1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA vấn đề CHUNG của hợp ĐỒNG bộ môn pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồnga

21 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 489,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày29/6/2017, ông Phan Qúy và bà Lê Thị Bích Thủy yêu cầu các ông Dư, ông Sĩ và ông Thắng trả lại 674 m² đất theo các hợp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất từ năm 2002 và 2009 vì hợp

Trang 1

BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG

Bộ môn: Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Giảng viên: Hoàng Vũ Cường

Trang 2

1 Đoạn nào trong Quyết định số 171 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa được côngchứng, chứng thực? 2

2 Đoạn nào trong Quyết định số 171 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS

2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDSnăm 2015 có hiệu lực? 2

Trang 3

4 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực? 4

5 Theo BLDS 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bốhợp đồng vô hiệu về hình thức 4

6 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực? 4

7 Trong quyết định số 93, việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phụckhông? Vì sao? 4Vấn đề 2: Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng 5

1 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có

vi phạm 5

2 Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị huỷ bỏ? 6

3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh VĩnhLong (về huỷ bỏ hay vô hiệu hợp đồng) 7

4 Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao? 7

5 Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên nhưthế nào và suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của Toà án nhân dân tỉnhVĩnh Long 7

6 Điểm giống nhau và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏhợp đồng do có vi phạm 8

7 Ông Minh có được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên không? Vìsao? Nếu có, nêu rõ văn bản cho phép hủy bỏ 10Vấn đề 3: Đứng tên giùm mua bất động sản 10

1 Theo văn bản và theo thực tiễn xét xử, Tòa án có tuyên bố vô hiệu hợp đồngmua bán nhà đất với ông Hải không? Nêu rõ cơ sở khi trả lời 11

2 Nếu bà Lâm vẫn không đủ điều kiện để đứng tên sở hữu nhà đất nêu trên và chịHồng muốn là chủ sở hữu nhà đất này thì phải xử lý như thế nào? Nêu rõ cơ sở khitrả lời 12

3 Nếu nay bà Lâm đủ điều kiện để đứng tên sở hữu nhà đất nêu trên thì Tòa án cóđược để bả Lâm đứng tên sở hữu nhà đất không? Nêu rõ cơ sở khi trả lời 12

4 Câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không khi chị Hồng cũng muốn đứng tên chủ

sở hữu nhà đất nêu trên? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời 12

5 Đối với khoản tiền chênh lệch giữa tiền đầu tư và giá trị hiện tại của nhà đất cótranh chấp (1,4 tỷ đồng), Tòa án phải xử lý như thế nào, Tòa án có được tịch thusung quỹ Nhà nước không? Nêu rõ cơ sở khi trả lời 13

6 Hướng giải quyết trên về tiền chênh lệch của Tòa án nhân dân tối cao đã có Án lệchưa? Nếu có, nêu Án lệ đó 13

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 5

Nguyên đơn: ông Phan Quý và bà Lê Thị Bích Thủy

Bị đơn: ông Lê Văn Dư, ông Lê Sĩ Thắng, ông Khâu Văn Sĩ

Nội dung:

Ông Phan Quý và bà Lê Thị Bích Thủy có quyền sử dụng diện tích 3.500m² đấttrồng cây hằng năm thuộc thửa đất 504 tờ bản đồ số 40 tọa lạc tại phường 15,quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh theo nội dung thay đổi sau khi cấp Giấychứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07/10/2008 Trong quá trình sử dụng đất,ông Quý và bà Thủy có ký hợp đồng bằng giấy viết tay chuyển nhượng quyền

sử dụng đất cho ông Khâu Văn Sĩ, ông Lê Sĩ Thắng, ông Lê Văn Dư Ngày29/6/2017, ông Phan Qúy và bà Lê Thị Bích Thủy yêu cầu các ông Dư, ông Sĩ

và ông Thắng trả lại 674 m² đất theo các hợp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất từ năm 2002 và 2009 vì hợp đồng chưa có hiệu lực, các bên nhậnchuyển nhượng chưa đăng ký quyền sử dụng đất nhưng tự ý chuyển nhượng lại

và tiến hành xây dựng công trình trên đất trái phép Đồng thời, bên nhậnchuyển nhượng là ông Lê Văn Dư có đơn phản tố ngày 10/8/2017, yêu cầuđược công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Tòa Giám đốcthẩm nhận định : Các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đều vi phạmđiều cấm của pháp luật, cụ thể là: người sử dụng đất chưa có quyền sử dụng đấthợp pháp; diện tích đất chuyển nhượng cho ông Dư, ông Thắng không đảm bảođiều kiện tách thửa; thủ tục chuyển nhượng bằng giấy viết tay, không có côngchứng, chứng thực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Vì vậy, quyết địnhhủy các bản sơ thẩm, phúc thẩm và giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân quận GòVấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật

1 Đoạn nào trong Quyết định số 171 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực?

- Đoạn văn trong Quyết định số 171 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất được xác lập trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực và chưa được côngchứng, chứng thực là: “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ôngQúy, bà Thủy với ông Sĩ được ký kết tại thời điểm ông Quý, bà Thủy chưađược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vi phạm về điều kiện chuyểnquyền sử dụng đất theo khoản 1 Điều 693 Bộ luật Dân sự năm 1995; Hợp đồngchuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Quý, bà Thủy với ông Dư, ôngThắng không đủ diện tích đất tối thiểu để tách thửa là vi phạm điều kiện táchthửa theo Quyết định số 19/2009/QĐ-UBND ngày 25/02/2009 của Ủy bannhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụngđất đều là giấy viết tay, không có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm

Trang 6

quyền Như vậy, tại thời điểm xác lập giao dịch, các bên đương sự đều vi phạm

về điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất Tuy nhiên, các bên chuyểnnhượng đã thực hiện xong nghĩa vụ theo hợp đồng, đã giao nhận tiền và giaonhận đất; bên nhận chuyển nhượng đã xây dựng nhà và đang quản lý, sử dụngđất tranh chấp.”

- Và đoạn: “Sau khi chuyển nhượng, ông Quý, bà Thủy được cấp quyền sử dụngđất nên điều kiện về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được khắc phục.Tuy nhiên, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất này đã được xác lậpbằng văn bản nhưng vi phạm bắt buộc về công chứng, chứng thực

Thực tế cho thấy, bên nhận chuyển nhượng là ông Sĩ, ông Dư, ông Thắng đãnhận đất và thanh toán đủ tiền cho ông Quý và bà Thủy, các bên chưa thực hiệncông chứng, chứng thực hợp đồng, vi phạm quy định bắt buộc về công chứng,chứng thực

2 Đoạn nào trong Quyết định số 171 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS

2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực?

- Đoạn trong Quyết định 171 cho thấy Tòa án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015cho hợp đồng chuyển nhượng: “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đấtđều là giấy viết tay, không có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩmquyền Như vậy, tại thời điểm xác lập giao dịch, các bên đương sự đều vi phạm

về điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất Tuy nhiên, các bên chuyểnnhượng đã thực hiện xong nghĩa vụ theo hợp đồng, đã giao nhận tiền và giaonhận đất; bên nhận chuyển nhượng đã xây dựng nhà và đang quản lý, sử dụngđất tranh chấp.”

- Và đoạn: “Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không công nhận các hợp đồngnày có hiệu lực pháp luật nhưng các bên liên quan đã thực hiện hợp đồng, đãgiao nhận đất và giao nhận tiền xong, nên việc không tuyên bố hợp đồng vôhiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu là giải quyết vụ ánchưa triệt để.”

3 Việc Toà án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên có thuyết phục không? Vì sao?

- Theo quan điểm của nhóm, việc Tòa án áp dụng Điều 129 cho trường hợp nhưtrên là chưa thuyết phục

- Bởi lẽ:

+ Theo quy định tại khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 thì: “Giao dịch dân sự

đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về côngchứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất haiphần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc cácbên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trongtrường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứngthực.”

+ Quy định này nêu rõ chỉ áp dụng cho các loại giao dịch mà luật bắt buộcphải công chứng, chứng thực, không áp dụng cho trường hợp khác về

Trang 7

điều kiện có hiệu lực hình thức của giao dịch (không được quy địnhtrong điều 129 như đăng ký1).

+ Trong trường hợp này, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyểnnhượng quyền sử dụng đất là phải đăng ký theo quy định tại khoản 3Điều 188 Luật đất đai 2013 2

+ Vậy nên dù một trong hai bên đã thực hiện ⅔ nghĩa vụ hay thậm chíthực hiện xong nghĩa vụ thì cũng không thể áp dụng Điều 129 BLDS2015

Tóm tắt Quyết định số 93/2018/DS-GĐT ngày 29/11/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Tên bản án:

Quyết định giám đốc thẩm

Số: 93/2018/DS-GĐT

Ngày 29/11/2018

V/v: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”

- Nguyên đơn: Ông Võ Sĩ Mến và bà Phùng Thị Nhiễm

- Bị đơn: Ông Đoàn Cưu và bà Trần Thị Lắm

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Đoàn Tấn Linh, bà Nguyễn ThịMai

- Nội dung: Ngày 10/08/2009, ông Cưu, bà Lắm và con trai là Đoàn Tấn Linhlập hợp đồng thoả thuận chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Mến, bà Nhiễmmột lô B khi được Nhà nước giao đất, giá chuyển nhượng là 90.000.000 VND,diện tích 5x20m Sau khi viết hợp đồng chuyển nhượng, hai bên đã hoàn thànhnghĩa vụ Vào ngày 17/10/2016, ông Cưu, bà Lắm được cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất nhưng sau đó họ chỉ giao giấy chứng nhận này cho ông Mến, bàNhiễm mà không làm thủ tục chuyển nhượng Nay ông Mến, bà Nhiễm yêu cầuông Cưu, bà Lắm phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất trên cho họ Ông Cưu,

bà Lắm có đơn phản tố yêu cầu Toà án tuyên huỷ hợp đồng chuyển nhượng vì chorằng tại thời điểm chuyển nhượng chưa có đất và hợp đồng không được công nhận,chứng thực Tại Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa công nhận hợp đồng chuyển nhượng làđúng và bác yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu huỷ hợp đồng chuyểnnhượng nhưng tuyên buộc ông Cưu, bà Lắm làm thủ tục chuyển nhượng cho ôngMến, bà Nhiễm là không thể thi hành án Tại Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa xác địnhhợp đồng này là vô hiệu do vi phạm về nội dung và hình thức của hợp đồng Ngày02/03/2018, nguyên đơn đề đơn đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại ĐàNăng xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm.Tại Quyết định số 68/2018/KN-DS ngày 19/09/2018, Chánh án Tòa án nhân dâncấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại ĐàNẵng xét xử giám đốc thẩm, hủy toàn bộ bản án phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ

án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy

1 Tưởng Duy Lượng, "Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự

về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức", Tạp chí nghiên cứu lập pháp, 9(361) năm 2018, tr.38-41.

2 Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính

Trang 8

định của pháp luật Tại Quyết định giám đốc thẩm số 93/2018/DS-GĐT ngày29/11/2018, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng quyết định chấp nhận khángnghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, công nhận hợp đồngchuyển nhượng giữa 2 bên tuy có vi phạm về mặt hình thức nhưng có hiệu lực căn

cứ vào khoản 2 Điều 132 BLDS 2015 và huỷ toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm,giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử lại theo thủ tục phúcthẩm

4 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực?

- Đoạn trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụngđất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực là “Về hình thức củahợp đồng: Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 10/8/2009giữa vợ chồng ông Cưu, bà Lắm với vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm không đượccông chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức ”

5 Theo BLDS 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức.

- Theo quy định tại khoản 2 Điều 132 BLDS 2015: “Hết thời hiệu quy định tạikhoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thìgiao dịch dân sự có hiệu lực.”

6 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực?

- Đoạn trong Quyết định số 93 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực là: “Về hình thứccủa hợp đồng: Đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày01/01/2017, thời hiệu được áp dụng theo qui định của BLDS năm 2015 (điểm dkhoản 1 Điều 688 BLDS 2015) Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đấtlập ngày 10/8/2009 giữa vợ chồng ông Cuu, bà Lắm với vợ chồng ông Mến, bàNhiễm không được công chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức.”

7 Trong quyết định số 93, việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao?

- Theo nhóm, quyết định của Tòa là thuyết phục

- Ngày 10/09/2009, hai bên nguyên đơn và bị đơn xác lập hợp đồng chuyểnnhượng quyền sử dụng đất Hợp đồng này lại không được đem đi công chứng,chứng thực theo điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai là vi phạm về hìnhthức Mà đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 01/01/2017 thìthời hiệu được áp dụng theo quy định của BLDS năm 2015 (điểm d khoản 1Điều 688 BLDS 2015) Vậy tại thời điểm đó, căn cứ theo Điều 129 Bộ luật nàythì hợp đồng trên là vô hiệu Tuy nhiên, từ khi xác lập hợp đồng đến ngàynguyên đơn khởi kiện là 18/4/2017 là đã hết thời hiệu 02 năm quy định tạikhoản 1 Điều 132 BLDS 2015 nên hợp đồng trên vẫn có hiệu lực căn cứ theokhoản 2 Điều 132 Bộ luật này.Vì vậy, việc Tòa quyết định hợp đồng chuyểnnhượng trên có hiệu lực là hợp lý, phù hợp với quy định của pháp luật

Trang 9

VẤN ĐỀ 2: ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT, HỦY BỎ DO KHÔNG THỰC

HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG Tóm tắt Bản án số 06/2017/KDTM-ST

Ông Liêm với công ty Đông Phong Cần Thơ ký hợp đồng thế chấp ô tô ngày20/6/2012 với Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam thịnh vượng Cần Thơ,

1 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có

vi phạm.

● Điểm giống nhau:

- Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận

- Trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền đểhoàn trả

- Việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng đều liênquan đến nhân thân do Bộ luật này và luật khác có liên quan quy định

- Do nhầm lẫn;

- Do bị lừa dối, đe dọa, cưỡngép;

- Do người xác lập không nhậnthức và làm chủ hành vi củamình;

- Do không tuân thủ quy định

về hình thức;

- Do có đối tượng không thểthực hiện được

=> CSPL: Điều 122, Điều 407,Điều 408 BLDS 2015

- Vi phạm điều kiện hủy bỏ màcác bên đã thỏa thuận;

- Vi phạm nghiêm trọng nghĩa

vụ hợp đồng;

- Trường hợp khác do pháp luậtquy định

=> CSPL: Điều 423 BLDS

2015

Trang 10

về giải quyết tranh chấp.

- Bên bị thiệt hại do hành vi viphạm nghĩa vụ của bên kiađược bồi thường

=> CSPL: Điều 427 BLDS

2015Tính chất Không làm phát sinh, thay thế,

chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân

sự của các bên kể từ thời điểmgiao dịch được xác lập

=> CSPL: khoản 1 Điều 131BLDS 2015

Hợp đồng này không có hiệulực tại thời điểm giao kết, cácbên không phải thực hiện nghĩa

vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận

về phạt vi phạm, bồi thườngthiệt hại và thỏa thuận về giảiquyết tranh chấp

=> CSPL: khoản 1 Điều 427BLDS 2015

2 Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị huỷ bỏ?

- Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu

- Tòa án nhận định: “Xét hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 nêu trên là vôhiệu theo quy định tại các Điều 122 của Bộ luật Dân sự nên không có căn cứtuyên hủy hợp đồng cũng không xét yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng của cảnguyên đơn và bị đơn vì hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa

vụ của các bên ngay từ thời điểm giao kết, không ràng buộc trách nhiệm cácbên đã giao kết trong hợp đồng mà phải tuyên hợp đồng vô hiệu và xử lý hậuquả theo Điều 131 của Bộ luật Dân sự”

3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về huỷ bỏ hay vô hiệu hợp đồng).

- Hướng giải quyết nêu trên của Tòa án là hợp lý

- Vì xét thấy, Hợp đồng mua bán xe máy ngày 25/5/2012 vô hiệu là có căn cứ:

+ Theo Điều 122 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự không có một trong cácđiều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừtrường hợp Bộ luật này có quy định khác.”

+ Hợp đồng mua bán xe máy nêu trên đã vi phạm quy định về năng lựcchủ thể tại điểm a khoản 1 Điều 117, theo đó để tham gia vào một giaodịch dân sự: “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vidân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập.”

+ Trên hợp đồng ghi bên mua là “Trang trí nội thất Thanh Thảo”, ngườiđại diện Nguyễn Thị Dệt là không đúng vì bà Dệt không đại diện choTrang trí nội thất Thanh Thảo Thực chất, người đại diện cho công tynày là ông Trương Hoàng Thành Vậy nên bà Dệt không có năng lực chủthể phù hợp vì bà không có khả năng đại diện cho “Trang trí nội thấtThanh Thảo” xác lập giao dịch dân sự

Ngày đăng: 07/06/2022, 21:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w