1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) bài tập lớn môn KINH tế CHÍNH TRỊ mác LÊNIN đề tài lý luận về hàng hóa sức lao động của c mác liên hệ thực tiễn việt nam

16 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác liên hệ thực tiễn Việt Nam
Người hướng dẫn TS Nguyễn Văn Hậu
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế Chính trị Mác-Lênin
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 294,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

C.Mác đã nói rằng trong chế độ tư bản chủ nghĩa, để đạt được giá trị thặng dư, nhà tư bản bắt buộc phải tìm ra trên thị trường một loại hàng hóa mà bản thân giá trị sử dụng của nó có một

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN

ĐỀ TÀI:

Lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác Liên hệ thực tiễn Việt Nam.

Họ và tên SV:

Lớp tín chỉ:

Mã SV:

Dương Hồng Anh Kinh tế chính trị Mác Lê Nin_(POHE Truyền thông Marketing 63+POHE Luật kinh doanh K63)_AEP(221)POHE_02 11210351

GVHD: TS NGUYỄN VĂN HẬU

HÀ NỘI, NĂM 2022

MỤC LỤC

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ………

II NỘI DUNG

1 Khái quát chung về hàng hóa và thị trường sức lao động của

C.Mác……

1.1 Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa…… 1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động………

1 3 Tiền công – giá cả của hàng hóa sức lao động trong chủ nghĩa tư bản

2 Thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay……….

2.1 Thực trạng của thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay………

2.2 Một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao giá trị sức lao động

ở Việt Nam hiện nay………

2

4 4 4 5

6 6 10

LUẬN………

TÀI LIỆU THAM KHẢO………

…………

13 14

Trang 3

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Chủ nghĩa tư bản ra đời gắn với sự phát triển ngày càng cao của sản xuất hàng hóa C.Mác đã nói rằng trong chế độ tư bản chủ nghĩa, để đạt được giá trị thặng dư, nhà tư bản bắt buộc phải tìm ra trên thị trường một loại hàng hóa mà bản thân giá trị sử dụng của nó có một thuộc tính đặc biệt là nguồn gốc sinh ra giá trị, đó là hàng hóa sức lao động

Trong suốt mấy chục năm tồn tại nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, ở nước ta, thị trường lao động với tư cách là một bộ phận cấu thành của thị trường, các yếu tố sản xuất đã không được công nhận Điều này có nguồn gốc từ các thành kiến mang tính nhận thức về hàng hóa sức lao động, về việc làm, về thất nghiệp Trong đó, quan điểm

về sức lao động là hàng hóa, có thể mua, bán, trao đổi được coi là một điều cấm kỵ Phân bổ lao động được thực hiện chủ yếu bằng sự điều động của nhà nước, thông qua các biện pháp hành chính, mệnh lệnh, rất ít khi tính đến các nhu cầu của thị trường Các quyết định liên quan đến nguồn lao động, nhất là các quyết định về phân bổ lực lượng lao động, về luân chuyển lao động, chủ yếu được thực hiện nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đề về công bằng xã hội hơn là chú trọng đến hiệu quả kinh tế

Hơn thế, quan điểm cho rằng, chỉ có các hoạt động trong khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tập thể mới được coi là có lao động, là có việc làm, trong một thời gian dài đã làm đóng băng thị trường lao động của khu vực phi nhà nước Những người làm việc ngoài hệ thống các cơ quan đơn vị kinh tế nhà nước hay tập thể thường

bị coi là không có việc làm, thậm chí những việc họ làm còn bị coi là "bất hợp pháp" Những người đi làm thuê, hoặc những người đứng ra thuê mướn nhân công, tạo công

ăn việc làm cho người lao động ngoài khu vực quốc doanh và tập thể bị coi là bóc lột,

bị hạn chế và phân biệt đối xử nặng nề Chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam 20 năm qua đã mang lại những thay đổi về chất liên quan đến phân bổ và sử dụng lực lượng lao động Thị trường lao động đã được công nhận về mặt pháp luật và bước đầu có những hoạt

Trang 4

động cụ thể Trên thực tế, sức lao động đã dần được coi là một loại hàng hóa, thể hiện qua việc công nhận quyền tự do tìm việc làm của người lao động và quyền thuê mướn người lao động làm việc cho mình của các chủ sử dụng lao động Tuy nhiên, đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế nước ta hiện nay là quá trình biến đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường Nền kinh tế thị trường đang thoát dần khỏi những ràng buộc về nhận thức và thực tiễn cũ Trong những khó khăn lớn về nhận thức mà chúng ta đang gặp phải có vấn đề bản chất của lao động và thị trường lao động Từng quen với quan niệm coi lao động là một giá trị xã hội và tinh thần cao nhất, một giá trị tự thân, thoát ra ngoài sự trao đổi, nhiều người không khỏi bỡ ngỡ khi thay đổi quan niệm về lao động, bởi vì từ nay lao động cũng không thể nằm bên ngoài các quan hệ thị trường Dù có mang những phẩm chất đặc biệt thế nào đi nữa, sức lao động vẫn là một thứ hàng hóa để mua bán theo giá trị của nó trên thị trường, xét trong mối tương quan với các hàng hóa khác và ngay cả với chính nó Vì vậy, việc tiếp tục nhận thức, vận dụng hợp lý lý luận hàng hóa sức lao động, về thị trường lao động là một vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay

Do đó, em xin chọn đề tài “Lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác.

Liên hệ thực tiễn Việt Nam” để làm bài tập lớn Trong bài viết, do lượng kiến thức

có hạn, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô, để bài viết được hoàn thiện hơn

Trang 5

II NỘI DUNG

1 Khái quát chung về hàng hóa và thị trường sức lao động của C.Mác

Sự biến đổi giá trị của số tiền cần phải chuyển hóa thành tư bản không thể xảy

ra trong bản thân số tiền ấy mà chỉ có thể xảy ra từ hàng hóa được mua vào (T - H) Hàng hóa đó không thể là một hàng hóa thông thường, mà phải là một hàng hóa đặc biệt, mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị Thứ hàng hóa

đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường

1.1 Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa.

Sức lao động đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích

Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất Nhưng không phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hóa Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hóa trong những điều kiện lịch sử nhất định sau đây: Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa

Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt, họ trở thành người “vô sản” và để tồn tại buộc họ phải bán sức lao động của mình để kiếm sống

Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành hàng hóa Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định biến thành để tiền biến thành tư bản

Trong các hình thái xã hội trước chủ nghĩa tư bản chỉ có sản phẩm của lao động mới là hàng hóa Chỉ đến khi sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định nào đó, các hình thái sản xuất cũ bị phá vỡ, thì mới xuất hiện những điều kiện để cho sức lao động trở thành hàng hóa

Trang 6

1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động

Hàng hóa sức lao động ra đời đánh dấu một giai đoạn mới trong xã hội tư bản,

nó là một phạm trù lịch sử, sinh ra và mất đi cùng với phương thức sản xuất của nó, và cũng như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng

Giá trị của hàng hóa sức lao động là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động Nói một cách cụ thể: Giá trị của hàng hóa sức lao động bằng giá trị những tư liệu tiêu dùng cần thiết về vật chất và tinh thần để nuôi sống người lao động và gia dình họ, cũng như những chi phí để đào tạo chuyên môn Giá trị hàng hóa sức lao động có tính lịch sử và xã hội, do đó tùy thuộc vào điều kiện mỗi nước và từng thời kỳ mà giá trị của hàng hóa sức lao động cao hay thấp

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng giống như hàng hóa thông thường là ở chỗ nó làm thỏa mãn nhu cầu nào đó của người mua, nhưng hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường là quá trình tiêu dùng nó đã sản xuất ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó mà nhà tư bản đã mua Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư

Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị và nghiên cứu giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn công thức chung của tư bản Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển hóa thành tư bản

1.3 Tiền công – giá cả của hàng hóa sức lao động trong chủ nghĩa tư bản

 Bản chất của tiền công:

Tiền công là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động, là giá cả của hàng hóa sức lao động Tuy vậy, dễ có sự lầm tưởng, trong xã hội tư bản, tiền công là giá cả của lao động Bởi nhà tư bản trả tiền công cho công nhân sau khi công nhân đã lao động để sản xuất ra hàng hóa và tiền công được trả theo thời gian lao động (giờ, ngày, tuần, tháng) hoặc theo số lượng hàng hóa đã sản xuất được Cái mà nhà tư bản mua của công nhân không phải là lao động, mà là sức lao động Tiền công không phải

là giá trị hay giá cả của lao động, mà chỉ là giá trị hay giá cả của hàng hóa sức lao động

Trang 7

 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế:

Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản

Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tư liệu tiêu dùng và dịch vụ mà người công nhân mua được bằng tiên công danh nghĩa của mình

Tiền công danh nghĩa là giá cả hàng hóa sức lao động, nó có thể tăng lên hay giảm xuống tùy theo sự biến động trong quan hệ cung – cầu về hàng hóa sức lao động trên thị trường Trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa vẫn giữ nguyên, nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên hay giảm xuống thì tiền công thực tế giảm xuống hay tăng lên

2 Thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay

2.1 Thực trạng của thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Thuận lợi của thị trường sức lao động

Nhờ có sự nỗ lực điều chỉnh các chính sách việc làm và điều tiết thị trường nên thị trường sức lao động nước ta đã có một số những chuyển biến thuận lợi sau đây:

 Thứ nhất: Lực lượng lao động dồi dào

Chúng ta đã tạo được nhiều việc làm hơn cho người lao động: Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý IV năm 2021 là 49,1 triệu người, tăng 1,82 triệu người so với quý trước và giảm 1,79 triệu người so với cùng kỳ năm trước Lao động

có việc làm ở khu vực thành thị là 17,9 triệu người, tăng 890,1 nghìn người so với quý trước và tăng 498,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; số có việc làm ở nông thôn

là 31,1 triệu người, tăng 934,5 triệu người so với quý trước và giảm 2,3 triệu người so với cùng kỳ năm trước

Có được những thành quả trên trước hết phải nói đến sự phát triển của hệ thống chính sách lao động việc làm nước ta: Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và cơ chế sửa đổi như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật lao động, nghị quyết TW3, TW5, nhiều nghị định về việc làm… Các chính sách như vay vốn, giải quyết việc làm, đào tạo nghề, các chính sách hỗ trợ phát triển thị trường sức lao động, chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần để thu hút lực lượng lao động trẻ đến các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa

 Thứ hai: Chất lượng nguồn lao động

Trang 8

Chiều cao của thanh niên Việt Nam đã có sự thay đổi mạnh mẽ ở nhóm thanh niên nam 18 tuổi Năm 2020, chiều cao của nhóm nam thanh niên đạt 168,1 cm, tăng 3,7 cm so với năm 2010 (164,4 cm) Bên cạnh đó, chiều cao của nhóm nữ thanh niên đạt 156,2 cm, trong khi con số này năm 2010 là 154,8 cm Tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ học đường (5- 19 tuổi) còn 14,8% (năm 2010 là 23,4%) Tỉ lệ thừa cân, béo phì tăng từ 8,5% (năm 2010) lên 19% sau 10 năm Trong đó, khu vực thành thị là 26,8%, nông thôn và 18,3%, miền núi là 6,9%

Trình độ học vấn: Lao động đã tốt nghiệp THPT trở lên trong năm 2021 tăng 13,5% so với năm 2009 (năm 2019 là 39,1%; năm 2009 là 25,6%); không thay đổi đối với nhóm THCS và giảm mạnh ở 3 nhóm trình độ thấp hơn (chưa bao giờ đi học giảm 1,7%; chưa tốt nghiệp tiểu học giảm 5,7%; tốt nghiệp tiểu học giảm 6,1%)

Trình độ chuyên môn kỹ thuật: Năm 2021, toàn quốc có 80,8% dân số từ 15 tuổi trở lên không có trình độ CMKT Một nửa trong số 19,2% người có trình độ CMKT là người có trình độ từ đại học trở lên (chiếm 9,3%) Tỷ lệ dân số có CMKT đã tăng lên đáng kể so với năm 2009, tăng 5,9% (năm 2009: 13,3%) Tỷ lệ dân số có trình

độ đại học trở lên tăng mạnh nhất, gấp hơn hai lần so với năm 2009 (năm 2009: 4,4%) Điều này cho thấy 10 năm qua, giáo dục đại học và trên đại học của Việt Nam đã có những bước chuyển mình, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước Năng suất lao động có xu hướng tăng trong những năm qua (năm 2005: 19,7 triệu đồng/người/năm, năm 2019: 110,5 triệu đồng/người/năm)

Có thể thấy trình độ lực lượng lao động nước ta đang từng bước được cải một phần vì các doanh nghiệp mới đầu tư vào các cụm - khu công nghiệp đòi hỏi lực lượng lao động có trình độ, vì vậy mà lực lượng lao động sẽ có ý thức tự nâng cao trình độ của mình

 Thứ ba: Cầu lao động

Sự chuyển dịch lao động trong những năm gần đây diễn ra theo hướng tích cực hơn: Do ảnh hưởng của tiến trình hội nhập kinh tế và nhất là dưới tác động của cơ chế thị trường mở cửa, nền kinh tế nước ta đã từng bước chuyển sang công nghiệp và hiện đại Nó kéo theo sự thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội cũng như cơ cấu lao động trên thị trường Dịch vụ và công nghiệp dịch vụ trong vài năm trở lại đây đã có những khởi sắc đáng kể Vì vậy nó cũng thu hút được rất nhiều lao động trong các ngành nghề kinh tế khác tạo sự chuyển dịch cơ cấu lao động nói chung

Trang 9

.Thứ tư: Về giá cả sức lao động ( tiền lương/ tiền công )

Hiện nay, cả nước có trên 4,145 triệu cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp, thu hút gần 17 triệu lao động vào làm việc, có khoảng 219 khu công nghiệp được thành lập, phân bố trên 54 tỉnh/thành phố Các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp thu hút trên 1 triệu lao động

Tiền lương và thu nhập của người lao động có xu hướng tăng, khoảng 10% -20%/năm, đời sống của người lao động được cải thiện Theo số liệu điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê, năm 2021, thu nhập bình quân tháng của người lao động trong quý IV năm 2021 là 5,3 triệu đồng, tăng 139 nghìn đồng so với quý trước Thu nhập bình quân tháng của lao động nam cao gấp 1,4 lần thu nhập bình quân của lao động nữ (6,2 triệu đồng so với 4,4 triệu đồng); thu nhập bình quân của lao động ở khu vực thành thị cao hơn lao động ở khu vực nông thôn 1,3 lần (6,3 triệu đồng so với 4,8 triệu đồng) So với quý III, quý IV mức thu nhập bình quân của người lao động đã được cải thiện hơn (tăng 139 nghìn đồng/người/tháng) Người lao động làm việc trong khu vực công nghiệp và xây dựng có mức thu nhập bình quân tăng cao nhất, với mức thu nhập là 5,9 triệu đồng/người/tháng, tăng 130 nghìn đồng Lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có mức thu nhập bình quân là 3,4 triệu đồng, tăng 72 nghìn đồng Lao động khu vực dịch vụ có mức thu nhập bình quân là 6,3 triệu đồng, tăng 108 nghìn đồng

Việc phát triển thị trường lao động nước ta trong thời gian qua đã thu được những thành quả nhất định Cần phải khẳng định rằng, nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa mà nước ta đang xây dựng là giai đoạn phát triển cao của nền kinh tế nhiều thành phần Về mặt phát triển kinh tế, Việt Nam đang chuyển từ sản xuất hàng hóa đơn giản lên sản xuất hàng hóa Xã hội chủ nghĩa, trong đó, có vận dụng những thành tựu của sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa Yếu tố cơ bản phân biệt sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa với sản xuất hàng hóa theo định hướng Xã hội chủ nghĩa là khả năng phát huy vai trò tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân của hàng hóa sức lao động Đây cũng chính là vấn đề then chốt trong việc vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác để có thể xây dựng một quan hệ lao động trong nền kinh

tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa tốt đẹp hơn trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

2.1.2 Những hạn chế và bất cập còn tồn tại ở Việt Nam hiện nay

Trang 10

Hiện nay, tuy trình độ lao động đã được nâng cao hơn, song lao động Việt Nam vẫn bị đánh giá là lao động chất lượng thấp cả trong và ngoài nước Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, về lực lượng lao động, tính đến năm 2021, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2021 đạt 50,5 triệu người, giảm 791,6 nghìn người so với năm trước Trong đó lực lượng lao động của khu vực nông thôn chiếm 70,3% Tuy nhiên, số người trong độ tuổi lao động đông không có nghĩa là thị trường lao động Việt Nam đáp ứng đủ nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp Bởi số lao động có tay nghề, có chất lượng của nước ta đang còn rất hạn chế Trong tổng số 50,5 triệu lao động chỉ có gần 7,8 triệu người đã được đào tạo, chiếm 15,4% Sự chênh lệch về chất lương nguồn lao động được thể hiện rõ nhất là ở khu vực nông thôn và thành thị Ở thành thị lao động

đã được đào tạo chiếm 30,9%, trong khi ở nông thôn chỉ có 9% Sự chênh lệch này là quá lớn, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế chung của nước

Một phần nguyên nhân quan trọng là do hệ thống giáo dục chưa đồng bộ dẫn đến thiếu công nhân kỹ thuật có tay nghề, chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất của một nền công nghiệp hiện đại Nội dung kiến thức đào tạo hiện nay quá lớn mà trong khi đó tính ứng dụng của nó không cao Hệ thống giáo dục mang nặng tính lý thuyết, không có điều kiện cho học sinh, sinh viên có điều kiện thực hành, tiếp cận với thực hành thực tế

Dưới sức ép của bằng cấp thị trường, hiện tượng “thừa thầy, thiếu thợ” cũng là một vấn đề bất cập

Những bất cập ngày càng lớn giữa “cung – cầu” sức lao động trên thị trường lao động Hiện nay ở Việt Nam cung về sức lao động đang vượt quá cầu và sẽ còn tiếp tục vượt trong tương lai Hàng năm cung sức lao động tăng từ 3,2% đến 3,5%, như vậy mỗi năm chúng ta sẽ có thê khoảng 1,3 đến 1,5 triệu người đến độ tuổi lao động Đó là hậu quả của việc bùng nổ dân số

Cấu trúc nguồn nhân lực Việt Nam phân bổ rất bất hợp lý, có tới gần 80% lực lượng lao động ở nông thôn, mà ở đây việc làm không đầy đủ và thất nghiệp có thể lên tới 30% Những lao động này tự do đi đến các thành phố và những khu công nghiệp mới với mục đích tìm kiếm việc làm, điều đó còn làm tăng hơn nữa về cung sức lao động Nông dân là những người lao động không có chuyên môn, vì vậy phải luôn sẵn sàng chấp nhận những việc làm có thu nhập thấp, do vậy lại càng làm tăng thêm sự cạnh tranh tiêu cực trên thị trường lao động

Ngày đăng: 02/12/2022, 05:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(1) NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. (2010). Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Năm: 2010
(2) NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. (2007). Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình Kinh tế - Chính trị Mác – LêNin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế - Chính trị Mác – LêNin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Năm: 2007
(4) Tổng cục thống kê Việt Nam (2022). Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm quý IV năm 2021 và chỉ số phát triển con người Việt Nam 2016-2020.Retrieved 16 April 2022, from https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/01/thong-cao-bao-chi-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-iv-nam-2021-va-chi-so-phat-trien-con-nguoi-viet-nam-2016-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm quý IV năm 2021 và chỉ số phát triển con người Việt Nam 2016-2020
Tác giả: Tổng cục thống kê Việt Nam
Nhà XB: Tổng cục thống kê Việt Nam
Năm: 2022
(5) Tổng cục thống kê Việt Nam (2022). Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm quý I năm 2022. Retrieved 14 April 2022, from https://www.gso.gov.vn/du- lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/04/thong-cao-bao-chi-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-i-nam-2022/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm quý I năm 2022
Tác giả: Tổng cục thống kê Việt Nam
Nhà XB: Vietnam General Statistics Office
Năm: 2022
(3) ( 2022). Retrieved 17 April 2022, from https://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2012/17473/Ly-luan-hang-hoa-suc-lao-dong-va-tien-cong-cua-C.aspx Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w