2.3. Cấu trúc bộ khung của đình làng
2.3.5. Các cấu kiện kiến trúc khác của đình
Ván gió
Là loại cấu kiện được nong vào giữa các xà giằng cột, có tác d ụ n g n g ăn chia không gian m ột cách giả đ ịn h và tác d ụ n g tra n g trí n ộ i th ấ t kiến trúc.
Có kiểu ván gió đơn v à ván gió kiểu ô hộc (liên ba). Ván gió đơn là tấm gỗ ván đơn th u ầ n , có th ể để m ộc hoặc chạm khắc tra n g trí rấ t cầu kỳ (có n iên đại từ n h ữ n g ngôi đ ìn h và chùa của th ế kỷ XVI).
Ván gió kiểu ô hộc, cấu tạo hởi hệ k h u n g p h ân chia th à n h các ô nhỏ có nong ván. H ệ khunơ th ư ờ n g được soi gờ chỉ, còn v án nong có th ể chỉ h uỳnh m ộ t m ặ t hoặc có chạm khắc các đề tài tra n g trí (chủ yếu tro n g kiến trú c H uế và m ộ t số nơi khác).
Ván dong
Là cấu kiện gỗ tấm chạy dọc trên lưng (cật) các kẻ, bẩy, có tác d ụ n g đỡ các h o àn h m ái đồng thời điều chỉnh cao độ m ặ t mái, v án dong có th ể để trơn (mộc) n h ư n g cũ n g có th ể chạm khắc tra n g trí rấ t cầu kỳ, tin h xảo.
Vì nách (hay cổn)
Là cách liên k ết các cấu kiện ở khoảng không gian có hình ta m giác vuông, tạo th à n h giữa cột cái và cột quân. Tam giác v u ô n g này có cạnh dài là x à nách, cạnh n g ắn là độ cao hcm của cột cái so với cột q u â n và cạnh h u y ền là độ dài của p h ần dưới
91
m ặ t m ái giữ a h ai cột kể trên .
N ếu n h ư liên k ế t vì nóc p h ải tạo được ít n h ấ t b ố n điểm đứ ng ch â n cho th ư ợ n g lương v à ba h o à n h th ì vì n á c h cũng th ư ờ n g p h ải tạo điểm đỡ ba h oành. Vì vậy, liên k ết vì nách th ư ờ n g đơn g iản hơn so với liên k ế t vì nóc. T rên th ự c tế đ ã h ìn h th à n h các kiểu vì n ách khác n h a u n h ư n g nói ch ung các kiểu liên kết ở đ ây th ư ờ n g "n h ắc lại" cách liên k ế t vì nóc. Sau đây là n h ữ n g kiểu liên k ết phổ biến n h ất:
Liên kết kiểu chồng rường
Kiểu liên k ế t này có khi còn gọi tắ t là chống rư ờ n g nách hoặc cốn chồng rường. Thông th ư ờ n g đuôi củ a đầu dư (đỡ dưới câu đầu) chạy dài ra, x u y ên m ộ n g qua cột cái th à n h rư ờ n g đỡ h o àn h th ứ n h ấ t của vì nách. Con rường h ai ă n m ộng ch ố t vào cột cái, vươn ra đỡ cây h o à n h th ứ hai. Các con rư ờ n g kê tr ê n n h a u q u a các đấu vuông th ó t đáy tư ơ n g ứng. H oành th ứ b a củ a vì n ách n ằm trê n đầu cột quân. Ở n h ữ n g công trìn h lớn, đ ể có m ộ t không g ian rộ n g - th o á n g hem, người ta đ ã tă n g k h o ản g cách giữa cột cái và cột q uân, đồng th ờ i đ ặ t th ê m h o àn h m ái n ê n h ầu h ế t các di tích, vì n ách th ư ờ n g có số lượng rư ờ n g n h iều hơn. Ở n h iều đ ìn h rư ờ ng hai không tì lực lên x à n á c h m à gác tr ê n m ột trụ trố n . Từ th â n ngoài củ a trụ trố n này, m ộ t rường c ụ t (rường ba) ă n m ộng vào th â n trụ trố n rồi chạy ra đỡ h o àn h th ứ ba.
K hoảng không giữa cột cái, trụ trố n , dạ rư ờ n g hai và lư ng xà n ách có lát m ộ t v án dày, th ư ờ n g để làm nơi chạm tra n g trí. về
h ìn h th ứ c, vì n á c h kiểu này n h ắc n h ở đ ến liên k ế t b á n giá chiêng của vì nóc. C hậm m u ộ n h ơ n về sau, cũng x u ấ t h iện kiểu vì n ách chỉ có các con rư ờ ng chống lên n h a u qu a các đấu v uông th ó t đáy nhỏ. c ố n chồng rư ờ ng k hông chỉ gặp ở các di tíc h nổi tiế n g n h ư ở đ ìn h C hu Q uyến, đ ìn h Thổ Hà, đ ìn h H àn g K ênh... m à trở n ê n phổ b iế n hơn ở n h iề u nơi.
Liên kết kiểu k ẻ ngồi
Thông thường, với vì nóc theo kiểu vì kèo (hay cụ th ể là vì cột trốn - kẻ suốt, vì cột trốn - kẻ chuyền) thì vì nách chi là m ột kẻ ngồi ăn m ộng nơi đầu cột cái rồi chạv xuống khớp với đầu xà nách qua m ột m ộng khác. Kẻ này hơi cong lên phía trên để dồn lực xuống đầu các cột. Lưng kẻ đội m ộ t v án nong dày có k h o ét các ổ đỡ hoàn h . Kiểu liên k ế t này khá phổ biến ở Bắc Bộ và T rung Bộ n h ư đình Võ Liệt (Nghệ An) đ ền T ran g Liệt (Bắc Ninh)...
Trong nhiều trư ờ ng hợp chiếc kẻ này được tạo hình theo dạng
"cổ ngỗng", tỳ lực ở cột quân rồi vươn đầu cong theo chiều ngược lại để đỡ luôn cả m ái đua. Đôi khi người ta còn bỏ không làm xà nách n h ư ở hậu cung đình Thổ H à và m ột số nh à dân kiểu "đại khoa" ở làng Đồng Kỵ, Bắc Ninh... Cách thức này có niên đại rấ t m uộn, phổ biến n h ấ t dưới thời T hành Thái, Khải Đinh, Bảo Đại.
r • ô I Ẵ . Ị Ị Ậ Ậ
Liên kêt kiêu côn m ê
Tương tự kiểu vì v án m ê ở nóc, n h iều khi vì n á c h cũng được tạo bởi n h ữ n g tấ m v á n dày ken nhau . Mặt ván có chạm m ộ t hay n h iề u đ ề tài tra n g trí. Một tiêu biểu là vì nách của đ ìn h Phù Lão, Bắc Giang. Các kiểu liên k ết vì nách kể trê n được sử d ụ n g khá linh hoạt. Không n h ấ t th iế t vì nóc và vì nách của m ộ t công trìn h phải có kiểu liên k ế t giống nhau .
Thực tế, người ta "lắp gh ép " vì nóc kiểu này v à vì nách kiểu khác. T hậm chí các vì n ách của các bộ vì cũng không giống nhau , vì n ác h g ian giữa kh ác vì n ách gian bên. Tất cả phối hợp tạo n ên n h ữ n g liên k ết "Vì" đ a dạng, p h o n g phú. Loại k ết cấu này th ư ờ n g gặp phổ biến từ th ế kỷ XIX về sau.
Các liên kết đỡ m ải hiên
Để đỡ p hần "m ái đ u a ' ở h à n g hiên, người V iệt x ư a cũng đã có n h iề u kiểu liên k ế t khác n h au .
93
B ẩy h iên: Theo ch ú n g tôi, chỉ có n h ữ n g cấu kiện có phần đuôi ta m giác (nghé) đội vào d ạ/b ụ n g xà nách, chỉ ăn m ộ n g ở m ộ t điểm tự a duy n h ấ t trê n đ ầ u cột quân, d ù n g sức n ặ n g của m ái tr ê n đè xuống, th eo đ ú n g n g h ĩa đòn bẩy, mới được gọi là bẩy. Đây là cách liên k ế t đỡ m ái h iên phổ biến n h ấ t và có niên đại sớm n h ấ t (hiện biết) vào th ế kỷ XIV. Lưng bẩy th ư ờ n g đỡ m ột ván n o n g (hoặc m ộ t th â n gỗ n g ắ n hơn) có k h o ét các ổ đỡ hoành.
P hần m ái h iên dù đ u a dài bao n h iê u cũng không vượt qu á ba khoảng h oành, nghĩa là n h iều n h ấ t, bẩy cũng chỉ đỡ đến ba h o àn h m ái (kể cả tà u mái). T h ân bẩy và ván n ong là nơi tậ p tru n g n h iều đề tài chạm khắc.
D ấn từ th ư ợ n g điện ch ù a Bối Khê, có n h ữ n g chiếc b ẩ y niên đại sớm n h ấ t. Các m ái h iên đ u a ra khá rộng, trù m cả r a ngoài nền, n ê n th â n bẩy rấ t dài và th ấp . Bẩy v à ván n ong ch ạ m hình nổi dưới d ạn g m ak ara h á m iện g n g ử a lên n g ậm m ộ t đ ấ u vuông th ó t đáy đỡ cây h o àn h cuối cù n g của m ái. H ình thứ c n à y còn tru y ề n tới n g h i m ôn đ ền v u a Lê ở Bố Vệ, T h an h Hóa. Rõ ràng, thời kỳ này ch ư a có h iệ n tư ợ n g cây h o àn h đỡ ngói g iọ t gianh biến th à n h tà u m ái ăn m ộng vào đầu bẩy n h ư ở kiến trú c thời sau, có n g h ĩa là h iện tư ợ n g các góc m ái cong bởi tầ u m á i chư a x u ấ t h iệ n tro n g kiến trú c cổ ở đư ơng thời. Mái tò a T hư ợ ng điện ch ù a Mui (Thường Tín, H à Nội) đ ã k h ẳng đ ịn h điều này- (Năm 2006, n h ữ n g người tu bổ di tích đã xóa sổ y ếu tố lịch sử n à y ) .(1>
Chạy chéo xuống đỡ m ái đ u a n h ư n g bao giờ th â n b ẩ y cũng không có độ dốc n h ư củ a m ái.
C hính vì vậy, người ta p h ải gác th ê m ván nong, tứ c là độn th ê m m ộ t th â n gỗ, rồi đ ặ t g uốc/dép (là m ộ t loại đ ấu nhỏ) lên lưng v án để làm chỗ gác h o àn h . D iện tra n g trí do vậy cũ n g được
111 Thời gian ông Đặng Văn Tu làm giám đốc sở VHTT Hà Tây, do KTS.TS Hàn Tất Ngạn thiết kế và thục hiện.
m ở rộng th êm . Liên kết bẩy khá linh động, tù y th eo n h u cầu cần rộng h iên trước hay hiên sau để th à n h các kiểu "tiền bẩy-hậu kẻ" hay "tiền k ẻ -h ậ u bẩy".
Kẻ h iên: K ết cấu của h iên bằng kẻ g ắn với liên k ết của vì n ách b ằ n g kẻ ngồi hay kẻ cổ Iigỗng. Chiếc kẻ của vì nách chui m ột đ ầu vào cột cái, ăn m ộng é n qua đầu cột quân, vươn dài ra đỡ m ái hiên. N hiều người gọi cách liên k ết này là "kẻ liền bẩy"
hay "bẩy liền kẻ". Tuy nhiên, đây là kiểu liên k ết riên g biệt, x u ấ t n guồn từ liên k ế t vì kèo tre. H oàn to àn không n ê n gọi n h ư vậy dễ n h ầ m kiểu liên kết này với cách xử lý h iên b ằn g bẩy. Theo kỹ th u ậ t học và k ế t cấu, rõ ràn g cấu kiện này là m ộ t th â n gỗ liền, ăn m ộng ở cả đầu cột cái và đầu cột quân.
T rong h ầ u h ế t các công trìn h kiến trú c cổ Việt Nam, cách giải q u y ết vì n ác h và hiên b ằn g kẻ thư ờ ng chỉ được sử d ụ n g ở các kiến trú c p h ụ hoặc khá m u ộ n cũng có th ể ở các vì gian bên, gian hồi hoặc ở n ử a m ái phía sau công trin h (kiểu tiề n bẩy-hậu kẻ). T hân các kẻ cũng th ư ờ n g được chạm khắc tra n ơ trí liền với các v án n â n g đỡ h o à n h gác trê n lưng kẻ.
Cột hiên: T rong trư ờ n g hợp n h ằm th ỏ a m ãn n h u cầu m ở rộng lòng công trình, người ta tă n g th êm h àn g cột hiên. Cột hiên đư a ch ân m ái vươn ra rộng hơn. Tuy vậy, khoảng cách giữa h àng cột h iê n vói cột q u ân cũng ít khi lớn hơn khoảng cách giữa cột qu ân v à cột cái. Liên k ết giữa cột h iên v à cột q u ân n h ư lặp lại các kiểu liên k ế t giữa cột q u ân và cột cái. Có khi người ta d ùng lối chồng rư ờ n g (đình Đ áp c ầ u , Bắc Ninh), có khi là ván m ê, n h ư n g phổ b iến hơn là d ù n g m ộ t kẻ chuyền. Trong các kiến trú c có sáu h à n g ch â n cột th ì các liên k ết đỡ chân m ái (từ bẩy, kẻ đến con sơn) k h o ản g cách được tín h từ đầu cột q u ản ra đầu cột hiên.
Cách x ử lý n ày th ư ờ n g có n iên đại m uộn (thế kỷ XIX, XX). Tuy không phải là xu hướng riên g của kiến trú c N guyễn, vì các kết
95
cấu có sáu h àn g chân cột đ ã có từ n ử a cuối th ế kỷ XVII. Thực tế, từ cuối th ế kỷ XIX về sau, với sự th a m gia của gạch - vôi - vữa, n h iều khi người ta lại bỏ bớt các h àn g ch ân cột: h àn g ch â n cột q u ân p h ía sau bị th ay b ằn g tư ờng hậu. Rồi tư ờ ng gạch th a y th ế h àn g cột q u ân (và cả cột cái) của hồi, d ẫn đ ến h iệ n tư ợ n g có các kiến trú c kiểu tường hồi bít đốc? Có m ộ t điểm cần lưu ý ng ay rằng: khái n iệm cột h iên không bao gồm các cột đứng s á t ch ân m ái giọt gianh. N hững h àn g cột này không hề th a m gia vào liên k ết ch ín h m à th ư ờ n g chi có tác d ụ n g đỡ đầu bẩy (hoặc kẻ) n h iều khi được th ê m vào về sau. Các cột p hụ kiểu này th ư ờ n g được làm bằn g c h ấ t liệu khác (gạch xây, đá); n ếu bằn g gỗ thì th ư ờ n g có kích th ư ó c nhỏ hơn so với các cột khác.
Từ liên kết bộ vì gỗ cổ truyền, có th ể n h ậ n th ấ y m ộ t số đặc điểm củ a k ế t cấu kiến trú c đình d ự a trê n hệ k h u n g liên k ế t bằn g gỗ của người Việt:
- Trước h ế t các kiến trú c b ằng gỗ của đ ìn h làng V iệt th ể h iện m ộ t tín h th ố n g n h ấ t cao về m ặ t k ế t cấu. N hiều tru y ền th ố n g kiến trú c khác (quanh vùng và trê n th ế giới) th ư ờ n g có n h ữ n g liên kết, k ết cấu, th ậ m chí n h ữ n g cấu kiện đặc trư n g , d àn h riê n g cho từ n g loại h ĩn h kiến trúc. Ở V iệt Nam h ầ u n h ư không có sự p h ân tách giữa đ ìn h với các loại h ìn h kiến trú c khác.
- Tất cả các kiểu loại liên kết "vì" cùng những b iến thể của chúng, được sử d ụ n g ở khắp nơi, tro n g m ọi công trìn h kiến trú c có n h ữ n g công n ăn g khác nhau . Không kể hai loại h ìn h cơ bản, phổ b iến n h ấ t (vì giá chiêng, vì chồng rường), hai loại h ìn h sau - vì kèo v à vì ván m ê - tu y có h ạn chế, bó h ẹ p hơn tro n g sử d ụ n g n h ư n g cũ n g không h o àn to à n chỉ là k ết cấu của các n h à phụ.
N ghĩa là, cùng m ộ t k h u n g k ết cấu ấy, v ẫn m ộ t kiểu loại liên k ết "vì" ấy, người V iệt d ù n g cho h ầ u h ế t các loại h ìn h kiến trú c.
Từ n h à ở, lầu gác, cung đ iện đến đình, chùa, quán , m iếu ... đều
có th ể chu n g n h ữ n g kiểu loại liên kết ở bộ vì. K hung gỗ liên kết của n h ữ n g loại h ìn h kiến trú c khác n hau không h ẳ n có sự khác n h a u về k ế t cấu. Mà, có chăng chỉ là n h ữ n g sai b iệt về kích thước các cấu kiện và m ức độ tra n g trí chạm khắc. Hoặc giả có khác n h a u ch ú t ít, biến đổi kết cấu đi ch ú t ít th ì ch ủ yếu là để tiệ n cho việc bài trí nội th ất.
- Các kiểu liên k ết vì cổ tru y ền x u ất h iện có sớm, có m uộn do n h u cầu sử d ụ n g không gian m ặ t bằn g công trìn h và cả do c h ấ t liệu gỗ. Tuy nhiên, các kiểu loại ra đời sau, dù có n h ữ n g ưu đ iểm riêng, v ẫn không loại trừ các kiểu loại có trước đó. Kiểu vì giá chiêng với n iên đại khá sớm đã được b iến đổi để phù hợp với n h ữ n g n h u cầu m ới và tồn tại cho tới nay. Các kiểu loại n h iều khi được p h a trộn, phối hợp với n h ữ n g ưu đ iểm về k ết cấu và cùng được sử dụng. T rên th ự c tế ở các di tích, b ên cạnh các loại "vì' cơ bản, ch ú n g ta th ư ờ n g gặp rấ t n h iều biến th ể phức tạp. Kết cấu vì nóc n h iề u khi khó đ ặ t tê n và khó p hân b iệt bởi được ph a tạp, kết hợp từ n h iều loại h ìn h chính.
Khởi đ ẩu th ứ c kiến trú c cột - xà - kẻ có th ể được du nhập, n h ư n g d ần dần được Việt hóa, nói n h ư vậy có n g h ĩa là kiến trúc gỗ Việt N am cũ n g có n h ữ n g ả n h hưởng tiếp th u từ n h ữ n g tru y ền th ố n g kiến trú c khác. Song, tư duy nông n g h iệp th ự c tiễ n và th ự c d ụng của người Việt chỉ tiếp n h ậ n n h ữ n g gì p hù hợp với cái đ ã có, đã tồ n tại. Kiểu chồng đ ấu -tiếp rui đòi hỏi n h ữ n g biến đổi tương đương củ a các k ết cấu khác thuộc h ệ k h u n g v à hệ m ái đã ít được người V iệt chấp nhận.
- T rong k ế t cấu k h u n g liên k ết nói chung, tro n g liên k ế t bộ
"vì" nói riêng, m ỗi cấu kiện đều giữ m ột vai trò, đều có m ột công n ăn g kỹ th u ậ t. H ầu n h ư ít có cấu kiện th ừ a. Các y ếu tố cấu tạo và yếu tố ch ạm trổ hò a quyện vào nhau. Kiến trú c với các cấu kiện kỹ th u ậ t đ ã làm n ề n chuyển tải các đề tài ch ạm khắc m an g n g u ồ n gốc d â n d ã và đầy ch ấ t biểu trư ng. Khác với m ộ t số tru y ền
97
th ố n g kiến trú c x ung q u a n h nước ta, kiến trú c cổ tru y ền V iệt Nam ít có các cấu kiện chỉ th u ầ n tú y m an g tín h ch ất tra n g trí.
Các đề tài chạm trổ được th ể h iện ngay trê n các cấu kiện chịu lực. Các cấu kiện n h iều khi được cách điệu, p h ủ đầy hoa văn, n h ư n g kh ả n ăn g chịu lực của cấu kiện v ẫn được bảo đảm .
Ngay với các cấu kiện nhỏ, th ứ yếu cũ n g vậy. Một chiếc đấu được chạm th à n h h ìn h đài sen, hay h ìn h hổ phù, m ộ t chiếc cá n h gà được chạm lộng hay chạm k ên h bong h ìn h rồ n g m ộ t cách cầu kỳ, mới n h ìn tư ở ng n h ư được làm th êm cho đẹp. Thực ch ấ t đó vẫn là n h ữ n g chi tiế t thuộc cơ cấu chịu lực. Đ ấu sen hay đấu vuông th ó t đáy kê ở đầu và chân cột trốn, trê n đầu các cột, dưới các con rường đều có cùng m ột tác d ụ n g n h ư n h au . Các "cán h gà" th ự c ch ất là n h ữ n g con ch èn có khi m ô p hỏng kết cấu con sơn - đấu củng T rung Hoa, n h ằm đỡ th ê m cho n h ữ n g xà chỉ ăn m ộng vào đầu cột, n h ằm tă n g sự vững chắc cho liên kết. H ầu n h ư tấ t cả các cấu kiện ít n h iều đ ề u được chạm khắc. Các x à đai trước đó th ư ờ n g chỉ được chạm ở đầu, n h ư n g từ th ế kỷ XVIII cũng được chạm khắc n h iều dần ở p hần giữa xà. Chỉ có m ộ t vài cấu kiện (cột, hoành, tầu mái) là r ấ t h iếm th ấ y được chạm khắc, n h ư n g b ản th â n các cấu kiện ấy đã có vẻ đẹp riên g của liên kết.
Các cấu kiện cũng ít khi chỉ là n h ữ n g th â n gỗ tự n h iê n m à th ư ờ n g được gia công tạo hình, cách điệu. Rường, kẻ được uốn m ềm th à n h "h ìn h lư ng th ú , h ìn h b ụ n g lợn, h ìn h cổ ngỗng...".
Cột th ì có "đầu cán cân, ch ân q u ân cờ". H ình d án g ấy củ a các cấu kiện đ ã phổ biến từ khá sớm. Sang th ế kỷ XVII, rường - xà- kẻ còn được soi các đư ờng v iền chỉ dọc th eo chiều dài. Đến khoảng giữa th ế kỷ XIX lại phổ biến h ìn h th ứ c xẻ vuông th à n h sắc cạnh.