1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận phân tích thành tựu về đối ngoại trong 30 năm đổi mới của việt nam (lịch sử đảng)

28 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 499,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH BÀI THẢO LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG CÔNG SẢN VIỆT NAM Đề tài Phân tích thành tựu về đối ngoại trong 30 năm đổi mới của Việt Nam Nhóm thực hiện 7 Giảng viên Nguyễn Ngọc Diệp Lớp học phần 2183HCM Hà Nội, Tháng 5 năm 2022 Mục lục Lời nói đầu 1 I Khái niệm 1 Đối ngoại 2 Chính sách đối ngoại 5 II Phân tích thành tựu đối ngoại 7 2 1 Phân tích thành tựu đối ngoại từ năm 1986 đến năm 1995 9 2 1 1 Hoàn cảnh lịch sử 13 2 1 2 Đường lối đổi mới của Đảng Cộng Sản V.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

Lớp học phần: 2183HCM

Hà Nội, Tháng 5 năm 2022

Trang 2

Mục lục

Lời nói đầu……… 1

I.Khái niệm1 1 Đối ngoại 2 2 Chính sách đối ngoại 5 II Phân tích thành tựu đối ngoại 7 2.1 Phân tích thành tựu đối ngoại từ năm 1986 đến năm 1995 9 2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử 13 2.1.2 Đường lối đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam……… 14

2.1.3 Thành tựu đạt được……… 15

2.1.4 Nguyên nhân……….16

2.1.5 Kết quả và ý nghĩa………17

2.2 Phân tích về thành tựu đối ngoại thời kì hội nhập quốc tế……… 19

2.2.1 Hoàn cảnh lịch sử……… 19

2.2.2 Đường lối đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam……… 20

2.2.3 Thành tựu đạt được……….21

2.2.4 Nguyên nhân………23

2.2.5 Kết quả và ý nghĩa.……… 25

Kết luận……… 28

Trang 3

Lời mở đầu

Qua 30 năm đổi mới theo đường lối của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI(12/1986), Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong

đó có thành tựu quan trọng về đối ngoại

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986), Đảng ta đề rađường lối đổi mới toàn diện, coi đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn Trên lĩnh vựcđối ngoại, Đảng ta thể hiện quan điểm mới, như cho rằng: Cuộc cách mạng khoahọc kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy sự hình thành thị trường thế giới,…sựlựa chọn duy nhất đúng đắn là “thi đua về kinh tế”; xu thế mở rộng phân công hợptác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, là điều kiệnquan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đảng đã chủtrương: Mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Sau gần hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, tháng 5/1988, Bộ Chính trị raNghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới, khẳngđịnh mục tiêu chiến lược và lợi ích cao nhất của Việt Nam là giữ vững hòa bình vàphát triển kinh tế; đồng thời nêu rõ quyết tâm, chủ động chuyển cuộc đấu tranh từtình trạng đối đầu sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình

Đại hội Đảng lần thứ VII của Đảng (6/1991) tiếp tục chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại Đại hội khẳng định mạnh mẽ: ” Hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị – xã hội khác nhau, trên cơ sở nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình“, với phương châm ” Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển“.

Trang 4

Từ Đại hội VII đến Đại hội XI, Đảng chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan

hệ đối ngoại theo phương châm: Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy và làthành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lậpdân tộc, dân chủ và tiến bộ

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã kế thừa những nội dung cơ bảncủa đường lối đối ngoại được thông qua tại các kỳ Đại hội trước Đại hội chủtrương tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình,hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại; chủđộng và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có tráchnhiệm của cộng đồng quốc tế; nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tụcđưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu

I KHÁI NIỆM

1 Đối ngoại :

Là hoạt động thực hiện chính sách đối ngoại của nhà nước, thông qua cáchoạt động khác nhau, để thực hiện sự giao lưu, trao đổi giữa các quốc gia vớinhau

Công tác đối ngoại là lĩnh vực hoạt động phong phú và phức tạp Các hoạtđộng đối ngoại có thể diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam, có thể xảy ra trên lãnh thổcủa một quốc gia khác, cũng có thể đồng thời diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới Cáchoạt động đó được tiến hành nhằm đạt những mục đích chính trị, kinh tế, văn hoá,quốc phòng, an ninh hoặc kết hợp các mục đích khác nhau

Các hoạt động đối ngoại có thể do cơ quan Đảng, Nhà nước, có thể do tổchức xã hội tiến hành hoặc cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội phối hợp cùng thựchiện

Trang 5

Các hoạt động đối ngoại được tiến hành theo những nguyên tắc nhất địnhnhằm đảm bảo tính nhất quán, tính khoa học, đảm bảo lợi ích nhà nước, quyền vàlợi ích chính đáng khác, tức là Quản lý tất cả các hoạt động và quan hê do các cơquan, tổ chức của Việt Nam thực hiện với các nước, các tổ chức nước ngoài cũngnhư các tổ chức quốc tế và khu vực.

2 Chính sách đối ngoại :

Chính sách đối ngoại của một quốc gia, còn được gọi là chính sách ngoại giao, bao gồm các chiến lược do nhà nước lựa chọn để bảo vệ lợi ích của quốc gia mình và đạt được các mục tiêu trong môi trường quan hệ quốc tế Các phương

pháp được sử dụng một cách chiến lược để tương tác với các quốc gia khác.Nghiên cứu về các chiến lược như vậy được gọi là phân tích chính sách đối ngoại.Trong thời gian gần đây, do mức độ toàn cầu hóa và các hoạt động xuyên quốc giangày càng sâu rộng, các quốc gia cũng sẽ phải tương tác với các chủ thể phi quốcgia Sự tương tác nói trên được đánh giá và giám sát trong nỗ lực tối đa hóa lợi íchcủa hợp tác quốc tế đa phương Vì lợi ích quốc gia là tối quan trọng, các chính sáchđối ngoại được chính phủ thiết kế thông qua các quy trình ra quyết định cấp cao.Thành tựu lợi ích quốc gia có thể xảy ra do kết quả hợp tác hòa bình với các quốcgia khác, hoặc thông qua khai thác hay lợi dụng Thông thường, việc tạo chínhsách ngoại giao là công việc của người đứng đầu chính phủ và bộ trưởng ngoạigiao (hoặc tương đương) Ở một số nước, cơ quan lập pháp cũng có tác dụng đáng

kể Chính sách đối ngoại của các quốc gia có tỷ lệ thay đổi và phạm vi ý định khácnhau, có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố làm thay đổi lợi ích quốc gia hoặc thậmchí ảnh hưởng đến sự ổn định của chính quốc gia đó Chính sách đối ngoại của mộtquốc gia có thể có tác động sâu sắc và lâu dài đối với nhiều quốc gia khác và trêntoàn bộ quan hệ quốc tế, như Học thuyết Monroe mâu thuẫn với các chính sách

Trang 6

trọng thương của các nước châu Âu thế kỷ 19 và mục tiêu độc lập của các nướcTrung Mỹ và Nam Mỹ mới thành lập.

II PHÂN TÍCH VỀ THÀNH TỰU ĐỐI NGOẠI

2.1 Phân tích về thành tựu đối ngoại từ 1986 đến 1995

2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử

 Ngoài nước

Từ giữa những năm 1980, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ (đặc biệt làcông nghệ thông tin) tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi mặt đờisống của các quốc gia, dân tộc

Các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng sâu sắc Đến năm 1991, chế

độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ dẫn đến những biến đổi to lớn về quan hệquốc tế Trật tự thế giới được hình thành từ sau chiến tranh thế giới thứ hai trên cơ

sở hai khối độc lập do Liên Xô và Hoa Kỳ đứng đầu (trật tự thế giới hai cực) tan

rã, mở ra thời kỳ hình thành một trật tự thế giới mới Xu thế đối thoại trên thế giớiđang dần thay thế xu thế đối đầu Trên phạm vi thế giới, những cuộc chiến tranhcục bộ, xung đột, tranh chấp vẫn còn, nhưng xu thế chung của thế giới là hòa bình

và hợp tác phát triển Các quốc gia, các tổ chức và lực lượng chính trị quốc tế thựchiện điều chỉnh chiến lược đối nội, đối ngoại và phương thức hành động cho phùhợp với yêu cầu nhiệm vụ bên trong và đặc điểm của thế giới đặt ra

Xu thế chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước, nhất là những nước đang pháttriển đã đổi mới tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạnghóa quan hệ quốc tế; mở rộng và tăng cường liên kết, hợp tác với các nước pháttriển để tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ, mở rộng thị trường, học tập kinhnghiệm tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh Xu thế toàn cầu hóa đang dần trởthành xu hướng phát triển chung của cả thế giới

Trang 7

 Trong nước

Trong khi đó sự bao vây chống phá của các thế lực thù địch đối với Việt Nam

từ nửa cuối thập niên 70 của thế kỷ XX đã tạo nên tình trạng căng thẳng, mất ổnđịnh trong khu vực và gây khó khăn, cản trở cho sự phát triển của cách mạng ViệtNam, là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hộinghiêm trọng ở nước ta Vì vậy, vấn đề giải tỏa tình trạng đối đầu, thù địch, pháthế bị bao vây, cấm vận, tiến tới bình thường hóa và mở rộng quan hệ hợp tác vớicác nước, tạo môi trường quốc tế thuận lợi để tập trung xây dựng kinh tế là nhu cầucần thiết và cấp bách đối với nước ta

Mặt khác, do hậu quả nặng nề của chiến tranh và các khuyết điểm chủ quan,nền kinh tế Việt Nam lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng Lương thực, thực phẩm,hàng tiêu dùng đều khan hiếm; lạm phát tăng 300% năm 1985 lên 774% năm 1986.Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới

là một trong những thách thức lớn đối với cách mạng Việt Nam Vì vậy, nhu cầuchống tụt hậu về kinh tế đặt ra gay gắt.Các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật,vượt biên trái phép diễn ra khá phổ biến Để thu hẹp khoảng cách phát triển giữanước ta với các quốc gia khác, ngoài việc phát huy tối đa các nguồn lực trongnước, cần phải tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, trong đó việc mở rộng và tăngcường hợp tác kinh tế với các nước và tham gia vào cơ chế hợp tác đa phương có ýnghĩa đặc biệt quan trọng

Những đặc điểm, xu thế quốc tế và yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng ViệtNam nêu trên là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quan điểm và hoạchđịnh chủ trương, chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới

2.1.2 Đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 8

Đại hội đã nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, đánhgiá thành tựu, nghiêm túc kiểm điểm, chỉ rõ những sai lầm, khuyết điểm của Đảng

trong thời kỳ 1975-1986 Đó chính là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về

chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện Đạihội chỉ rõ "Những sai lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế, xã hội bắt nguồn

từ những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ củaĐảng Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân" Từ thực tiễn cách mạng, Đạihội nêu lên những bài học kinh nghiệm quan trọng

Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy

dân làm gốc” xây dựng và phát triển quyền làm chủ của nhân dân lao động

Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo

quy luật khách quan Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiệnbảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng

Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều

kiện mới

Bốn là, chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh đạo

nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa

Nhận thức được những thách thức trên, chủ tịch nước Nguyễn Văn Linh lúcbấy giờ đã nói “Đổi mới hay là chết” nghĩa là tại thời điểm đó, Đảng ta có hai sựlựa chọn Thứ nhất “Đổi mới” để tồn tại, phát triển để thoát khỏi vòng vây Thứ hai

là hết vai trò lãnh đạo Quyết định đổi mới nhanh chóng được đưa ra trong đại hộiĐảng VI năm 1986 đó là sự lựa chọn sáng suốt của lãnh đạo Việt Nam

 Những đổi mới đối ngoại:

Đổi mới về đối ngoại là đổi mới về tư duy, nhận thức, quan niệm và cách tiếpcận về lợi ích quốc gia, các vấn đề an ninh khu vực, mối quan hệ giữa lợi ích quốc

Trang 9

gia và nghĩa vụ quốc tế; là nơi xây dựng mối quan hệ đồng minh và tập hợp lựclượng Đó cũng là nơi dịch chuyển từ cặp phạm trù hợp tác - đấu tranh sang đốitượng - đối tác Cụ thể đảng ta đã có những bước thay đổi như sau:

Khác với giai đoạn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước mục tiêu an ninh làlợi ích sống còn của cả dân tộc Giờ đây an ninh chỉ dừng ở mức giữ vững hòabình, tập trung phát triển kinh tế không đối đầu với Trung Quốc, ASEAN, Mỹ - ýthức hệ đã giảm trong tư duy của lãnh đạo Ưu tiên trước hết là mục tiêu phát triển,sau đó đến mục tiêu an ninh, mục tiêu ảnh hưởng Về cơ bản cho đến ngày hômnay tinh thần của nghị quyết 13 vẫn còn giá trị vì nó vẫn đúng cho giai đoạn pháttriển này của quốc gia Nghị quyết 13 cũng cho hay “ với một nền kinh tế mạnh,một nền quốc phòng vừa đủ mạnh cùng với sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế,chúng ta sẽ càng có khả năng giữ vững độc lập và xây dựng thành công CNXHhơn” Điều này đã cho thấy Đảng ta đã có cái nhìn mới về các biện pháp đảm bảo

an ninh quốc gia, không đơn thuần là sức mạnh quân sự như trước mà thay vào đó

là một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủ mạnh, một mối quan hệ quốc

tế rộng mở để phát triển mạnh cần có nền quốc phòng vừa đủ mạnh; trong môitrường quốc tế muốn phục vụ tốt quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá cần phải

có vốn và khoa học công nghệ để có được hai yếu tố này quốc gia cần phải mởrộng quan hệ hợp tác quốc tế nghĩa là phải mở rộng ảnh hưởng ra bên ngoài (tăngbạn bè và bớt kẻ thù).Có cái nhìn đúng đắn hơn về mối quan hệ giữa lợi ích quốcgia và nghĩa vụ quốc tế

Bắt đầu từ năm 1990, Đảng và Nhà nước có những chủ trương đổi mới vềquan hệ đối ngoại Đó là việc ưu tiên giữ vững hòa bình và phát triển kinh tế; kiênquyết thực hiện chính sách “thêm bạn, bớt thù”; mở rộng quan hệ hữu nghị và hợptác với tất cả các nước trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, vì hòa bình vàphát triển ở khu vực và trên thế giới Trước hết là bình thường hóa quan hệ Việt

Trang 10

Nam-Trung Quốc, Việt Nam-Hoa Kỳ; từng bước xây dựng quan hệ hữu nghị, hợptác với các nước Đông Nam Á, thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam và các nướcChâu Âu Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam là sớm tiến hành những bướcđầu tiên giải quyết bất đồng với các nước nhưng luôn kiên trì giữ vững độc lập,chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Để thực hiện chủ trương đó, từ tháng5-1988, Việt Nam tuyên bố rút 5 vạn quân và Bộ tư lệnh quân tình nguyện ởCampuchia về nước và rút hết quân tình nguyện về nước vào tháng 9-1989, sớmhơn một năm theo kế hoạch đã định.

Từ sau năm 1986 Đảng và nhà nước ta bắt đầu có sự chuyển biến trong nhậnthức sâu sắc Đại hội VI (12/1986), nhấn mạnh tư tưởng “….ra sức kết hợp sứcmạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ vững hòa bình ở Đông Dương,góp phần giữ vững hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới”; nhấn mạnh yêu cầu “cần có hòa bình để phát triển” Qua đó ta thấy rằng trong nhận thức của Đảng vàNhà nước ta “ đối đầu” đang dần giảm xuống, “đối thoại” tăng lên, không quácứng nhắc mà có phần linh hoạt hơn “ cần có hòa bình” Là sự chuyển biến cơ bản

mở ra hướng để giải quyết tranh chấp và phá thế bao vây cấm vận Trên thực tế:Với Trung Quốc 1988 không coi Trung Quốc là kẻ thù, mà là XHCN láng giềnglớn còn vấn đề tồn tại; 1/10/1988 gửi điện mừng quốc khánh Trung Quốc dùng chữXHCN tiếp đó tháng 12/1988 sửa lời nói đầu hiến pháp; tháng 1/1989 đàm phánvới Trung Quốc, chuyển từ đối đầu sang đối thoại Với ASEAN từ 1988 không đốilập hai nhóm nước, không coi ASEAN là khối quân sự trá hình; 29/7/1988 thôngcáo Việt Nam- Indonesia JIM1, JIM2 chuyển sang đối thoại Với Mỹ không coi

Mỹ là kẻ thù cơ bản lâu dài nữa, từ tháng 8/1990 bắt đầu đàm phán với Mỹ VớiLiên Xô từ 1988 không nói Liên Xô là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại củaViệt Nam

2.1.3 Thành tựu đạt được

Trang 11

Đảng ta và nhân dân ta kiên trì đường lối đổi mới, ra sức thực hiện Nghị quyết củaĐại hội, vượt qua khó khăn, trở ngại, giành nhiều thành tựu mới to lớn.

 Triển khai thắng lợi các nhiệm vụ mà Ðảng và Nhà nước giao phó:

Đóng góp hiệu quả vào việc củng cố môi trường hòa bình, ổn định, giữnước từ xa, từ khi nước còn chưa nguy; đồng thời tranh thủ các nguồn lực bênngoài (thị trường, nguồn vốn, khoa học công nghệ, tinh hoa văn hóa thế giới ) chophát triển bền vững, nâng cao vị thế quốc tế của nước ta, thực hiện thành công sựnghiệp đổi mới

 Giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh:

Chúng ta đã giữ vững ổn định chính trị, độc lập chủ quyền và môi trường hòabình của đất nước, tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho công cuộc đổi mới Đảng đãđịnh rõ phương hướng, nhiệm vụ và quan điểm chỉ đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốctrong tình hình mới, tiếp tục thực hiện có kết quả việc điều chỉnh chiến lược quốcphòng, an ninh Các nhu cầu củng cố quốc phòng, an ninh, cải thiện đời sống lựclượng vũ trang được đáp ứng tốt hơn Chất lượng và sức chiến đấu của quân đội vàcông an được nâng lên Thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân đượccủng cố Công tác bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được tăngcường

 Phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây cấm vận, tham

gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế.

Chúng ta đã triển khai tích cực và năng động đường lối đối ngoại độc lập tựchủ, đa phương hóa, đa dạng hóa Khôi phục và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tácnhiều mặt với Trung Quốc; tăng cường quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt vớiLào; xây dựng quan hệ tốt với Campuchia; phát triển quan hệ với các nước trongkhu vực, trở thành thành viên đầy đủ của tổ chức ASEAN; củng cố quan hệ hữu

Trang 12

nghị truyền thống với nhiều nước, từng bước đổi mới quan hệ với Liên bang Nga,các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập và các nước Đông Âu; mở rộngquan hệ với các nước công nghiệp phát triển; bình thường hóa quan hệ với Mỹ;thiết lập và mở rộng quan hệ với nhiều nước Nam Á, Nam Thái Bình dương, TrungĐông, châu Phi và Mĩ latinh; mở rộng quan hệ với Phong trào không liên kết, các

tổ chức quốc tế và khu vực

Đảng ta tiếp tục phát triển quan hệ đoàn kết, hữu nghị với các đảng cộng sản

và công nhân, các phong trào độc lập dân tộc, các tổ chức và phong trào tiến bộtrên thế giới; thiết lập quan hệ với các đảng cầm quyền ở một số nước Mở rộnghoạt động đối ngoại của các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội Phát triển quan hệvới các tổ chức phi chính phủ trên thế giới

Đến nay nước ta đã có quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước, có quan hệ buônbán với trên 100 nước Các công ty của hơn 50 nước và vùng lãnh thổ đã đầu tưtrực tiếp vào nước ta Nhiều chính phủ và tổ chức quốc tế dành cho ta viện trợkhông hoàn lại hoặc cho vay để phát triển

Thành tựu trên lĩnh vực đối ngoại là một nhân tố quan trọng góp phần giữvững hòa bình, phá thế bị bao vây, cấm vận, cải thiện và nâng cao vị thế của nước

ta trên thế giới, tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đấtnước Đó cũng là sự đóng góp tích cực của nhân ta vào sự nghiệp chung của nhândân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

2.1.4 Nguyên nhân

Thứ nhất, đó là được thừa hưởng những thành tựu nối tiếp của những nămtrước cho những năm sau nên giai đoạn 1986-1995 đạt được nhiều thành tựu tolớn

Trang 13

Thứ hai, đó là sự đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòngcủa toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta Các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước,Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đã có nhiều đổi mới, phối kết hợp nhịp nhàng,đồng bộ, bài bản hơn trong việc lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, tổ chức triển khai thựchiện tạo ra những chuyển biến tích cực trong việc phát huy đầy đủ, đúng đắn vaitrò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân, giảiquyết kịp thời, đúng đắn, sát hợp và có hiệu quả các vấn đề nhất là các vấn đề quantrọng, nhạy cảm.

Thứ ba, đó là nhờ sự đồng tình, ủng hộ, cổ vũ, động viên, đóng góp ý kịp thờicủa cán bộ, Đảng viên, các tầng lớp nhân dân tạo sức mạnh tổng hợp đồng tâmnhất trí của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội

2.1.5 Kết quả và ý nghĩa

Triển khai thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, từ năm 1986 - 1990, ViệtNam đã đẩy mạnh hoạt động đối ngoại kinh tế, đối ngoại chính trị Kết quả hoạtđộng đối ngoại đạt được trong những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX tuy mới

là bước đầu, nhưng có ý nghĩa quan trọng, mở cửa giao lưu hợp tác với bên ngoài,tạo được vị thế mới cho đất nước trong quan hệ quốc tế

Thực hiện đường lối lãnh đạo của Đảng, đến giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX,Việt Nam đã phá được thế bao vây, cô lập, mở rộng quan hệ quốc tế trên phạm virộng lớn Lần đầu tiên, Việt Nam có quan hệ chính thức với tất cả các nước lớn, kể

cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và cũng là lần đầutiên Việt Nam gia nhập ASEAN, một tổ chức khu vực mà trong đó các thành viênđều không cùng ý thức hệ và chế độ chính trị, xã hội với Việt Nam

Việt Nam từng bước phá thế bao vây cấm vận và triển khai đường lối đốingoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, là bạn, là đối tác tin cậy và

Trang 14

thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế Ta lần lượt bình thường hóaquan hệ với Trung Quốc (năm 1991), Hoa Kỳ (năm 1995), thúc đẩy quan hệ vớicác nước láng giềng, khu vực và các nước quan trọng trên thế giới; đồng thời từngbước gia nhập các tổ chức khu vực, liên khu vực và quốc tế quan trọng, trong đó cóASEAN (năm 1995)

Tổng Bí thư Đỗ Mười hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Giang Trạch Dân tại Bắc Kinh ngày 6-11-1991.

Ngày đăng: 17/05/2022, 17:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w