2.3. Cấu trúc bộ khung của đình làng
2.3.3. Các bộ vì cơ bản trong kiến trúc đình
Chắc ch ắn là kiến trú c bằng gỗ của người Việt đ ã có từ rấ t sóm . T heo th ư tịc h cổ, thì ngay tro n g giai đoạn đẩu củ a th ờ i kỳ tự chủ, người V iệt đã có n h ữ n g kiến trú c gỗ khá lcn. N hưng trải
Đình T â y Đ ằng, B a Vì, Hà N ội, T K XV!
( T ư liệu: V M T )
S a Ó ó r r i ỉ t b à * Ọ
chỉ C.J> ộ õ 'e iỉ n n tie i~
5 c ci/ d ọ c Í S
B ả n v ẽ đ ìn h L ỗ H ạ n h , H iệp H ò a , B ắ c G ia n g (T ư liệu: V M T )
M ặ t cắt n g a n g , đ ì n h Lồ H ạnh, H iệp H òa, B ắ c G iang ( T ư liệu: V M T )
Đ ình C h u Q u y ế n , B a Vì, Hà N ộ i, T K XVIỉ ( T ư liệu: V M T )
Bản vè danh m ục cấu kiện kiến trúc đình ( T ư liệu: T ạ p chí Di sản V ăn hóa) 1. Vì k è o bên hồi h ậ u c u n g k h ô n g bị cắt
2. Đ ư ờ n g b ờ nóc 3. T h ư ợ n g lư ơ n g 4. Kèo xối
5. Vì k èo căt từ trôn x u ố n g 6. H o à n h
7. Rui 8. V á n rong 9. K ẻ xối
10. X à th ư ợ n g 11. H o à n h mái 12. T h ư ợ n g lư ơ n g 13. Đ ầ u kìm 14. Đ ư ờ n g b ờ n ó c 15. B ờ dải
16. H oành
17. C â u đ ầ u (quá g ian g ) 18. C o n xô (con n á p ) 19. C h ồ n g rư ờ n g 20. B ức con c h ạ m 21. X à nách 22. B ờ guột 23. Đ ầ u guột 24. Đ ầ u đ a o 25. K ẻ hiên 26. Đ ầ u ké hiên 27. T h e n tầu 28. T ầ u đ a o 29. Lá m ái
30. Ván no n g đố lụa 31. Mặt sàn gỗ
M ặt că t dọc, đ ì n h Lồ Hạnh, H iệ p Hòa, Bắc G ia n g ( T ư liệu: V M T )
C á n h g à đ ầ u cột, đình T â y Đ ằ n g , Ba Vì, Hà N ội. TK XVI ( T ư liệu: V M T )
M ặ t c ắ t dọc , đình T h ồ Hà, V iệt Y ên, B ắc G iang ( T ư liệu: V M T )
R ồ n g trên hồi và kẻ góc, đình N hân Lý, H à N a m ( T ư liệu: V M T )
Vì nóc đ ìn h L ồ Hạnh, Hiệp H òa, Bắc G ia n g , T K X V I ( T ư liệu: V M T )
Vì nóc đ ìn h H oành Sơn, N g h ệ An, T K XV III ( T ư liệu: V M T )
K ết c ấ u k h u n g , vì nóc đình C h u Q u y ế n , Ba Vì, Hà N ội, T K X V II ( T ư liệu: V M T )
Bộ vì dinh H u n g Lộc, N g h ĩ a H ư n g , N a m Đ ịnh, T K X V II ( T ư liệu: V M T )
T iên cưỡ i r ồ n g và p h ư ợ n g (th ầ n gió, th ần m ư a ? ) trên xà n á c h đ ìn h T h ô H à , V iệ t Yên, B ăc G ia n g
( T ư liệu: V M T )
VÙ n ữ th iê n thằn, tra ng trí trên ván n o n g đ ìn h T h ồ Hà, V iệ t Yên, Bắc G iang, T K X V IĨ
( T ư liệu: V M T )
T iê n , trên v án n o n g đ in h P h o n g C ốc, Y ê n H ư ng, Q u ả n g N inh, T K X V I I (T ư liệu: V M T )
Ban vc côn vi nách, dinh Lô I lạnh. 1 liộp ỉ lòa. Băc (ìiang. í K X V I (T ư liệu: V M T )
B a n ve c ố n hồi. đ ì n h L ỗ 1 lạnh. Miệp í l ỏ a , B ă c G i a n g . 1 K X V I (T ư liệu: V M T )
c ố n vì nách, đình Ọ u a n Lạn, Q u a n g N in h , T K XIX ( T ư liệu: V M T )
Đ ầ u bằy, đ ìn h C h u Q u y ế n , Ba Vì, Hà N ội, T K X V II (T ư liệu: V M T )
Ké đình P h o n g Cốc, Y ê n H ư n g , Ọ u ả n g N in h , T K X V II ( T ư liệu: V M T )
Đ ấu vật, trên n g h é kẻ, đ ìn h H ư ơ n g C anh, B ìn h X u yên, V ĩnh P h ú c , T K X V II ( T ư liệu: V M T )
Đ ấ u v ậ t trên rư ờ n g vì nách, đình H ư ơ n g C a n h , B ình X u y ê n , V ĩnh Phúc, T K X V II (T ư licu: V M T )
B ản vẽ tra n g trí trên vì n á c h v à c á n h gà, đình P hù Lão, L ạng G iang, B ắ c G ia n g , T K XVII
( T ư liệu: V M T )
Vì nóc. đ ìn h T â y Đ ằ n g . Ba Vì, Hả Nội, T K XVI ( T ư liệu: V M T )
G óc m ái, đ ìn h C hu Q u y ể n , B a Vì, H à N ội, T K XVII ( T ư liệu: V M T )
C o n xô, đ ìn h T h ạ c h Lồi, C â m G ià n g , Hải D ư ơ n g ( T ư liệu: V M T )
Đ ìn h H ữu B ằ n g , Hà N ộ i, T K X V II ( T ư liệu: V M T )
V ũ n ữ thiên thần, đình P h o n g C ốc, Q u ả n g N inh, T K X V II ( T ư liệu: V M T )
N h ạ c sĩ th iê n thần, đình T â y Đ ằ n g , B a V ì, T K X V I ( T ư liệu: V M T )
q u a thời gian, các di tích để lại không còn bao n h iê u so với bề dày của lịch sử. T hậm chí, nhiều nơi chỉ còn ph ế tích. Đ ương nhiên, từ m ột m ặ t nền, khó có th ể bàn n h iều về k ết cấu củ a kiến trú c từ n g tồ n tạ i trê n đó.
Do vậy, c h ú n g tôi sẽ chỉ sử dụng tư liệu từ các đ ìn h h iện còn. Bộ vì - y ếu tố cơ bản của kết cấu k h u n g gỗ, là sự liên kết tấ t cả các cấu kiện nói trên , vừa là kết cấu chịu lực, n â n g đỡ m ái, lại vừ a là đơn vị cấu th à n h tổ chức không g ian củ a công trìn h . Đe tạo th à n h m ột bộ vì, trước h ế t phải có các cột n h ư đ ã trìn h bày ở trên , gồm hai cột cái, hai cột quân, có khi th ê m hai cột h iê n - h ệ th ố n g k ế t cấu liên kết các cột lại với n h au - đó là vì nóc, vì nách (cốn) v à bẩy hoặc kẻ.
Thực c h ấ t sự liên k ế t của vì nóc, vì nách v à bẩy cù n g các liên k ế t khác ở h iên là để tạo nên n h ữ n g điểm đỡ các h o à n h m ái v à x à nóc (thượng lương). Sự khác n h au của kiểu liên k ế t n ày với kiểu liên kết khác chủ yếu diễn ra ở vì nóc (và p h ầ n nào ở vì nách) là n h ữ n g yếu tố biến đổi, bên cạnh n h ữ n g y ếu tố h ầ u n h ư cố định, gần n h ư b ấ t biến là hệ th ố n g cột. C hính sự b iến đổi ấy d ẫ n đ ế n sự khác b iệ t các loại hình của bộ vì.
T rong bộ vì, đơn vị đo quy ước xác lập n ê n tư ơ n g q u a n kích thư ớc các bộ p h ậ n củ a công trìn h chính là khoảng cách giữ a các cột, "m ô đ un" này được tỷ lệ hóa trê n cây thước tầ m th e o n h ữ n g k h o ản g tư ơ ng đương, th ư ờ n g là 0,4m . Đó là kích th ư ớ c củ a m ộ t k h o ản g h o à n h (khoảng cách giữa hai h o àn h mái). N hư v ậy tấ t cả các cấu kiện khác sẽ có kích thước bằng bội số củ a m ộ t k h oảng h o àn h . D ầu vậy, cần lưu ý rằng, kiến trú c đ ìn h cổ V iệt Nam k h ông th ậ t n g u y ên tắc, n g h ĩa là tương q u an giữa các kích thước chỉ là m ộ t h àm số tư ơ n g đối chứ không h oàn to à n q uy chuẩn, n ê n mỗi m ột công trìn h n h ư có m ột tư ơ ng q u an tỷ lệ riêng, k h ô n g áp d ụ n g cho công trìn h khác.
81
Hai bộ vì liền sá t n h au , liên k ết với n h a u q u a h ệ th ố n g xà dọc tạo th à n h m ộ t gian. Đó chính là đơn vị k h ông gian m ặ t bằng để tù y th eo công n ăn g kiến trú c m à tổ chức cho p h ù hợp. Hai vì tạo th à n h m ột gian n ê n số gian th ư ờ n g là số lẻ (3 - 5 - 7). Người V iệt trá n h làm n h à có số gian chẵn. Gian là m ộ t khái n iệm của kiến trú c gỗ cổ tru y ền Việt, xác định quy m ô, tầ m cỡ của m ột công trìn h .
Vì giá chiêng
Là kiểu liên kết vì có niên đại sớm n h ất trong các kiến trúc bằng gỗ hiện còn. Niên đại được xác nhận vào nử a cuối thế kỷ XIV.
Bộ vì kiểu này dựa trê n k ết cấu bốn h à n g ch ân cột bằn g gỗ m ít - n g u y ên liệu chính của các kiến trúc gỗ bấy giờ (đình Thụy Phiêu, Tây Đ ằng...).
Mở đ ầu cho bộ vì, từ trê n xuống là th ư ợ n g lương, cũng m an g chức n ă n g là m ộ t h o àn h m ái, đương thời bộ vì nóc có ba k h oảng hoành, n g h ĩa là vì nóc đỡ bốn h o à n h m ái m ỗi bên. Trừ th ư ợ n g lương ra, các h o àn h nằm trê n ba vị trí chính: trê n cột trốn, trê n v á n nong (hay rường) và trê n cột cái. Tuy nhiên, trê n th ự c tế số h o à n h m ái của bộ vì nóc có khi n h iề u hơn. Chắc chắn là q u a n h iề u lần tu sửa, để tă n g sự bền vững, người ta đã phải tă n g th ê m h oành.
Để đỡ n h ữ n g h o àn h mới này, người ta đ ã k h o ét th êm vào ván n o n g (hay rường cụt) n h ữ n g ổ đỡ h o àn h v à đ ặ t th ê m nh ữ n g con chèn, guốc/dép h o àn h trê n rường b ụng lợn. Câu đầu tỳ lực trê n h ai đ ầu cột cái q u a hai đ ấu vuông th ó t đáy lớn. Cột cái th ư ờ n g được làm b ằn g gỗ m ít. T hân cột có đưcmg kính lớn, n h ư n g n g ắn /th ấp .
Thời Mạc, đ ã b ắ t đ ầu có n h u cầu mở rộ n g lòng công trình, n ê n k ế t cấu giá chiêng p h ần nào th ay đổi. Bộ m ái bè ra hơn, khiến cột trố n của giá chiêng n g ắn lại. V án lá đề cũng bè ra,
nhiều khi m ũi lá đề lẹm vào rường bụng lợn, hoặc ă n lẹm ch ú t ít xuống xà kê trê n lưng câu đầu. Và, nhiều khi tu y công trìn h vẫn chỉ có bốn cột cái, n h ư n g lại có tới bốn bộ vì nóc. Hai bộ vì chính đứng lực trê n b ốn cột cái, còn hai bộ vì p h ụ đứng trê n bốn cột trố n đ ặ t ch ân trê n n h ữ n g xà đùi (ở đầu hồi). Kết cấu b iến th ể kể trê n làm lòng công trìn h được m ở rộng sang hai bên.
Từ th ế kỷ XVII về sau kết cấu vì th eo kiểu giá chiêng vẫn th ư ờ n g x u ấ t h iện . Từ giữ a th ế kỷ XVII p h ầ n tra n g trí đ ã được chạm khắc ở n h iề u bộ p h ận khác của công trìn h , người ta ít chú ý đến ván "lá đ ề" ở vì nóc. N hiều khi p h ần không gian ấy để trống, không b ít v án nữa. C hất liệu mới (gỗ lim) cho p hép đẩy m ái lên cao hơn, lòng n h à rộng hơn, m ái bè th ê m ra, n h iều tỷ lệ giữa chiều cao v à ch iều n g an g của giá chiêng nhỏ đi n h iều (chùa Mía, đ ìn h T ường Phiêu, tiề n đường chùa Thầy...). Đe p hù hợp với yêu cầu đó, p h ầ n v án hai bên cột trốn củ a giá ch iên g đã được th ay b ằn g các con rư ờ n g (m ột hoặc hai tù y th eo khoảng cách giữa hai cột cái). Rường b ụ n g lợn cũng không m ấy khi còn, m à được th ay th ế bởi m ộ t th â n gỗ ngắn, không cong. Cũng từ cuối th ế kỷ XVII, tro n g xu hư ớng m ở rộng lòng công trìn h b ằng cách đẩy m ái lên cao đ ã x u ấ t h iệ n kết cấu vì nóc th eo kiểu "giá chiêng - chồng rư ờ n g con n h ị". Kết cầu này dần trở n ê n phổ biến ở các th ế kỷ sau.
Vào th ế kỷ XIX, th eo xu hướng m ở rộ n g không gian sử dụng, n h iề u khi người ta còn "cắt" ph ần dưới cột cái th à n h cột trốn. Cột cái trố n ch ân , đ ứ n g lực trê n m ộ t xà lớn nối h ai cột cái của hai gian bên. Các biến th ể kiểu trốn cột n h ư vậy đ ã làm cho lòng công trìn h th ô n g th o án g hơn, diện tích sử d ụ n g n h iều hơn, dễ bố trí nội th ấ t hơn. Do vậỵ, các biến th ể kiểu trố n cột được sử dụ n g khá phổ biến, không chỉ là biến th ể củ a riên g loại h ìn h vì giá chiêng. Kết cấu vì nóc kiểu giá chiêng càng về sau càng đơn giản hơn, ít tra n g tr í hơn. Tính ch ất to m ập của cấu kiện cũng
83
n h ẹ đi. Vào khoảng th ế kỷ XIX, người ta sá n g tạo ra b iến th ể bán giá chiêng. Kết cấu này có m ộ t giá chiêng lớn đỡ th ư ợ n g lương, hai b ên là n h ữ n g n ử a giá chiêng cùng cả m ộ t h ệ th ố n g cộ t trố n cao - th ấp , to - nhỏ nối n h a u chạy xuống, h iện tư ợ n g n ày có ở vì n ách (đình D ương Liễu, Hoài Đức, Hà Nội, đ ìn h H ữu Vĩnh v à m ột loạt các đ ìn h từ Đ ồng Đ ăng đ ến Bắc Sơn - Lạng Sơn).
Vì chồng rường
Có lẽ k ết cấu chồng rư ờ ng nảy sinh bởi có ch ấ t liệu chịu lực cao hơn của gỗ lim và do yêu cầu m ở rộng hơn lòng công trìn h để tă n g diện tích sử dụng. Ở Việt Nam, k ết cấu n ày x u ấ t h iện khá m uộn. Chưa th ấy bộ vì nóc theo kiểu chồng rư ờ ng củ a người V iệt có n iê n đại từ đầu th ế kỷ XVII trở về trước. H iện tư ợ ng chồng rường sớm n h ấ t dưới dạng giá chiêng - con nhị là ở tòa điện T h án h ch ù a Thầy (Quốc Oai, Hà Nội). Rõ n é t hơn là vì nóc chồng rư ờ n g đ ìn h H ưng Lộc (Nam Định). Kiểu k ết cấu vì này khá đơn giản, chỉ gồm n h ữ n g con rường dài n g ắ n khác nhau , kê trê n n h au q u a n h ữ n g đấu v uông th ó t đáy m ỏng - th ấp . Các rường n g ắn d ầ n về phía th ư ợ n g lương để con rư ờ ng cuối cùng đội th ư ợ n g lương không khác m ộ t đấu. Một bộ vi nóc kiểu này th ư ờ n g gồm từ 3 đến 4 con rường. Tùy th eo sự dãn cách củ a cột cái m à số rư ờ ng có th ay đổi. Có bộ vì nóc xếp tới 07 con rường chồng khít n h a u (đình H ưng Lộc, Nam Định). N hiều khi đ ể trá n h sự n ặ n g n ề cho bộ vì nóc, v à cũng để tiế t kiệm , tậ n d ụng gỗ m à v ẫn th ỏ a m ã n n h u cầu m ở rộ n g lòng công trìn h , người ta đã th a y đổi con rư ờ n g ở sá t câu đầu bằn g m ột đôi rư òng cụt. Vô h ìn h chung, k ế t cấu này v ừ a m an g tín h ch ấ t chồng rư ờ ng v ừ a m an g n h ư tín h c h ấ t giá chiêng b iến thể.
Các đ ấu v uông th ó t đáy kê giữa các con rường, càng về sau càng được làm dầy hơn - cao hơn. K hoảng cách giữa các con rư ờ ng vì th ế cũ n g n gày m ộ t lón hơn.
Ở cuối th ế kỷ XVII, chiếc câu đầu vẫn được làm từ m ộ t th â n gỗ lớn, n h ư n g dài hơn trước. Và, cho đến thời kỳ này, câu đầu vẫn n ằm trê n các đấu v uông th ó t đáy liên k ế t chắc ch ắn bởi các chốt đóng xuy ên q u a ru ộ t đấu xuống đầu cột.
Từ cuối th ế kỷ XVII san g th ế kỉ XVIII, h iện tượng câu đầu ch u y ển d ần th à n h q u á giang, ăn m ộng vào đầu hai cột cái mới x u ấ t h iện và trở th à n h phổ biến. Có lẽ do k h oảng cách giữa hai cột cái n g ày m ộ t lớn hơn, liên kết kiểu câu đầu không đủ vững chãi. Người ta cũng b ắ t đ ầu sử d ụ n g n h iều loại m ộng m ẹo phức tạp hơn. N goài kiểu m ộng chốt đơn giản, còn có m ộng ngoàm , m ộ n g én ... đ a d ạn g và phức tạp. Tuy n h iên các loại m ộng đều lắp, th á o dễ dàng. Đó chính là ưu điểm hơn h ẳ n củ a kiến trú c gỗ so với kiến trú c b ằn g ch ất liệu khác. Trong lịch sử kiến trú c Việt, không h iếm n h ữ n g lần người ta đ ã dời ch u y ển cả m ộ t kiến trúc từ nơi n ày đ ế n nơi khác. G ần th ì chỉ từ ngoài vào tro n g đê, xa thì h àn g tră m ki-lô-m ét, từ tỉn h này san g tỉn h khác.
Vĩ kèo
Vì kèo này có lẽ đã x u ấ t h iện khá sám tro n g kiến trú c cổ tru y ề n V iệt N am với n g u y ên liệu tre. Tuy n h iên , tro n g kiến trú c b ằn g gỗ th ì k ế t cấu vì kèo có niên đại m uộn. Chỉ tới th ế kỷ XIX, k ế t cấu vì kèo gỗ mới tư ơ n g đối phổ biến. C húng ta th ư ờ n g gặp kiểu liên k ế t n ày ở các kiến trúc d ân dụng. T rong kiến trú c tôn giáo (đình ch ù a...) ít sử d ụ n g k ết cấu vì kèo tro n g n h ữ n g tò a chính. Đặc biệt, ở châu th ổ Bắc Bộ nó chỉ được d ù n g chủ yếu tro n g các k iến trú c phụ. H ạn hữ u n h ư ở đ ìn h H ương C anh (Vĩnh Phúc), H uyền T hiên T rấn Vũ q u á n (Ba Đ ình - Hà Nội), vì nóc công trìn h ch ín h được làm th eo kiểu vì kèo. Địa b àn chủ yếu của loại h ìn h vi n à y là ở T rung Bộ. Kết cấu cơ b ả n gồm hai kẻ dài gác chéo n h a u th e o chiều dốc b ụ n g m ái, ăn m ộng với n h a u ở đ ỉn h vì, cùng đỡ th ư ợ n g lương rồi chạy dài xuống đ ầu cột cái. N ếu kẻ này
85
chạy từ th ư ợ n g lương, ăn m ộng qu a đầu cột cái, kéo d ài xuống tậ n đ ầu cột q u ân th ì gọi là kẻ suốt. N ếu dừ ng lại ở đầu cột cái, rồi nối x uống cột q u ân b ằn g m ột kẻ th ứ hai th ì gọi là h ệ kẻ chuyền. T hân kẻ đỡ m ộ t ván nong dày, có k h o ét các ổ làm chỗ đứ ng ch ân cho các h o àn h m ái. Trong k ết cấu này, còn m ộ t cột trố n đ ứ n g chân trê n q u á giang, vươn lên đội vào phía dưới chỗ đầu h ai kẻ gác m ộng. Cột trố n này thư ờ ng không để th ô m à th ư ờ n g là m ột th â n gỗ th ẳn g , nhiều khi được k ế t h ìn h n ậ m rượu.
Cả chiếc đ ấu kê ở ch ân cột trố n cũng được cách điệu, tra n g trí.
T rong m ộ t số công trìn h lớn, ở các góc m ái ngoài đầu hồi, người ta còn làm các kẻ góc/xó/m oi, đó là m ộ t th â n gỗ liền, v ư ơ n lên sá t th ư ợ n g lương v à chạy d à i'x u ố n g tậ n cột q u ân góc. Đuôi kể n ày ăn m ộng q u a cột q u ân góc, m ang tư cách n h ư m ộ t bẩy (có người gọi là bẩy liền kẻ). Ở Huế, cột trố n nói trê n được làm khác với Bắc Bộ. Đầu cột không chống th ẳ n g vào hai kẻ m à chỉ đội m ộ t đòn n g an g vươn san g hai bên đỡ b ụng hai kẻ. H ình th ứ c kẻ chuyền ở T rung Bộ cũng có ph ần khác. Kẻ gồm từ hai đ ế n ba cấu kiện, tù y thuộc vào số lượng h àng cột. P hần vì nóc được tạo th à n h bởi hai kẻ, ch ố t với n h a u ở đầu để đỡ th ư ợ n g lư ơng (tiếng địa p h ư ơ n g là đòn Dông, đòn Đông). C hân kẻ ă n m ộng q u a đầu cột cái, nhô p h ần đuôi sang b ên kia cột để liên k ết với đ ầ u m ộ t kẻ khác. Kẻ th ứ hai liên k ết với đuôi của kẻ trê n và nối x u ố n g cột q uân. Đuôi kẻ cũng n hô ra p h ần ngoài th â n cột quân , liê n kết với đ ầu m ộ t kẻ th ứ b a chạy xuống liên k ế t với cột hiên. Đ uôi kẻ th ứ ba vươn dài hơn, đỡ m ái đua. Trong các kiến trú c p h ụ ở Bắc Bộ, chiếc cột trố n n h iề u khi được th ay bằn g m ộ t th â n v án dày, ăn m ộ n g vào đầu h ai kẻ. Từ th â n của cột ván này lại nảy sin h r a hai th e n gỗ nhỏ, vươn sa n g h ai bên, khóa m ộng vào d ạ h ai kẻ. T hậm chí, đ ể chắc ch ắn hơn, ở chỗ h ai th e n gỗ ăn m ộ n g với kẻ, người ta còn làm hai th a n h v án nhỏ chống th ẳ n g x uống q u á giang. Kết cấu n ày rấ t phổ b iến từ cuối th ế kỷ XIX. Ở v ù n g đ ồng b ằ n g v en b iển m iền T ru n g (từ Q uảng Bình đ ến Q uảng Nam), k ế t cấ u vì
kèo được sử d ụ n g phổ biến tro n g cấu trúc n h à rội, n h à rường.
Tuy n h iên k ế t cấu vì và cả tê n gọi các cấu kiện có m ột số biến đổi. Nơi hai kẻ gặp nhau, ăn m ộng đỡ đòn Đông (xà nóc) được gọi là giao nguy ên . Kẻ nóc, kẻ ngồi, kẻ hiên trong kết cấu kẻ chuyền được gọi là kẻ lòng n h ất, kẻ lòng nhì, kẻ lòng ba. Liên kết các cột th eo chiều ngang, không thự c hiện ở đầu cột m à ở vị trí th ấ p hơn là các xà n g an g được gọi là trin h (hay trến). Liên kết kèo - kẻ chỉ được n ân g đỡ bởi các cột m à không có cấu kiện phụ khác n h ư ở Bắc bộ. T hậm chí, ở kiểu nhà Rội, chỉ có m ột cây cột cái duy n h ấ t chống th ẳ n g lên giao nguyên, liên k ết với cột q uân ở phía sau b ằn g trin h đoản. Có lẽ đây là m ột h iện tư ợ ng b ắ t n guồn từ kiểu n h à Mã Lai cổ. Rõ rà n g liên k ết vì của n h à Rội, n h à Rường v ẫ n chỉ là m ột biến th ể địa phương của k ết cấu vì kèo.
Vì ván mê
Liên k ế t kiểu này h ế t sức đơn giản, chỉ gồm n h ữ n g tấ m ván cùng độ dày, soi m ộng, được lồng giữa hai kẻ cùng q u á giang.
Kiểu vì nóc n ày th ư ờ n g được nghệ th u ậ t hóa bằng cách trổ th ủ n g tấm ván dưới cùng, sá t qu á giang, để tạo th à n h d ạn g thứ c có h ìn h cán h dơi lớn. M ặt các tấ m ván này thư ờ ng được chạm khắc h ìn h hổ phù, rồ n g hoặc n h iều đề tài khác. Kiểu vì này thư ờng gặp được c h ạ m khắc ở các kiến trú c m uộn hoặc phụ tro n g công trìn h đ ã có sẵ n (như ở tả h ữ u vu của đình).
Từ cuối th ế kỷ XIX về sau, k ết cấu vì n ách cũng sử d ụng các ván dày ch ồ n g n h au giống n h ư ở vì nóc, gọi là cốn m ê. Chủ y ếu cốn m ê được làm n h ằm m ục đích tạo diện tra n g trí (đình T h an h Am q u ậ n Long Biên, H à Nội và rấ t nhiều đ ìn h khác).
Cũng vào thời kỳ này, ở Bắc Bộ, nhiều ngôi đ ìn h làng có vì nóc kiểu vì kèo. Chiếc trụ trố n được th ay th ế b ằng m ộ t v án gỗ có tai cột, tạo h ìn h cân xứ ng (dưới dạn g cánh chim, cán h dơi, cán h
87
bướm xòe rộng, hoặc h ìn h lá cúc) gắn dưới hai đầu liên k ế t với hai kẻ nóc. Ở m iền T rung biến th ể của vì ván m ê th ư ờ n g là m ột loại h ìn h tro n g h ệ vì vỏ cua. Vì này nhỏ, n h iều khi là m ộ t tấm ván liền, được chạm th ủ n g th à n h các đề tà i tra n g trí.