Họ tên SVHV Nguyễn Phương Thủy – 20D100055 Mã LHP 2183HCMI0131 Trang 17 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI HỌC KỲ I NĂM HỌC 2021 – 2022 (Phần dành cho sinh viên học viên) Bài thi học phần LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Mã số đề thi 27 Ngày thi 16122021 Tổng số trang 07 Số báo danh 54 Lớp 2183HCMI0131 Họ và tên NGUYỄN PHƯƠNG THỦY Điểm kết luận GV chấm thi 1 GV chấm thi 2 BÀI LÀM Câu 1 ❖ HOÀN CẢNH LỊCH SỬ Hoàn cảnh thế giới Sau chiến tranh thế giới thứ hai, thế giới chia làm hai phe, bao gồm phe dân.
Trang 1Họ tên SV/HV: Nguyễn Phương Thủy – 20D100055 - Mã LHP: 2183HCMI0131 Trang 1/7
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Họ và tên: NGUYỄN PHƯƠNG THỦY
* Hoàn cảnh trong nước
Cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng, đặc biệt sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nhà nước đã thực hiện quyền làm chủ của nhân dân do Đảng lãnh đạo, đưa nhân dân Việt Nam từ người dân nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, tự mình quyết định vận mệnh lịch sử của mình Nhân dân ta đã giành được nhiều thắng lợi
to lớn trong cuộc kháng chiến, uy tín của Đảng và Chính phủ ta được nâng cao trên trường quốc
tế
Trang 2❖ NỘI DUNG CHÍNH CƯƠNG CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Nội dung cơ bản của của báo cáo được phản ánh trong Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam được Đại hội thông qua, gồm những nội dung quan trọng sau đây:
Xác định tính chất xã hội Việt Nam: lúc này bao gồm 3 tính chất: “Dân chủ nhân dân,
một phần thuộc địa và nửa phong kiến” Trong xã hội đó, chứa đựng những mâu thuẫn sau: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược, mâu thuẫn giữa đông đảo nhân dân với địa chủ phong kiến và mâu thuẫn giữa nhân dân lao động với tư bản ở trong nước Trong
đó, Đảng ta xác định, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược là mâu thuẫn chính, mâu thuẫn đó đang được giải quyết trong quá trình kháng chiến của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ Nó diễn ra dưới hình thức quyết liệt, đó là chiến tranh Chính vì vậy, đã quy định rõ đối tượng của cách mạng Việt Nam
Đối tượng cách mạng: gồm hai đối tượng Trong đó đối tượng chính là chủ nghĩa đế
quốc xâm lược cụ thể lúc này là đế quốc Pháp và bọn can thiệp Mỹ Đối tượng nay là phong kiến, cụ thể là phong kiến phản động
Nhiệm vụ cách mạng: Để xoá bỏ các đối tượng trên, Chính cương nêu rõ ba nhiệm vụ
cơ bản của cách mạng ta là: một là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc Hai là xoá bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng Ba là phát triển chế độ dân chủ nhân dân gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội Những nhiệm vụ trên có mối quan hệ khăng khít với nhau Nhưng nhiệm vụ chính trước mắt đó
là tập trung đấu tranh chống xâm lược, hoàn thành công cuộc giải phóng dân tộc Cho nên, phải tập trung lực lượng vào việc kháng chiến để quyết thắng quân xâm lược
Lực lượng cách mạng: Để thực hiện các nhiệm vụ đó, Đảng ta xác định các lực lượng
cách mạng Việt Nam gồm có 4 giai cấp: Công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc Bên cạnh đó, còn có những thân sĩ (địa chủ, thân hào) có tinh thần yêu nước yêu nước và tiến
bộ Những giai cấp, tầng lớp và phần tử đó đã tập hợp lại thành nhân dân, mà dựa trên nền tảng được đưa ra Trong đó, giai cấp giữ vai trò là lãnh đạo cách mạng chính là giai cấp công nhân
Đặc điểm cách mạng: Tổng Bí thư Trường Chinh đưa ra ba loại hình cách mạng của
Lênin gồm: cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng tư sản kiểu mới và cách mạng vô sản Cách mạng Việt Nam được xác định là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân “Cách mạng dân tộc nghĩa” là nó đánh đổ đế quốc giành độc lập cho dân tộc “Cách mạng dân chủ” hiểu là
nó đánh đổ giai cấp phong kiến giành lại ruộng đất cho nông dân “Cách mạng nhân dân” nghĩa
là nó do nhân dân tiến hành cuộc cách mạng ấy Xong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân sau đó tiến triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa
Trang 3Họ tên SV/HV: Nguyễn Phương Thủy – 20D100055 - Mã LHP: 2183HCMI0131 Trang 3/7
Triển vọng và con đường cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội Đây là một quá trình lâu dài có các giai đoạn phát triển tương ứng với những nhiệm vụ cụ thể, thể hiện qua ba giai đoạn:
✓ Giai đoạn thứ nhất: nhiệm vụ chủ yếu đó là hoàn thành giải phóng dân tộc Trong
giai đoạn này, mũi nhọn của cách mạng nhằm vào bọn Đế quốc xâm lược
✓ Giai đoạn thứ hai: nhiệm vụ chủ yếu là xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa
phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế
độ dân chủ nhân dân
✓ Giai đoạn thứ ba: nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến
lên thực hiện chủ nghĩa xã hội
Ba giai đoạn ấy gắn liền với nhau, không tách rời nhau, mà tạo nên mối quan hệ mật thiết liên hệ, xen kẽ với nhau
Lãnh đạo cách mạng: Xác định rõ, người lãnh đạo cách mạng chính là giai cấp công
nhân và Đảng lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động Việt Nam Với mục đích của Đảng là phát triển chế độ dân chủ nhân dân, đưa Việt Nam tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa, để thực hiện tự do, hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và tất cả các dân tộc đa số, thiểu số ở Việt Nam
Chính sách của Đảng: có 15 chính sách lớn nhằm phát triển chế độ dân chủ nhân dân,
tạo mầm mống cho chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi
Chính cương của Đảng lao động Việt Nam đã đánh dấu một bước tiến mới của Đảng về mọi mặt, là “Đại hội kháng chiến kiến quốc", “thúc đẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam”
❖ ĐIỂM MỚI, ĐIỂM SÁNG TẠO TRONG TRONG CHÍNH CƯƠNG (2/1951)
Chính cương Đảng Lao động Việt Nam với việc xác định đầy đủ và chi tiết những vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam Với chủ trương đúng đắn và sáng tạo, Chính cương đã phát huy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và đã khơi dậy khát vọng giành độc lập, sự tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân
Trong chính cương Đảng lao động Việt nam đã đưa ra khái niệm “Dân tộc dân chủ nhân dân” thay thế cho khái niệm “Cách mạng dân quyền tư sản dân quyền” mà Cương lĩnh đầu tiên
và Luận cương chính trị tháng 10-1930 xác định Tuy về bản chất thì không có gì khác nhau nhưng thuật ngữ mà Chính cương (2/1951) dùng đã thể hiện nội dung phong phú hơn, phản ánh
rõ hơn tính chất, nội dung, lực lượng và mục đích của cuộc cách mạng mà nhân dân ta tiến hành, từ đó giúp nhân dân Việt Nam (không phân biệt địa vị, giai cấp, tôn giáo…) hiểu đúng và tích cực góp phần sức và lực của mình, tham gia tích cực thúc đẩy cuộc kháng chiến chống
Trang 4Pháp nhanh chóng giành thắng lợi Đây là sự bổ sung sáng tạo và phát triển lý luận cách mạng của Đảng ta vào học thuyết Mác- Lênin mà công lao to lớn thuộc về đồng chí Trường Chinh
Về triển vọng và con đường để thực hiện cách mạng, trong Chính cương (2/1951) đã chia
ra 3 giai đoạn phát triển cụ thể, được tiến hành theo từng bước, từng thời kỳ, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn Vì không đủ sức, không đủ điều kiện nên phải làm từng việc một Đảng ta xác định rõ nhiệm vụ nào cấp thiết trước cần phải tập trung lực lượng hoàn thành, tránh tình trạng phân tán lực lượng khi lực lượng còn yếu, phù hợp với đặc điểm tình hình của một nước nông nghiệp với nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển Điều đặc biệt, là ba giai đoạn đó không tách rời nhau, mà mật thiết liên hệ, xen kẽ với nhau, không có bức tường thành ngăn cách, sau khi kết thúc giai đoạn cách mạng này ngay tức khắc cũng mở ra giai đoạn cách mạng mới
Bên cạnh đó, Đảng chỉ đạo tiếp tục thực hiện đường lối chiến lược của cách mạng trong Cương lĩnh đầu tiên, đánh đế quốc và đánh phong kiến phải tiến hành đồng thời, có quan hệ gắn
bó chặt chẽ với nhau để có thể giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày Đưa nhiệm vụ dân tộc lên hàng đầu, nhiệm vụ dân chủ thì phải làm từng bước để phục vụ nhiệm vụ đánh đế quốc, tay sai là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo Bởi vì, kết quả này đã được khẳng định và đem lại kết quả to lớn của cách mạng Việt Nam trong chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược thời kỳ cách mạng (1939-1945) và giành chính quyền về tay nhân dân trong cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 Và hai nhiệm vụ chiến lược này tiếp tục được Đảng ta kế thừa, bổ sung, phát triển lên tầm cao mới
Trên quan điểm kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Chính cương là thái độ kiên định
giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, nắm chắc quan điểm bảo đảm trên hết
Câu 2 (5 điểm): Anh (Chị) hãy làm rõ thành tựu 35 năm đổi mới đất nước trên lĩnh vực đối ngoại và rút ra nhận xét?
“Chính sách đối ngoại của một quốc gia, còn được gọi là chính sách ngoại giao, bao gồm các chiến lược do nhà nước lựa chọn để bảo vệ lợi ích của quốc gia mình và đạt được các mục tiêu trong môi trường quan hệ quốc tế” Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng (12/1986), Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện, coi đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn Trên lĩnh vực đối ngoại, Đảng ta thể hiện quan điểm mới và Đảng đã chủ trương: Mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt Đây là niềm tự hào, là
Trang 5Họ tên SV/HV: Nguyễn Phương Thủy – 20D100055 - Mã LHP: 2183HCMI0131 Trang 5/7
động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước Cụ thể, những thành tựu 35 năm đổi mới đất nước trên lĩnh vực đối ngoại là:
Tăng cường hợp tác và đối thoại chiến lược, bình thường hóa quan hệ quốc tế: Trước
những năm 1986, Việt Nam và Mỹ là mối quan hệ thù địch Sự thất bại trong những chiến lược của Mỹ đối với Việt Nam đã làm cho một bộ phận người Mỹ mang nặng tư tưởng hận thù, chống phá Việt Nam Chúng cấu kế cùng các nước khác thực thi chính sách bao vây cấm vận Việt Nam khiến cho nước ta rơi vào thế bị cô lập trên trường quốc tế, cản trở quan hệ đối ngoại của Việt Nam, đồng thời gây ra nhiều khó khăn cho Việt Nam trong việc khôi phục lại đất nước Trước tình hình thực tế đó, để mình không bị cô lập, tự chủ thoát ra khỏi sự bao vây, Việt Nam đã tích cực mở rộng mối quan hệ cũng như từng bước cải thiện quan hệ mới Mỹ, chủ trương chuyển từ đối đầu sang đối thoại trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng thông qua thương lượng hòa bình
Có thể nói đây là một bước tiến mới của đối ngoại Việt Nam Việt Nam đã tích cực, chủ động trong việc tìm kiếm quân nhân mất tích trong chiến tranh, chủ động tham gia các hội thảo khoa học, các hoạt động xã hội giữa Việt Nam và Mỹ Điều này đã khiến Mỹ đánh giá cao sự hợp tác của Việt Nam, từ đó có những bước tiến mới trong việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao hai nước Trên nền tảng chính sách đối ngoại đó cùng với sự nỗ lực của hai nước, Việt Nam và Mỹ đã nâng tầm quan hệ lên Đối tác toàn diện năm 2013 Đây là một mốc son trong quan hệ Việt - Mỹ và cũng là thành tựu to lớn trong lĩnh vực đối ngoại của Việt Nam
Phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế: Ngày 28/7/1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN - ghi dấu mốc quan trọng
trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam Việt Nam đã khẳng định được vai trò hạt nhân tích cực và quan trọng trong tổ chức này Trong năm 2010, năm đảm nhiệm vị trí Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã đi đầu đề xuất trọng tâm hợp tác của ASEAN “Hướng tới Cộng đồng ASEAN: từ Tầm nhìn đến Hành động” Ngoài ra, Việt Nam cũng đẩy mạnh và tham gia ngày càng hiệu quả tại các tổ chức, diễn đàn hợp tác liên khu vực và khu vực như Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) (14/11/1998) và nhiều diễn đàn khác
Việc tham gia tích cực và đưa ra nhiều đề xuất, sáng kiến tăng cường hợp tác thiết thực trong APEC, ASEM, ACMECS, EAS, WEF về liên kết và trong các vấn đề quốc tế, khu vực cùng quan tâm Các sáng kiến về ứng phó với biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, tăng trưởng
Trang 6xanh, lao động và việc làm, kết nối khu vực được cộng đồng quốc tế ghi nhận, thể hiện trách nhiệm của Việt Nam là một thành viên chủ động, tích cực của cộng đồng quốc tế
Giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh: Vào năm 2000, Đảng Cộng
sản Việt Nam tham gia của ICAPP ngay từ khi tổ chức này được thành lập và tham dự tất cả các Hội nghị toàn thể, có nhiều sáng kiến và đóng góp thiết thực vào việc thực hiện những mục tiêu,
dự án ưu tiên của ICAPP Với uy tín, vị thế và sự tham gia ngày càng tích cực trên trường quốc
tế và trong khuôn khổ của ICAPP, Việt Nam được bầu làm Ủy viên Ban thường trực ICAPP tháng 9/2004 và liên tục được bầu lại trong các nhiệm kỳ tiếp theo
Có thể thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam đều đã chủ động thông tin, tăng cường tiếp xúc, đối thoại tại các diễn đàn đa phương đó, làm cho các chính đảng hiểu đúng và sâu sắc hơn về tình hình cũng như công cuộc Đổi mới của Việt Nam, hiểu rõ và hiểu kịp thời hơn về quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam trên những vấn đề được dư luận quốc tế quan tâm theo dõi Điều này giúp cho ngày càng có nhiều chính đảng, kể cả những đảng trước đây có thái độ thù địch không tốt với Việt Nam phải coi trọng và mong muốn phát triển, tăng cường quan hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam
❖ Từ những thành tựu kể trên, chúng ta rút ra nhận xét rằng:
Rõ ràng sau 35 năm, chúng ta đã không chỉ đạt được thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử,
đó là động lực lớn nhất, yếu tố cơ bản nhất tạo nên thành công của sự nghiệp cao cả là xây dựng một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa
xã hội Đồng thời là minh chứng khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử
Giai đoạn đổi mới (1986- 2021) là giai đoạn quan trọng trong sự nghiệp phát triển quan
hệ ngoại giao, vị thế của mình trên trường quốc tế, đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng Đánh dấu sự trưởng thành của Đảng và Nhà nước, sáng tạo có tính tất yếu, toàn diện để gạt bỏ, tháo gỡ những vướng mắc, quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục mở rộng và đi vào chiều sâu, tạo khuân khổ quan hệ ổn định và bền vững với các đối tác Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, chúng ta còn tồn tại những hạn chế khuyết điểm Cụ thể, hoạt động đối ngoại
và hội nhập quốc tế có lúc chưa theo kịp diễn biến của tình hình, chưa lường hết những tác động bất lợi Chưa khai thác tốt và phát huy hiệu quả các quan hệ lợi ích đan xen với các đối tác quan trọng Sự phối hợp giữa các ngành, các địa phương trong công tác đối ngoại chưa chặt chẽ Từ
đó, Đảng và Nhà nước ta cần phải thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam
Tình hình biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, sự phát triển công nghệ, khoa học kỹ thuật và đặc biệt là diễn biến đại dịch Covid – 19 diễn ra trong năm 2021 càng củng cố thêm xu
Trang 7Họ tên SV/HV: Nguyễn Phương Thủy – 20D100055 - Mã LHP: 2183HCMI0131 Trang 7/7
hướng nêu trên Nhận thức được đặc điểm này, Đảng và Nhà nước ta đã xác định cần có các cơ chế tốt hơn để tăng khả năng chống chịu trước các cú sốc, tạo điều kiện thuận lợi để vươn lên, củng cố vị thế quốc gia, tăng cường hợp tác phát triển với bạn bè thế giới Việt Nam đã chủ động tích cực hội nhập quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa sẽ góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, giữ vững độc lập tự chủ của đất nước Có thể nhận thấy, mỗi lần đối mặt với thử thách là một lần nền ngoại giao Việt Nam tự học hỏi, kiểm chứng những chính sách và cuộc sống, giữa lý luận và thực tiễn để rút ra được những bài học cho giai đoạn tiếp theo Văn hóa học tập từ quá trình điều hành chính sách vĩ mô này giúp cho đất nước luôn tránh được sự bị động trước những tình hình mới khó lường
Kết luận: Tựu trung lại, những thành tựu của công cuộc đổi mới trên lĩnh vực đối ngoại sau 35 năm kể trên là kết quả của quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta qua nhiều nhiệm kỳ đại hội, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, có hiệu quả, kịp thời của Đảng và Chính phủ Đây chính là tiền đề quan trọng, tạo ra tiềm lực, sức mạnh, niềm tin vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong tương lai
-Hết -
Trang 8TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ II NĂM HỌC 2020 – 2021
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt
Nam
Mã số đề thi: 04
Ngày thi: 01/06/2021 Số trang: 06
Số báo danh: 03 Lớp: 2111HCMI0131
Họ và tên: Nguyễn Thị Lan Anh
Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………
GV chấm thi 2: …….………
Câu 1: Anh (chị) hãy làm rõ nội dung của Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” được Đảng
đề ra vào ngày 25-11-1945 Tại sao trong Chỉ thị đó, Đảng xác định xây dựng và bảo vệ chính quyền là nhiệm vụ quan trọng nhất?
Bài làm:
Sau thắng lợi vĩ đại của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội
đã trở thành một hệ thống thế giới Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà thành lập Ngày 02-09-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới về nền độc lập của nhân dân Việt Nam
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ra đời đã đứng trước nhiều khó khăn, thách thức của thù trong, giặc ngoài và những khó khăn về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,
mà chế độ thực dân phong kiến để lại Nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu nay lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề Nạn đói, nạn dốt hoành hành Tình hình đó đã đặt nền độc lập và chính quyền cách mạng non trẻ của Việt Nam vào tình thế “như ngàn cân treo sợi tóc”
Trước tình hình đó, ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị
Kháng chiến kiến quốc, nhận định tình hình và định hướng con đường đi lên của cách mạng
Việt Nam sau khi giành được chính quyền Nội dung của Chỉ thị:
- Xác định kẻ thù: “kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”
- Xác định mục tiêu của cuộc cách mạng Đông Dương là “dân tộc giải phóng”
- Đề ra khẩu hiệu cách mạng: “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”
Trang 9Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Lan Anh - Mã LHP: 2111HCMI0131 Trang 2/6
- Nhiệm vụ cách mạng: “là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân”
+ Củng cố chính quyền: Để khẳng định địa vị pháp lý của Nhà nước Việt Nam, Đảng
và Hồ Chí Minh đã chủ trương sớm tổ chức một cuộc bầu cử toàn quốc theo hình thức phổ thông đầu phiếu để bầu ra Quốc hội và thành lập Chính phủ chính thức Bầu cử thành công đã bầu ra 333 đại biểu Quốc hội đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Mặt trận dân tộc thống nhất tiếp tục được mở rộng nhằm tăng cường thực lực cách mạng, tập trung chống Pháp ở Nam Bộ
+ Chống thực dân Pháp xâm lược: Nhân dân các tỉnh Nam Bộ đã nêu cao tinh thần chiến đấu “thà chết tự do còn hơn sống nô lệ” Chính phủ, Hồ Chí Minh và nhân dân miền Bắc nhanh chóng hưởng ứng và kịp thời chi viện, chia lửa với đồng bào Nam Bộ kháng chiến Thường vụ Trung ương Đảng, Hồ Chí Minh đã nhận định, đánh giá âm mưu, ý đồ chính trị
của Pháp và Tưởng và ra bản Chỉ thị Tình hình và chủ trương, Chỉ thị Hòa để tiến Để giữ
vững nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, Đảng, Chính phủ tiếp tục cuộc đấu tranh ngoại giao kiên trì, kiên quyết, đầy khó khăn, phức tạp trong suốt năm 1946 ở cả mặt trận trong nước và ngoài nước
+ Bài trừ nội phản: Việc chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ lại càng được chú trọng Đảng chủ trương phát động phong trào “Bình dân học vụ”; vận động toàn dân xây dựng nếp sống sôi nổi, văn hóa, đẩy lùi hủ tục, tệ nạn, lạc hậu,… Đồng thời giúp gia tăng niềm tin vào chế
độ mới, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Từ đó nêu cao quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng
+ Cải thiện đời sống cho nhân dân: tập trung chỉ đạo, động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào, các cuộc vận động như: tăng gia sản xuất, lập hũ gạo tiết kiệm, tổ chức Tuần lễ vàng, gây Quỹ độc lập, Quỹ đảm phụ quốc phòng, Quỹ Nam bộ kháng chiến,… Bãi bỏ thuế thân và nhiều thứ thuế vô lý, thực hiện chính sách giảm tô 25% Khuyến khích sửa chữa đê điều, khuyến nông, chia ruộng đất cho nông dân nghèo, xây dựng lại ngân khố quốc gia,… Bởi vậy mà đời sống nhân dân được cải thiện, tinh thần dân tộc được phát huy cao độ, góp phần động viên kháng chiến ở Nam Bộ
- Đề ra nhiều biện pháp cụ thể giải quyết những khó khăn, phức tạp hiện thời của cách mạng Việt Nam:
+ Về chính trị, cần nhanh chóng xúc tiến bầu cử Quốc hội để đi đến thành lập Chính phủ chính thức, lập ra Hiến pháp, động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến và chuẩn
bị kháng chiến lâu dài; kiên định nguyên tắc độc lập về chính trị
Trang 10+ Về ngoại giao, phải đặc biệt chú ý “làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết”; đối với Tàu Tưởng nêu chủ trương “Hoa-Việt thân thiện”, đối với Pháp “độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế”
+ Về tuyên truyền, hết sức kêu gọi đoàn kết chống chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược;
“đặc biệt chống mọi mưu mô phá hoại chia rẽ của bọn Trốtxkit, Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng”,…
Trong Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” được Đảng đề ra vào ngày 25-11-1945,
Đảng xác định xây dựng và bảo vệ chính quyền là nhiệm vụ quan trọng nhất bởi vì:
- Căn cứ vào lý luận: Mac – Lênin đã khẳng định, chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng Giành chính quyền đã khó, giữ vững chính quyền còn khó hơn gấp vạn lần Giai cấp nào nắm chính quyền trong tay, giai cấp đó giữ vị trí thống trị xã hội
- Căn cứ vào thực tiễn: Hoàn cảnh Việt Nam sau cách mạng tháng 8 năm 1945, đất nước ta giành được độc lập nhưng cùng với đó là khó khăn chồng chất về mặt chính trị, kinh
tế, nạn ngoại xâm,… Việt Nam nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, bị bao vây cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài Hệ thống chính quyền cách mạng mới được thiết lập, còn rất non trẻ, thiếu thốn, yếu kém về nhiều mặt; hậu quả của chế độ cũ để lại hết sức nặng
nề, sự tàn phá của nạn lũ lụt, nạn đói năm 1945 rất nghiêm trọng Nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu nay lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề Nạn đói, nạn dốt hoành hành… Tất cả như đang từng phút, từng giờ đe dọa tới nền độc lập mới giành được của nước ta
Như vậy, việc Đảng xác định xây dựng và bảo vệ chính quyền là nhiệm vụ quan trọng nhất lúc bấy giờ là hoàn toàn đúng đắn Một chính Đảng mới hoạt động công khai chưa bao lâu, một chính quyền mới chỉ được thành lập hơn 2 tháng thì việc cấp bách hơn cả là bảo vệ
và không ngừng xây dựng chính quyền đó ngày một vững mạnh Và việc bảo vệ và xây dựng chính quyền cách mạng cũng chính là tạo tiền đề cơ bản đưa cách mạng Việt Nam tiến lên
Câu 2: Theo Anh (chị) tại sao Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (2011) lại coi kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế? Liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay
Bài làm:
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (2011) có kết
cấu bốn phần cơ bản giữ như Cương lĩnh năm 1991 có bổ sung, phát triển nhận thức mới ở tiêu đề và nội dung từng phần Cương lĩnh đã đề ra những định hướng lớn về phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại Cụ thể trong định hướng phát triển kinh tế:
Trang 11Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Lan Anh - Mã LHP: 2111HCMI0131 Trang 4/6
“Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở
hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh
tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Kinh
tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh
tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển”
Vậy tại sao kinh tế tư nhân lại là một trong những động lực của nền kinh tế?
Trước hết chúng ta cần phải hiểu được kinh tế tư nhân là gì? Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế thuộc cơ cấu kinh tế của một quốc gia, được hình thành và phát triển dựa trên sự
sở hữu của tư nhân về tư liệu sản xuất cũng như lợi ích cá nhân Đối tượng sở hữu kinh tế tư nhân đó là các cá thể hoặc một nhóm người thuộc về tư nhân đứng lên Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân
Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức được vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Nhờ vậy, kinh tế tư nhân không ngừng lớn mạnh, trở thành một trong những nhân tố chính tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh
Lí do kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế chính là:
- Vai trò của kinh tế tư nhân đối với nền kinh tế ngày càng quan trọng: Kinh tế tư nhân
có những đóng góp tích cực đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội đất nước: Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động; huy động các nguồn vốn trong nhân dân, trong
xã hội vào hoạt động sản xuất, kinh doanh; bảo đảm cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách nhà nước; tạo môi trường kinh doanh, thúc đẩy phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, kinh tế tư nhân còn giúp nhà nước phân bố lại cơ cấu nền kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Đặc biệt, kinh tế tư nhân giúp cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo động lực lớn để phát triển nền kinh
tế
- Kinh tế tư nhân có được sự năng động, thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường, giúp nó thực hiện tốt vai trò làm động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Khu vực tư nhân cũng luôn đổi mới, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh để đứng vững trên thị trường và hoạt động theo cơ chế thị trường Kinh tế tư nhân đóng góp vào nền kinh tế nhiều sáng kiến đổi mới và sự đột phá: Vai trò của kinh tế tư nhân càng trở nên
Trang 12quan trọng hơn khi mà khoa học và công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Điều này khiến hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân cao
Liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay:
Việt Nam đã trải qua nhiều năm hồi phục nền kinh tế, bao gồm cả kinh tế tư nhân Cho tới ngày nay thì kinh tế tư nhân được xem như là một phần không thể thiếu, thậm chí là cần phải thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa trong cơ cấu nền kinh tế Bởi kinh tế tư nhân đã và đang là một trong những động lực của nền kinh tế
- Vai trò của kinh tế tư nhân đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay:
+ Đóng góp tích cực vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Đóp góp của khu vực kinh tế
tư nhân vào cơ cấu GDP qua các năm luôn ở mức trên 40% - cao hơn rất nhiều so với khu vực kinh tế nhà nước và khu vực đầu tư nước ngoài
(Nguồn ảnh: Trang báo điện tử Zing.vn)
+ Tạo công ăn việc làm cho 1 lượng lớn lao động: Theo Tổng cục Thống kê (2018), lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên tham gia vào khu vực kinh tế tư nhân là trên 45 triệu người, chiếm 83% lực lượng lao động cả nước Rất nhiều lao đông đã có việc làm cho các thương hiệu của các doanh nghiệp tư nhân như Vingroup, Hòa Phát, TH True Milk… Điển hình là Vingroup, hoạt động trên nhiều lĩnh vực cùng với sự trải dài của nhiều cơ sở trên khắp
cả nước, Vingroup đã tạo rất nhiều việc làm phù hợp với kinh nghiệm và trình độ chuyên môn khác nhau Ví dụ: sinh viên chưa nhiều kinh nghiệm có thể đi làm thêm bán thời gian tại các cửa hàng Vinmart, chuyên môn về kĩ thuật có thể ứng cử tại Vinfast; giáo dục có VinSchool, VinUni; du lịch có VinWonders, VinPearl,…
+ Giúp phân bố lại cơ cấu nền kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế: Đã xuất hiện những tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn
cả về vốn và công nghệ cao tiêu biểu là tập đoàn Vingroup Ngày 21/8/2018 tại Hà Nội, Tập
Trang 13Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Lan Anh - Mã LHP: 2111HCMI0131 Trang 6/6
đoàn Vingroup đã ký kết thỏa thuận hợp tác với hơn 50 trường Đại học hàng đầu Việt Nam; đồng thời, công bố định hướng trở thành Tập đoàn Công nghệ Vingroup xác định nhiều mũi nhọn để có thể thúc đẩy đầu tư mạnh mẽ, trong đó có ba điểm chính Đầu tiên là tập trung đầu
tư đội ngũ nhân sự, hạ tầng để phát triển sản xuất phần mềm Thứ hai là tập trung đầu tư trung tâm nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ cao Thứ ba là lập Quỹ Đầu tư về công nghệ với nhiệm vụ tìm kiếm các cơ hội hợp tác, phát triển những dự án công nghệ - trí tuệ nhân tạo
có khả năng ứng dụng cao trên phạm vi toàn cầu Ngoài ra, VinTech còn lập Quỹ Hỗ trợ Khởi nghiệp và hỗ trợ Nghiên cứu Khoa học – Công nghệ ứng dụng nhằm hỗ trợ các dự án nghiên cứu của giảng viên và sinh viên trong nước Có thể thấy rằng Vingroup đang ngày một nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh để đứng vững trên thị trường
+ Giúp cải thiện cơ sở hạ tầng của nền kinh tế: Ví dụ về tập đoàn tư nhân Vingroup, cụ thể là hệ thống cửa hàng Vinmart Trên thực tế, hàng Việt Nam chất lượng cao đã xuất khẩu được đi nhiều nơi, nhưng không ít sản phẩm lại khó tiêu thụ ở thị trường trong nước Một trong những nguyên nhân lớn là do thiếu hệ thống phân phối tốt, chuyên nghiệp VinMart sở hữu một hệ thống phân phối rộng lớn nên có khả năng giúp hàng Việt Nam phát triển trên thị trường trong nước Hàng Việt tiêu thụ được sẽ có nguồn lực để cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng, tăng sức cạnh tranh, củng cố niềm tin của người tiêu dùng Ngoài ra, chúng ta cũng dễ thấy Vingroup rất chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng tại các khu du lịch như Nha Trang, Phú Quốc, Đà Nẵng,
- Mang tới sự hiệu quả về đầu tư tài chính: Vấn đề hiệu quả đầu tư tài chính của kinh
tế tư nhân phải kể tới việc không hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nước Có rất nhiều công trình chậm tiến độ, dẫn đến đội vốn cao như dự án tuyến đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông đã chậm tiến độ rất nhiều năm so với dự kiến Tuy nhiên, xét về các công trình của khu vực kinh tế tư nhân như tuyến đường trên cao ở đoạn đường Trường Chinh – dự án của kinh
tế tư nhân là tập đoàn Vingroup, đã và đang hoàn thiện với tiến độ rất nhanh và được đánh giá hiệu quả hơn rất nhiều so với kinh tế nhà nước
Do vậy, có thể khẳng định rằng “kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế” Việt Nam cần phải khuyến khích và sớm thực hiện các đồng bộ giải pháp hỗ trợ khu vực kinh tế này phát triển hơn nữa Trong thực tế, khu vực kinh tế tư nhân hiện nay đã, đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước.
Trang 14TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Họ và tên: Nguyễn Thị Hồng Hải
Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………
GV chấm thi 2: …….………
Câu 1:
Hoàn cảnh Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX:
Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là giai đoạn lịch sử có sự biến đổi hết sức to lớn Dưới triều nhà Nguyễn, Việt Nam là một nước phong kiến với nền nông nghiệp lạc hậu Nhưng
vì nằm trong vị trí địa lí thuận lợi, có nhiều tài nguyên thiên nhiên nên các nước đế quốc lăm le xâm lược
Từ ngày 1 tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược Việt Nam tại bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) Triều đình nhà Nguyễn nhu nhược, lần lượt kí kết các hiệp ước đầu hàng, cam chịu làm tay sai cho chúng Chế độ phong kiến Việt Nam lúc đó dần suy tàn, bất lực Tuy
có các phong trào đấu tranh yêu nước theo ý thức hệ phong kiến nổ ra mạnh mẽ, nhưng đầu lần lượt thất bại, tiêu biểu trong số đó có phong trào Cần Vương Không chỉ dùng vũ lực đàn áp sự nổi dậy của nhân dân, thực dân Pháp còn tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa, song vẫn duy trì chế độ phong kiến Việt Nam nhằm biến triều đình nhà Nguyễn bù nhìn thành tay sai cho chúng Kết quả là Việt Nam từ một nước phong kiến trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến
Những năm cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa Trong
đó, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất diễn ra từ năm 1897 đến năm 1914, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai tiếp tục từ năm 1919 đến năm 1929 với những chính sách cai trị hà khắc, toàn diện và sâu sắc trên mọi lĩnh vực