1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Pháp luật về đại diện cho thương nhân

13 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về đại diện cho thương nhân
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Đăng Duy, ThS. Hồ Ngọc Hiển
Trường học Đại học quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Tiểu luận kết thúc học phần
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 409,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN LUẬT THƯƠNG MẠI 2 Đề tài Pháp luật về đại diện cho thương nhân Lớp học phần Luật thương mại 2 (BSL 2002 3) Giảng viên ThS Nguyễn Đăng Duy ThS Hồ Ngọc Hiển Sinh viên thực hiện Lê Thị Tuyết Mã sinh viên 19061327 Hà Nội, 122021 MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 1 1 Lý do chọn đề tài 1 2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1 3 Phương pháp nghiên cứu 1 B NỘI DUNG 2 I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠI DIỆN CHO THƯƠNG NHÂN 2 1 Khái niệm 2 2 Đặc điểm 2 3 Phân biệt đạ.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

LUẬT THƯƠNG MẠI 2

Đề tài: Pháp luật về đại diện cho thương nhân

Lớp học phần: Luật thương mại 2 (BSL 2002 3) Giảng viên: ThS Nguyễn Đăng Duy

& ThS Hồ Ngọc Hiển

Sinh viên thực hiện: Lê Thị Tuyết

Mã sinh viên: 19061327

Hà Nội, 12/2021

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1

3 Phương pháp nghiên cứu 1

B NỘI DUNG 2

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠI DIỆN CHO THƯƠNG NHÂN 2

1 Khái niệm 2

2 Đặc điểm 2

3 Phân biệt đại diện cho thương nhân và đại diện theo uỷ quyền 3

II PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI DIỆN CHO THƯƠNG NHÂN 3

1 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đại diện cho thương nhân 3 1.1 Quyền và nghĩa vụ của bên đại diện đối với bên giao đại diện 4

1.2 Quyền và nghĩa vụ của bên được giao đại diện đối với bên đại diện 6

2 Chấm dứt hợp đồng đại diện cho thương nhân 7

III BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI DIỆN CHO THƯƠNG NHÂN 8

1 Bất cập 8

2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 9

C KẾT LUẬN 10

Trang 3

1

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hoạt động đại diện cho thương nhân là hoạt động khá phổ biến và có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội hiện nay Việc sử dụng các dịch vụ trung gian thương mại nói chung và đại diện cho thương nhân nói riêng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh doanh của thương nhân cũng như nền kinh tế quốc dân nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Việc tìm hiểu các quy định của pháp luật về hoạt động đại diện cho thương nhân - một trong những hoạt động khá phổ biến ngày này là hoàn toàn cần thiết nhằm tìm ra những điểm bất cập trong quy định của pháp luật hiện nay Bởi trong hoàn cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế, cần có những quy định phù hợp với xu hướng chung của thế giới, được nhiều nước ghi nhận và thực hiện Vì vậy, cần

có những giải pháp pháp lý phù hợp nhằm giải những thiếu sót còn tồn tại và hạn chế được phần nào các tranh chấp liên quan Xuất phát từ những lí do trên, em xin chọn nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về đại diện cho thương nhân” cho bài tiểu luận kết thúc học phần Luật thương mại 2

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề chung về chế định đại diện thương nhân; những quy định pháp luật hiện hành về đại diện thương nhân trong quan hệ hợp đồng

Phạm vi nghiên cứu: Bài tiểu luận nghiên cứu các vấn đề của đại diện trong quan

hệ hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại: từ những vấn đề chung, quy định pháp luật hiện hành và những bất cập và hạn chế Từ đó đưa ra những nhận định, giải pháp hoàn thiện pháp luật về đại diện trong quan hệ hợp đồng

3 Phương pháp nghiên cứu

Bài tiểu luận sử dụng phương pháp nghiên cứu lí thuyết Đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu lôgic chung bao gồm các phương pháp: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp phân loại, để nghiên cứu các vấn

đề của đề tài này

Trang 4

2

B NỘI DUNG

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠI DIỆN CHO THƯƠNG NHÂN

1 Khái niệm

Theo Khoản 1 Điều 134 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Đại diện là việc cá nhân,

pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” 1Theo Luật Thương mại 2005, đại diện cho thương nhân là một loại trung gian thương mại (Điều 3 Luật Thương mại 2005) Theo Điều 141 Luật Thương

mại 2005: “Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi là

bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện”2

Vì vậy, có thể khẳng định rằng đại diện cho thương nhân là một loại của đại diện theo ủy quyền được thực hiện trong hoạt động thương mại

2 Đặc điểm

Đại diện cho thương nhân có những đặc điểm sau:

Một là, quan hệ đại diện cho thương nhân phát sinh giữa bên đại diện và bên giao đại diện Trong quan hệ này, cả hai bên đều phải là thương nhân Bên giao đại diện có quyền thực hiện hoạt động thương mại nhưng lại muốn trao quyền cho thương nhân khác thay mình thực hiện hoạt động thương mại Bên đại diện cho thương nhân thực hiện hoạt động đại diện một cách chuyên nghiệp Hoạt động này liên quan đến ba chủ thể: bên giao đại diện, bên đại diện và bên thứ ba Bên đại diện giao dịch với bên thứ ba trong phạm vi ủy quyền và trong mọi hành vi của bên đại diện thực hiện đều mang lại hậu quả pháp lý cho bên giao đại diện Vì vậy, quan hệ đại diện cho thương nhân, bên đại diện và bên giao đại diện có sự ràng buộc rất chặt chẽ

Hai là, nội dung của hoạt động đại diện cho thương nhân do các bên tham gia quan

hệ thoả thuận Về việc bên đại diện thực hiện một phần hoặc toàn bộ các hoạt động

1 Điều 134 Bộ luật dân sự 2015.

2 Điều 141 Luật Thương mại 2005.

Trang 5

3

thương mại thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đại diện, thì các bên có thể tự thỏa thuận Khi giao kết hợp đồng này các bên có thể thoả thuận về những điều khoản như: Phạm vi đại diện; thời hạn đại diện; mức thù lao trả cho bên đại diện; quyền và nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng,… Hoạt động đại diện cho thương nhân thường bao gồm: tìm kiếm các cơ hội kinh doanh cho thương nhân giao đại diện, lựa chọn đối tác, đàm phán, giao kết hợp đồng với bên thứ ba trên danh nghĩa của bên giao đại diện và được tiến hành trong suốt thời gian đại diện

Ba là, Quan hệ đại diện cho thương nhân phát sinh trên cơ sở hợp đồng đại diện, Hợp đồng đại diện cho thương nhân là một dạng đặc biệt của hợp đồng ủy quyền hợp

và luôn mang tính chất đền bù Loại hợp đồng này phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương

3 Phân biệt đại diện cho thương nhân và đại diện theo uỷ quyền

Khác biệt giữa đại diện cho thương nhân với đại diện theo uỷ quyền được quy định trong Bộ luật Dân sự đó là:

Về chủ thể: theo quy định của Luật thương mại, hoạt động đại diện cho thương nhân có chủ thể bắt buộc phải là thương nhân Đại diện theo uỷ quyền quy định của Bộ luật Dân sự có chủ thể là bất kỳ ai miễn là đáp ứng đủ điều kiện về năng lực chủ thể được quy định trong Bộ luật Dân sự

Về mục đích hoạt động đại diện: Đại diện cho thương nhân theo quy định trong Luật thương mại có mục đích sinh lời và gắn liền với lĩnh vực hoạt động thương mại Quy định về đại diện trong Bộ luật Dân sự không nhất thiết phải có mục đích này

Về hình thức hợp đồng: Hợp đồng đại diện cho thương nhân theo quy định Luật thương mại phải được lập thành văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Hợp đồng uỷ quyền quy định trong Bộ luật Dân sự không nhất thiết phải bằng văn bản

II PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI DIỆN CHO THƯƠNG

NHÂN

1 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đại diện cho thương nhân

Trang 6

4

Thông qua hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đại diện cho thương nhân được xác định chủ yếu thông qua các điều khoản của hợp đồng Ngoài những điều khoản của hợp đồng thì các bên cũng có các quyền và nghĩa vụ nhất định được pháp luật quy định và có sự ràng buộc các bên phải thực hiện (trừ các bên thoản thuận khác nhưng không vi phạm vào điều cấm của luật và đạo đức xã hội)

1.1 Quyền và nghĩa vụ của bên đại diện đối với bên giao đại diện

a) Nghĩa vụ của bên đại diện

Trong quan hệ đại diện cho thương nhân, bên giao đại diện cho phép và ủy quyền cho bên đại diện quan hệ với bên thứ ba Vì vậy, nếu bên đại diện sơ suất hoặc thiếu trung thực sẽ làm ảnh hưởng tới bên giao đại diện Do đó pháp luật quy định những nghĩa vụ của bên đại diện Theo đó quy định tại Điều 145 Luật thương mại 2005, bên đại diện có các nghĩa vụ sau (trừ trường hợp các bên thỏa thuận khác):

Một là, thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa và vì lợi ích của bên giao đại diện Tức là trong phạm vi đại diện, bên đại diện thực hiện các hoạt động thương mại nhân danh bên giao đại diện chứ không nhân danh mình Những giao dịch do bên đại diện thực hiện nhân danh bên giao đại diện mà vượt quá phạm vi đại diện nếu không được bên giao đại diện chấp nhận thì bên đại diện phải chịu trách nhiệm đối với bên thứ

ba, trừ trường hợp bên thứ ba biết hoặc phải biết về việc không có thẩm quyền đại diện3 Bên đại diện có nghĩa vụ hoạt động vì lợi ích của bên giao đại diện, có nghĩa vụ báo cho bên thứ ba về thời hạn, phạm vi được ủy quyền của mình cũng như việc sửa đổi, bổ sung phạm vi ủy quyền

Hai là, thông báo cho bên giao đại diện về cơ hội và kết quả thực hiện các hoạt động thương mại đã được uỷ quyền Bên đại diện phải cung cấp cho bên giao đại diện các thông tin mà mình biết hay phải biết với cương vị là bên đại diện như diễn biến thị trường, tình hình kinh doanh, kết quả của các hoạt động đã thực hiện… để bên giao đại diện chủ động xây dựng, thực hiện kế hoạch kinh doanh của mình cho phù hợp với tình hình thị trường và kịp thời đưa ra những hướng dẫn cụ thể cho bên đại diện

3 Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam tập 2, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Tư pháp (2020), tr.91

Trang 7

5

Ba là, tuân thủ chỉ dẫn của bên giao đại diện nếu chỉ dẫn đó không vi phạm quy định của pháp luật Nghĩa vụ này yêu cầu trong phạm vi được ủy quyền, bên đại diện phải tuân theo mọi chỉ dẫn của bên giao đại diện Bên đại diện phải trao đổi, thông báo cho bên giao đại diện khi không thể thực hiện những chỉ dẫn của họ hoặc việc thực hiện

có nguy cơ gây thiệt hại cho bên giao đại diện4 Họ cũng có quyền từ chối thực hiện chỉ dẫn nếu chỉ dẫn đó vi phạm pháp luật hoặc không phù hợp với hợp đồng đại diện

Bốn là, không được thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa của mình hoặc của người thứ ba trong phạm vi đại diện Nghĩa vụ này không có nghĩa là bên đại diện không được phép đại diện cho hai hoặc nhiều thương nhân cùng một lúc nếu trong trường hợp không có những hạn chế như vậy

Năm là, không được tiết lộ hoặc cung cấp cho người khác các bí mật liên quan đến hoạt động thương mại của bên giao đại diện trong thời gian làm đại diện và trong thời hạn hai năm, kể từ khi chấm dứt hợp đồng đại diện Khi giao kết hợp đồng, các bên

có thể thỏa thuận những thông tin nào được coi là bí mật, nếu không có thỏa thuận thì tùy vào điều kiện cụ thể để xem xét, tuy nhiên thông tin phải liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của bên giao đại diện, chưa được công bố công khai và đã được tiết lộ cho bên đại diện Nếu bên đại diện tiết lộ các thông tin này có thể làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh của bên giao đại diện

Sáu là, bảo quản tài sản, tài liệu được giao để thực hiện hoạt động đại diện Bên đại diện có nghĩa vụ bảo quản tài sản, tài liệu được giao, khi kết thúc hoạt động đại diện phải hoàn trả tài sản, tài liệu đó cho bên giao đại diện và phải bảo quản tài sản do bên giao đại diện giao riêng biệt với tài sản của mình

b) Quyền của bên đại diện

Một là, quyền hưởng thù lao đại diện (Điều 147 Luật thương mại 2005) Bên đại diện được hưởng thù lao đối với các hợp đồng được giao kết trong phạm vi đại diện Quyền được hưởng thù lao phát sinh từ thời điểm do các bên thoả thuận trong hợp đồng đại diện Nếu trong hợp đồng đại diện các bên không thỏa thuận về mức thù lao thì mức thù lao cho bên đại diện được xác định theo giá của các dịch vụ đó trong các điều kiện

4 Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam tập 2, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Tư pháp (2020), tr.93.

Trang 8

6

tương tự về phương thức cung ứng, thời điểm cung ứng, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá dịch vụ5 Trong trường hợp các bên không thỏa thuận về thời hạn thanh toán thù lao cho bên đại diện và giữa các bên không có bất kì thói quen nào về việc thanh toán thì thời hạn thanh toán là thời điểm bên đại diện đã hoàn thành việc cung ứng dịch vụ

Hai là, quyền yêu cầu thanh toán chi phí (Điều 148 Luật thương mại 2005) Trong hợp đồng đại diện, các bên thỏa thuận về nghĩa vụ thanh toán các chi phí liên quan đến việc thực hiện hoạt động đại diện Các bên có thể thỏa thuận những chi phí cho hoạt động đại diên, chi phí này do bên đại diện chịu, bên đại diện không có nghĩa vụ thanh toán các chi phí đó, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của bên đại diện

Ba là, quyền được nắm giữ tài sản, tài liệu được giao Để đảm bảo quyền được hưởng thù lao và thanh toán các chi phí hợp lí khi đã hết hạn thì các quyền này được thực hiện (quyền phái sinh), bên đại diện có quyền cầm giữ tài sản, tài lệu được giao trong quá trình thực hiện hoạt động đại diện Điều này được quy định cụ thể tại Điều

149 Luật thương mại 2005

1.2 Quyền và nghĩa vụ của bên được giao đại diện đối với bên đại diện

Theo quy định của Luật thương mại 2005 thì người giao đại diện cũng có một số các quyền và nghĩa vụ sau:

a) Nghĩa vụ của bên giao đại diện

Điều 146 Luật thương mại 2005 quy định, trừ trường hợp các bên có thảo thuận khác, bên giao đại diện có nghĩa vụ sau:

Một là, thông báo ngay cho bên đại diện về việc giao kết hợp đồng mà bên đại diện đã giao dịch, việc thực hiện hợp đồng mà bên đại diện đã giao kết, việc chấp nhận hay không chấp nhận các hoạt động ngoài phạm vi đại diện mà bên đại diện thực hiện

Hai là, cung cấp tài sản, tài liệu, thông tin cần thiết để bên đại diện thực hiện hoạt động đại diện Đây là nghĩa vụ mà bên giao đại diện phải thực hiện nhằm tạo điều kiện cho bên đại diện hoạt động cũng như là để phục vụ cho lợi ích của chính bản thân họ

5 Điều 86, Luật thương mại 2005

Trang 9

7

Ba là, trả thù lao và các chi phí hợp lý khác cho bên đại diện Đây là một nghĩa vụ quan trọng của bên giao đại diện Thù lao mà họ phải thanh toán có thể gồm thù lao theo hợp đồng đại diện và những khoản thù lao phát sinh từ hợp đồng này Ngoài ra, bên giao đại diện còn phải thanh toán cho bên đại diện những chi phí liên quan đến việc đại diện, nếu các bên không có thoản thuận khác

Bốn là, thông báo kịp thời cho bên đại diện về khả năng không giao kết được, không thực hiện được hợp đồng trong phạm vi đại diện

b) Quyền của bên giao đại diện

Trong Luật thương mại, quyền của bên giao đại diện không được quy định một các

cụ thể, song hợp đồng đại diện cho thương nhân với tính chất là hợp đồng song vụ nên thông qua các nghĩa vụ của bên đại diện, có thể thấy được quyền của bên giao đại diện gồm những quyền sau: Quyền không chấp nhận hợp đồng do bên đại diện kí không đúng thẩm quyền, và có quyền yêu cầu bên đại diện đã vượt quá thẩm quyền đại diện và khách hàng liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh; Quyền yêu cầu bên đại diện cung cấp các thông tin liên quan đến việc thực hiện hợp đồng thương mại được ủy quyền; Quyền đưa

ra những chỉ dẫn, yêu cầu bên đại diện phải tuân thủ các chỉ dẫn đó

2 Chấm dứt hợp đồng đại diện cho thương nhân

Việc chấm dứt hợp đồng đại diện cho thương nhân được điều chỉnh chung theo

quy định tại khoản 3 Điều 140 Bộ luật dân sự với 4 trường hợp sau: Một là, thời hạn đại

diện cho thương nhân chấm dứt; Hai là, công việc đại diện cho thương nhân hoàn thành;

Ba là, một trong các bên tham gia hợp đồng chết, mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tư cách thương nhân; Bốn là, hợp đồng môi giới bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện

Về thời hạn của hợp đồng đại diện cho thương nhân được quy định tại Điều 144

Luật Thương mại năm 2005:“1 Thời hạn đại diện do các bên thoả thuận 2 Trường

hợp không có thoả thuận, thời hạn đại diện chấm dứt khi bên giao đại diện thông báo cho bên đại diện về việc chấm dứt hợp đồng đại diện hoặc bên đại diện thông báo cho bên giao đại diện về việc chấm dứt hợp đồng 3 Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu bên giao đại diện đơn phương thông báo chấm dứt hợp đồng đại diện theo quy định

Trang 10

8

tại khoản 2 Điều này thì bên đại diện có quyền yêu cầu bên giao đại diện trả một khoản thù lao do việc bên giao đại diện giao kết các hợp đồng với khách hàng mà bên đại diện

đã giao dịch và những khoản thù lao khác mà đáng lẽ mình được hưởng 4 Trường hợp thời hạn đại diện chấm dứt theo quy định tại khoản 2 Điều này theo yêu cầu của bên đại diện thì bên đại diện bị mất quyền hưởng thù lao đối với các giao dịch mà đáng lẽ mình được hưởng nếu các bên không có thoả thuận khác.” 6

Theo quy định trên thì hợp đồng đại diện thương nhân có thể chấm dứt theo hai trường hợp: Một là, hợp đồng chấm dứt do hết thời hạn thỏa thuận, khi đó các bên phải hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ của hợp đồng Hai là, hợp đồng chấm dứt trong trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn Khi đó, hợp đồng sẽ chấm dứt khi một trong hai bên thông báo cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng Trường hợp hợp đồng chấm dứt theo yêu cầu của bên giao đại diện, thì bên đại diện có quyền yêu cầu bên này trả một khoản thù lao do việc giao kết hợp đồng với khách hàng mà bên đại diện đã giao dịch và những khoản thù lao khác; Trường hợp hợp đồng chấm dứt theo yêu cầu của bên đại diện, thì bên này bị mất quyền hưởng thù lao các giao dịch mà mình được hưởng

III BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG

ĐẠI DIỆN CHO THƯƠNG NHÂN

1 Bất cập

Một là, Chế định đại diện cho thương nhân được điều chỉnh bởi cả Bộ luật dân sự

2015 (BLDS 2015) và Luật Thương mại 2005 (LTM 2005)

Thứ nhất, LTM có những quy định riêng trong Mục 1 Chương V về đại diện cho thương nhân, nhưng tại Khoản 2 Điều 141 lại chỉ dẫn đến việc áp dụng quy định của BLDS 2015: “trong trường hợp thương nhân cử người của mình để làm đại diện cho mình thì áp dụng quy định của BLDS” Do đó, quy định Khoản 2 Điều 141 là không cần thiết và mâu thuẫn với nguyên tắc áp dụng luật chung khi luật chuyên ngành không điều chỉnh7

6 Điều 144, Luật thương mại 2005.

7 Phan Thị Hồng (2014), “Hoàn thiện chế định đại diện trong hợp đồng thương mại”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 22(278)

Ngày đăng: 10/05/2022, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w