho nghi vấn về hổ của thời M ạc p hần nào được giải đáp, bởi tro n g n h ữ n g trư ờ n g hợp n ày hổ đ ã n h ư đồng n h ấ t với n g u ồ n p h á t sáng của tầ n g trê n hay cù n g với n g u ồ n p h á t sán g trở th à n h m ột cặp phạm trù th u ộ c lĩnh vực âm dương đối đãi.

T rong h ệ thống linh v ậ t nổi tiến g m à sa u này hội tụ vào tứ linh th ì h ầ u n h ư con rù a rấ t h iếm x u ấ t h iệ n tro n g ch ạ m khắc trê n kiến trú c gỗ, có lẽ bởi người xư a q u an n iệm nó là con v ật của tầ n g dưới, n h iều khi m ang tín h tích cực, tự th â n đ ã th ể hiện m ột cặp p h ạm trù âm dương đối đãi hoàn ch in h (m à b iểu tượng về ngôi n h à sàn được tru y ền th u y ế t d ân gian cho là b ắ t n g u ồ n từ h ìn h tư ợ n g rùa). Rùa còn là biểu tượng cho sự trư ờ n g tồ n , song cũng n h iề u khi nó có tín h tiêu cực, cùng với rắ n là cặp th u ỷ quái gây lụ t lội... T rong tạo h ìn h ở th ế kỷ XVI về sau nó th ư ờ n g được th ể h iệ n dưới d ạn g hóa th â n của hoa lá sen trê n các m ả n g chạm của kiến trú c. Ở đầu thời Nguyễn, tại cung đ ìn h H uế rù a cũng không được th ể h iện tro n g chạm gỗ trê n kiến trú c cu n g điện, nó chỉ trở th à n h m ộ t tro n g tứ linh b ắ t đầu từ th ờ i Gia Long tại các di tích trê n đ ấ t Bắc. Dù dưới dạng hóa th â n hay d ạn g to à n th â n cuốn th u ỷ th ì rù a bao giờ cũng nằm ở p h ầ n b ên dưới củ a cả bố cục. Ngoài n h ữ n g linh v ậ t v à con v ậ t được lin h h ó a n h ư kể trên , th ì ở thời Mạc đ ã d ần d ần phổ biến h iện tư ợ n g q u ái v ậ t hổ phù được ch ạm khắc trê n gỗ. Song, đó chỉ là n h ữ n g b iểu tư ợ n g nằm trê n các h iệ n v ật, tới th ế kỷ XVII chúng mới x u ấ t h iệ n n h iề u dần trê n kiến trú c, n h ư trê n v á n gió của đình Công Đ ình th u ộ c Ninh H iệp (Hà Nội) có đôi rồng chầu hổ phù, tro n g trư ờ n g hợp này có

th ể n g h ĩ hổ phù được đồng n h ấ t với m ặ t tră n g (những hình tượng linh v ậ t có th â n th iếu th ố n thư ờng đồng n h ấ t với m ặ t tră n g hoặc liên q u a n đ ến m ặ t trăng). Hổ phù được tạo n é t gồ ghề (m ắt, m ủi, m ồm ), phối hợp cùng n h ữ n g đao m ác bay chéo lên ở hai b ên đã n h ư n h ấ n m ạ n h cho nó m ột sức th iê n g n h ấ t định.

Trong n h ậ n th ứ c củ a người Việt - cư dân trồ n g lúa nước, th ì m ặ t trời là n g u ồ n sin h lực khởi n g uyên có sức m ạ n h vô bờ bến, n g u ồ n gốc của m ọi sự sống... còn m ặ t tră n g lại có khả n ăn g th ú c đẩy cho sự sinh sôi, gắn với ước vọng được m ùa... Có lẽ vì th ế m à h iện tư ợ n g hổ p h ù đã liên q u an trự c tiếp tới các tin h th ể này, đây là m ộ t h ìn h tư ợ n g cầu phồn th ự c và h ạn h phúc m u ô n m ặ t của người xưa. H ình tư ợ n g hổ p h ù n gày m ột p h á t triể n và nó được h ó a th â n với n h iề u cách th ể h iện khác nhau . Vào các thời gian sau ch ú n g ta cũ n g đ ã gặp văn triệ n rồi ho a lá hóa hổ phù ở trê n kiến trúc.

M ột vài đề tài khác, th ư ờ n g được thời kỳ này h ế t sức chú ý, đó là h ệ th ố n g v ân xoắn lớn, có th ể th ấ y ch úng được biểu h iện nổi khối m ập, m ặ t b ê n th â n cong kiểu ốp vỏ m ăng, được chạm ở đầu các con rường, đề tài này có xu hư ởng tạo khối gồ ghề, n h ư n g v ẫ n u yển c h u y ể n n h ịp n h àn g . Qua m ẫu h ìn h đã gặp, h iện tượng v â n x o ắn lớn n ằ m ở vị trí tru n g tâ m của m ản g chạm , với n h iề u đ ư ờ ng chỉ v à đư ờng diềm v ân xoắn dấu hỏi, có điểm xuyết các lá cúc cách đ iệu đ ã chiếm tới 1/3 không gian của đề tài theo phư ơ ng n ằm n g an g . Rõ rà n g ở lĩnh vực tạo h ìn h đơn th u ần , hiện tư ợ n g n ày cũ n g làm h ạ n chế xúc cảm n g h ệ th u ậ t của người xem . Song, n ế u n h ìn đây là m ộ t biểu tư ợ n g th iê n g liêng, m à n h iều n h à n g h iê n cứu cho rằ n g nó gắn với ước vọng cầu m ư a với h ạ n h phúc đ a diện, để cõng trê n lư ng m ộ t vẻ đẹp tâ m linh, th ì m ặc n h iê n c h ú n g trở n ê n có m ộ t giá trị đặc biệt, th ậ m chí làm "nhòe"

đi cả như ợc điểm g ắ n với tạo h ìn h đơn th u ầ n . C húng ta cũng đã gặp các h ệ vân xoắn, đ ặ t ở dưới và hai b ên n h ữ n g đấu, được

133

Một phần của tài liệu Đình làng Việt (Châu thổ Bắc Bộ) (Trang 147 - 179)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(222 trang)