BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TÊN ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH LÝ LUẬN CỦA C MÁC VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG VẬN DỤNG LÝ LUẬN CỦA HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN NAY B.
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 3
1 LÝ LUẬN VỀ HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG CỦA C.MÁC 3
1.1 Những khái niệm cơ bản 3
1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá 3
1.3 Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động 3
1.4 Ý nghĩa đặc biệt của việc tìm ra hàng hoá sức lao động trong việc giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản: 5
2 VẬN DỤNG LÝ LUẬN CỦA HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN NAY 5
2.1 Hiện trạng thị trường sức lao động Việt Nam hiện nay 5
2.1.1 Thị trường sức lao động trong nước: 5
2.1.1.1 Số lượng lao động: 6
2.1.1.2 Trình độ và phẩm chất người lao động (Chất lượng của hàng hóa sức lao động): 6
2.1.1.3 Thị trưởng sức lao động và nạn thất nghiệp: 8
2.1.2 Chính sách tiền công, tiền lương tối thiểu đối với người lao động ở Việt Nam hiện nay 9
2.1.2.1 Tiền công 9
2.1.2.2 Về chính sách tiền lương tối thiểu: 10
2.1.3 Thị trường xuất khẩu lao động 10
2.2.Nguyên nhân của hiện trạng thị trường sức lao động và những bất cập trong chính sách tiền công, tiền lương ở Việt Nam hiện nay 12
Trang 32.2.1 Nguyên nhân của hiện trạng thị trường sức lao động của Việt
Nam hiện nay 12
2.2.2 Những hạn chế, bất cập trong chính sách tiền công tiền lương 13 2.3 Một số giải pháp nhằm bình ổn thị trường sức lao động và phát triển nguồn lao động và hoàn thiện chính sách tiền công tiền lương ở Việt Nam 15
2.3.1 Giải pháp bình ổn thị trường sức lao động và phát triển năng lực của nguồn lao động : 15
2.3.2 Giải pháp hoàn thiện chính sách tiền công tiền lương : 17
KẾT LUẬN 18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Nguồn lao động là tài sản quý giá và to lớn của quốc gia; vừa là mụctiêu, tiền đề, vừa là động lực để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xãhội đất nước Quan tâm đến con người, đặc biệt là giải quyết việc làm, ổnđịnh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động, còn thể hiệnbản chất, tính ưu việt của chế độ, đồng thời cũng là một trong những vấn đề
xã hội nóng bỏng hiện nay
Sự thịnh vượng của các quốc gia ngày nay không còn chỉ dựa vào sựgiàu có của nguồn tài nguyên thiên nhiên mà được xây dựng chủ yếu trên nềntảng văn minh trí tuệ của con người Tuy nhiên, việc đào tạo, phát triển vànhững chính sách đãi ngộ người lao động không phải của nước nào cũng làtiến bộ và hoàn thiện Thị trường sức lao động của mỗi nước cũng vì thế màhiện hình và biến động đầy phức tạp.Do đó, việc đề ra những chính sách vàgiải pháp nhằm bình ổn thị trường đặc biệt này luôn luôn có ý nghĩa thời sự
cả về lý thuyết lẫn thực tiễn
Lý luận về loại hàng hoá đặc biệt - sức lao động, Chủ nghĩa Mác –Lênin đã có những luận điểm khoa học, toàn diện và biện chứng Trên cơ sở đó,tạo tiền đề vững chắc cho việc lý giải và áp dụng vào thực tiễn xã hội nhữnggiải pháp nhằm ổn định và phát triển thị trường của loại hàng hoá đặc biệt nàycùng những vấn đề liên quan đến nó
Trang 5Việt Nam trong bối cảnh đổi mới kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng,vấn đề thị trường hàng hoá sức lao động không chỉ còn là một tiêu thức kinh
tế mà còn mang ý nghĩa chính trị Đặc biệt, đối với một đất nước đang trongthời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tiến tới hội nhập kinh tế quốc tế thìvấn đề này lại càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết,
Do vậy bài tập lớn ngoài việc để cập đến lý luận về hàng hoá sức laođộng của Mác còn đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao và hoàn thiệnthị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay
Trang 6- Thị trường sức lao động (Thị trường lao động): Là một bộ phận của
hệ thống thị trưởng, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là ngườilao động tự do và một bên là người có nhu cầu sử dụng lao động Sự trao đổinày được thoả thuận trên cơ sở mối quan hệ lao động như tiền lương, tiêncông, điều kiện làm việc thông qua một hợp đồng làm việc bằng văn bảnhay bằng miệng
1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá
Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sảnxuất Nhưng không phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng làhàng hoá Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hoá trong những điều kiệnlịch sử nhất định sau:
Trang 7- Người lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức laođộng của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hoá.
- Người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất và tưliệu sinh hoạt, họ trở thành người "vô sản" Để tồn tại, buộc người đó phảibán sức lao động của mình để kiếm sống
1.3 Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động
Như mọi hàng hoá khác hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính:
Giá trị và giá trị sử dụng Tuy nhiên, vì là một loại hàng hoá đặc biệtnên nó cũng có những đặc trưng riêng biệt sơ với tất cá các loại hàng hoáthông thường khác Cụ thể:
- Giá trị hàng hóa sức lao động : Do thời gian lao động xã hội cần thiết
để sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định Nhưng việc sản xuất và tư liệusinh hoạt nhất định về ăn, mặc, ở, học nghề…cho cá nhân Vì vậy, thời gianlao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được quy thànhthời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt
ấy Hay nói cách khác , giá trị hàng hóa sức lao động được đo gián tiếp bằnggiá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động
Có thể xác định được những bộ phận hợp thành lượng giá trị hàng hóa sức laođộng :
+ Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết đểtái sản xuất lao động , duy trì đời sống của bản thân người lao động
Trang 8+ Giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tỉnh thần cần thiết để nuôisống gia đình người lao động.
+ Chỉ phí đào tạo người lao động theo yêu cầu của sản xuất
Tuy nhiên, vì là hàng hoá đặc biệt nên giá trị hàng hoá sức lao độngkhác với giá trị hàng hoá thông thường ở chỗ nó còn bao hàm cả yếu tố tinhthần và lịch sử Điều có có nghĩa là, ngoài những nhu cầu về vật chất, ngườilao động còn có những nhu cầu về tinh thần, văn hoá (thưởng thức âm nhạc,giao lưu văn hoá, tiếp nhận thông tin ) Những nhu cầu đó lại phụ thuộc vàohoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, đồng thời, nó còn phụ thuộc
cả vào điều kiện địa lý, khí hậu của nước đó
- Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động: Là công dụng của nó đềthoả mãn nhu cầu tiêu dùng sức lao động của người sử dụng lao động Khácvới hàng hoá thông thường — sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giátrị và giá trị sử dụng đều biến mất theo thời gian thì hàng hoá sức lao động,khi được tiêu dùng, ngoài việc sản xuất ra một loại hàng hoá nào đó, đồngthời lại tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Phần lớnhơn đó chính là nguồn gốc giá trị thặng dư
1.4 Ý nghĩa đặc biệt của việc tìm ra hàng hoá sức lao động trong việc giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản:
Mác chỉ rõ công thức chung của tư bản: T H T' (Tiền ứng ra Hàng Tiền thu về) Trong đó, T'=T+At At ở đây chính là giá trị thặng dư.Nhưng giá trị thăng dư là do đâu mà có?
Trang 9-Mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản chính là ở chỗ, bằngnhiều phép chứng minh, C.Mác đã chỉ ra rằng: “ tư bản (giá trị mang lại giá
tị thặng dư) không thể xuất hiện từ trong lưu thông mà cũng không thể xuấthiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thờikhông phải trong lưu thông.”
Sự mâu thuẫn, tưởng chừng như đậm chất thần bí , khó hiểu trong côngthức chung của tư bản – nhờ việc phát triển ra hàng hóa sức lao động – đã trởnên sáng tỏ Hàng hóa sức lao động chính là điều kiện để chuyển hóa tiền tệthành tư bản Nghĩa là tiền chỉ trở thành tư bản khi nó được sử dụng làmphương tiện để mang lại giá trị thặng dư Đây cũng chính là chìa khóa để giảiquyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản
2 VẬN DỤNG LÝ LUẬN CỦA HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Hiện trạng thị trường sức lao động Việt Nam hiện nay
2.1.1 Thị trường sức lao động trong nước:
Năm 1861, để phát triển công nghiệp, nước Mỹ đã chủ trương xóa bỏchế độ nô lệ, giải phóng sức lao động của con người bằng sự kiện cuộc nộichiến Nam - Bắc Cuộc chiến kết thúc vào năm 1865, kể từ đó, người laođộng được bán sức lao động cho những ai trả giá cao, lương cao Hàng hóasức lao động được coi là một bước tiến của nền kinh tế Việt Nam, chỉ mớiđược chính thức công nhận từ năm 1986 Hàng hóa sức lao động là điều kiệntiên quyết để phát triển kinh tế công nghiệp, kinh tế thị trường
Trang 102.1.1.1 Số lượng lao động:
Theo số liệu thống kê 2020, cả nước hiện có lao động từ 15 tuổi trở lênđang làm việc là 53,4 triệu người Trong đó, lao động đang làm việc trongkhu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 17,5 triệu người; khu vực côngnghiệp và xây dựng là 16,5 triệu người, khu vực dịch vụ là 19,4 triệu người Mỗi năm, cả nước có thêm khoảng 2 triệu người tham gia vào thị trường laođộng
Lực lượng lao động nước ta khá đông đảo nhưng có sự phân bổ rấtkhông đồng đều giữa thành thị và nông thôn; giữa đồng bằng, ven biển vàmiền núi, Tây Nguyên; không đồng đều giữa cơ cấu lao động trong các ngànhkinh tế
2.1.1.2 Trình độ và phẩm chất người lao động (Chất lượng của hàng hóa sức lao động):
Nền kinh tế nước ta bước vào thời kỳ mới: Đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; cuộc cạnh tranh nhằm duy trì và pháttriên đang ngày càng gay gắt Điều đáng quan tâm là thời kỳ cạnh tranh bằnglao động giá rẻ đã qua, ngày nay, phải cạnh tranh bằng chất lượng lao động
Theo tính toán của nhóm nghiên cứu và tham khảo từ Tổ chức Laođộng quốc tế (ILO) thì năng suất lao động của Việt Nam chỉ tăng 5,4% (năm
2019 là 6,2%) và ở mức thấp nhất trong vòng 5 năm trở lại đây Cụ thể, năngsuất lao động bình quân đạt mức 117,94 triệu đồng, tương đương khoảng5.081 USD/lao động
Trong giai đoạn 2011 - 2020, tốc độ tăng năng suất lao động của ViệtNam là 5,1%, cao hơn mức trung bình của ASEAN, chỉ đứng sau Campuchia
Trang 11Nhưng nếu so sánh thì mức tăng này vẫn thấp hơn Trung Quốc là 7% và Ấn
Độ là 6%
Mức tăng trưởng năng suất lao động của Việt Nam vẫn chưa đủ nhanh
để thu hẹp khoảng cách với các quốc gia khác gia Cụ thể, năng suất lao độngcủa Việt Nam vẫn thấp hơn 26 lần so với Singapore, 7 lần so với Malaysia, 4lần so với Tung Quốc, 2 lần so với Philippines, 3 lần so với Thái Lan.Năngsuất lao động nước ta còn quá thấp là do nhiều nguyên nhân về cơ cấu kinh
tế ,về tổ chức và quản lí lao động , nhưng nhìn chung nguyên nhân chủ yếu làchất lượng của đội ngũ lao động nước ta còn quá kém
Kết quả điều tra lao động – việc làm của Bộ Lao động – Thương binh
và Xã hội cuối năm 2020 cho thấy tỉ lệ lao động qua đào tạo của nước tachiếm 64,5% Trong đó , tỷ lệ người thực sự có tay nghề (lao động kĩ thuật)mới đạt khoảng 24,5% Đang có sự mất cân đối lớn giữa tỷ lệ lao động đãđược đào tạo Đại học , Trung học và Công nhân kĩ thuật Nếu như trên thếgiới tỷ lệ này trung bình là 1:1,3:5 thì ở Việt Nam là 1:1,13:0.92 Điều đónghĩa là lao động có kỹ thuật còn quá ít cả về số lượng lẫn chất lượng
Về phẩm chất người lao động, nhiều nhà quản lý người nước ngoàinhận xét lao động Việt Nam cần cù, khéo léo, thông minh, sáng tạo, tiếp thunhanh kỹ thuật và công nghệ hiện đại nhưng thiếu tính chuyên nghiệp, kỹnăng lao động còn quá thấp , còn duy trì tác phong nông nghiệp trong côngviệc, thiếu tính đoàn kết , tự mình giải quyết công việc rất tốt nhưng nếu đặttrong một nhóm thì hiệu quả sẽ kém đi nhiều
Về đời sống vật chất của người lao động, tại doanh nghiệp, đang còntồn tại những vấn đề về tiền lương và thu nhập, điều kiện sống của người laođộng cần được giải quyết, nhiều hạn chế về an toàn lao động, vệ sinh thựcphẩm Mấy năm gần đây, giá cả nhiều mặt hàng thiết yếu tăng liên tục(năm 2019 tăng 5,6%; năm 2020 tăng trên 4%) Tiền lương thực tế giảm sút,
Trang 12tiền lương danh nghĩa được điều chỉnh quá chậm Mỗi lần tăng lương chẳngđáng là bao vì chênh lệch giữa các bậc lương chỉ có 50.000 đến 100.000đồng Có những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đặt ra định mứclao động quá cao, đơn giá sản phẩm thấp, khiến cho thu nhập của người laođộng vẫn quá thấp, không đủ trang trải cuộc sống.
Quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ, nhiều doanh nghiệp mớiđược thành lập, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoải tăng, điều này tạođiều kiện tăng nhanh đội ngũ người lao động kỹ thuật đồng thời đòi hỏi khôngngừng nâng cao trình độ của người lao động Đòi hỏi này lại càng trở nên cấpbách khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại thế giới(WTO)
2.1.1.3 Thị trưởng sức lao động và nạn thất nghiệp:
Theo bản báo cáo về thông số nhân lực trực tuyến Việt Nam củaVietnamworks.com, thị trường lao động Việt Nam trong những năm gần đây
đã xuất hiện những tín hiệu lạc quan
Chỉ số cầu trên thị trường lao động ở quý 4 năm 2020 đã đạt 15.025điểm, tăng 4.475 điểm (142%) so với quý 2019 Chỉ số cung cũng lên 11.580điểm, tăng thêm 2.716 điểm (30%) so với quý I/2019
Trong năm 2020 do ảnh hưởng từ dịch Covid-19 , chỉ số cầu nhân lựccủa 46 (trong tổng số 56 ngành,nghề) đều có sự biến động Lĩnh vực sales(bán hàng) dẫn đầu về tốc độ gia tăng chỉ số cầu nhân lực trong các nhómngành nghề với 447 điểm; lĩnh vực bán lẻ dẫn đầu danh sách chỉ số cầu theo tỉ
lệ với mức tăng 232% Tiếp theo đó là các lĩnh vực kế toán/ tài chính và côngnghệ thông tin/ phần mềm Các lĩnh vực lao động thời vụ/ lao động hợp đồnggiảm 25%, đứng đầu trong danh sách sụt giảm cầu nhân lực theo tỉ lệ Nguồnlao động trong lĩnh vực da giày giảm 19% Các lĩnh vực nhà hàng/ dịch vụ ănuống, nông nghiệp/ lâm nghiệp cũng giảm từ 15-18%
Trang 13Tuy cả chỉ số cung và cầu trên thị trường lao động trong những nămgần đây đều tăng, nhưng tình trạng thiếu nhân lực có tay nghề vẫn đang tiếpdiễn Theo một số chuyên gia về nhân lực, nguồn nhân lực ở Việt Nam rấtnhiều nhưng lại hạn chế rất lớn về chất lượng Trên thị trường lao động hiệntại, luôn xảy ra tình trạng khan hiếm nguồn nhân lực cao cấp và công nhân taynghề cao, đặc biệt là tại các khu chế xuất, khu công nghiệp, các cơ sở sản xuấtcông nghiệp nằm trên địa bản thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và một số tỉnh,thành lớn.
Tỷ lệ lao động thất nghiệp cũng theo đó mà tăng lên do nguồn cungtăng chậm, không đủ đáp ứng cầu và do nhiều nhà quản lý từ chối tuyển dụngngười lao động không có tay nghề hoặc tay nghề kém Năm 2020, tỷ lệ laođộng thất nghiệp ở nước ta là 2,26% Theo dự báo của bộ Lao Động, dokhủng hoàng kinh tế, trong năm 2022, sẽ có từ 500 đến 700 ngàn người mấtviệc làm
2.1.2 Chính sách tiền công, tiền lương tối thiểu đối với người lao động ở Việt Nam hiện nay
2.1.2.1 Tiền công
Là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, hay giá cảcủa hàng hoá sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bên ngoài thành giá cả củalao động Tiền công được hình thành theo quy luật thị trường với sức lao độngđược coi như một hàng hóa được phép tự do mua bán, trao đổi Lý luận vềhàng hoá sức lao động của Mác chính là cơ sở để xây dựng chính sách tiềnlương ở Việt Nam hiện nay
Theo nguyên tắc của C.Mác, tiền lương tối thiểu phải đảm bảo tái sảnxuất sức lao động đảm bảo duy trì và nâng cao đời sống vật chất và tính thần
Trang 14của người lao động cùng gia đình họ Tiền lương cũng được quyết định bởinhững quy luật giá cả của tất cả các hàng hoá khác; bởi quan hệ cung - cầu
Sự phân phối tiền lương công bằng, hợp lý hay không sẽ quyết định đến sựtận tâm, tận lực của người lao động đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Vìvậy, tiền lương và thu nhập phải thể hiện được sự công bằng trong phân phốitheo kết quả lao động và hiệu suất công tác của mỗi người
2.1.2.2 Về chính sách tiền lương tối thiểu:
Ở nước ta, tiền lương tối thiểu được xác định theo nhu cầu tối thiểu,khả năng của nền kinh tế, tiền công trên thị trường sức lao động, chỉ số giásinh hoạt Nó là căn cứ để tính các mức lương trong hệ thống thang lương,bảng lương, phụ cấp lương trong khu vực Nhà nước, tính mức lương ghi tronghợp đồng lao động và thực hiện các chế độ khác cho người lao động theo quyđịnh của pháp luật Đảng và Nhà nước luôn quan tâm ,cải cách, đổi mớichính sách tiền lương cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế Trong
đó xác định mức tiền công, tiền lương tối thiểu là căn cứ nền tảng để xác địnhgiá cả sức lao động
Mức lương tối thiểu luôn được điều chỉnh theo biến động giá cả thịtrường Từ 1/1/2021 mức lương tổi thiểu vùng vẫn thực hiện theo Nghị định90/2019/NĐ-CP do ảnh hưởng của dịch Covid 19nên mức lương tối thiểuvùng sẽ không tăng mà áp dụng theo mức cũ như sau : Vùng 1 là 4.420.000vnđ, vùng 2 là 3.920.000vnđ, vùng 3 là 3.430.000, vùng 4 là 3.070.000
2.1.3 Thị trường xuất khẩu lao động
Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động, Thương binh và
Xã hội), thời gian tới, bên cạnh mục tiêu mở rộng số lượng lao động đi làm