TÊN ĐỀ TÀI Ý NGHĨA CỦA CÁC TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN, TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG, TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần Cơ sở văn hóa Việt Nam Mã phách Hà Nội – 2021 2 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Lí do chọn đề tài 4 2 Kết cấu bài tập lớn 5 NỘI DUNG Phần 1 Cơ sở lý luận về tín ngưỡng dân gian Việt Nam 6 1 1 Một số khái niệm cơ bản 6 1 1 1 Tín ngưỡng 6 1 1 2 Tín ngưỡng dân gian Việt Nam 6 1 2 Một số tín ngưỡ.
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ XÃ HỘI
TÊN ĐỀ TÀI
Ý NGHĨA CỦA CÁC TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM: TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN, TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG, TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU
BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Mã phách:………
Hà Nội – 2021
Trang 22
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài……….… …….…4
2 Kết cấu bài tập lớn……… 5
NỘI DUNG Phần 1 Cơ sở lý luận về tín ngưỡng dân gian Việt Nam ……….6
1.1 Một số khái niệm cơ bản… 6
1.1.1 Tín ngưỡng……….….6
1.1.2 Tín ngưỡng dân gian Việt Nam……… 6
1.2 Một số tín ngưỡng dân gian tiêu biểu tại Việt Nam 6
1.2.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên………6
1.2.2 Tín ngưỡng thờ Thành hoàng……….7
1.2.3 Tín ngưỡng thờ Mẫu……….… 7
Phần 2 Nguồn gốc và những biểu hiện của các tín ngưỡng dân gian Việt Nam……… ……8
2.1 Nguồn gốc của các tín ngưỡng dân gian Việt Nam……….…8
2.1.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên……… 8
2.1.2 Tín ngưỡng thờ Thành hoàng……….9
2.1.3 Tín ngưỡng thờ Mẫu……….11
2.2 Những biểu hiện của các tín ngưỡng dân gian Việt Nam…… …12
2.2.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên……… 12
2.2.2 Tín ngưỡng thờ Thành hoàng……… 13
2.2.3 Tín ngưỡng thờ Mẫu……….…15
2.3 Những biến đổi của tín ngưỡng dân gian Việt Nam trong đời sống hiện nay……… 16
2.3.1 Biến đổi tích cực……… 16
2.3.2 Biến đổi tiêu cực……… 17
Trang 33
Phần 3 Ý nghĩa của các tín ngưỡng dân gian Việt Nam……….18
3.1 Ý nghĩa của tín ngưỡng dân gian trong giáo dục đạo đức……….18
3.2 Ý nghĩa của tín ngưỡng dân gian trong việc phạt huy tính dân chủ, đoàn kết……… ………19
3.3 Ý nghĩa của tín ngưỡng dân gian trong việc bảo tồn và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc……… 19
Phần 4 Một số biện pháp nhằm giữ gìn và phát huy nét đẹp của các tín ngưỡng dân gian Việt Nam……….21
4.1 Đối với chính quyền nhà nước……… ………21
4.2 Đối với gia đình, dòng họ……… 21
4.3 Đối với mỗi cá nhân……… 22
KẾT LUẬN……….23
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………24
Trang 4Nền văn hóa Việt đã chứng kiến bao sự đổi thay mạnh mẽ trong quá trình giao lưu và tiếp nhận các nền văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng từ bên ngoài Nhưng trong quá trình “nội sinh hóa các yếu tố ngoại sinh” ấy, dân tộc Việt Nam vẫn giữ được nét văn hóa độc đáo, mà tiêu biểu trong đó là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Mẫu Trong xã hội văn minh hiện đại, những tín ngưỡng ấy vẫn luôn được các thế hệ người Việt Nam trân trọng, giữ gìn, kế thừa và phát huy Nó là sợi dây vô hình gắn kết người Việt Nam ở mọi phương trời, bởi nó phản ánh khát vọng sống chân chính, nét đẹp của đạo lý cổ nhân và chiều sâu của tâm hồn Việt, đã vượt qua khoảng cách về không gian, thời gian trở thành nét văn hóa truyền thống của người Việt Nam
Trong quá khứ cũng như hiện tại, tín ngưỡng dân gian luôn là đời sống tinh thần phong phú của dân tộc Việt Nam Sự phong phú, đa dạng của tín ngưỡng, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, cho đến nay vẫn đang còn là vấn
đề được nhiều nhà khoa học quan tâm, tìm hiểu Theo chiều hướng đó, đề tài
Trang 66
NỘI DUNG PHẦN 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Tín ngưỡng
Tín ngưỡng là một niềm tin có hệ thống mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình yên cho bản thân và mọi người trong cộng đồng Tín ngưỡng dân gian là niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên, coi vạn vật hữu thần, thần thánh có sức mạnh siêu phàm, thống trị cuộc sống con người, có liên quan đến tôn giáo nguyên thủy nhưng không phải là tôn giáo
1.1.2 Tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Tín ngưỡng dân gian là tập hợp những niềm tin hình thành và phản ánh ước nguyện của một cộng đồng người Tuy nhiên, những tín ngưỡng này không nhất định thành tổ chức tôn giáo Tín ngưỡng dân gian Việt Nam, còn gọi là tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, là tín ngưỡng bản địa của các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam trải qua nhiều thời đại
1.2 Một số tín ngưỡng dân gian tiêu biểu tại Việt Nam
1.2.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Tổ tiên theo quan niệm của người Việt là những người có cùng huyết thống, đó là cha mẹ, ông bà, cụ kỵ, những người đã sinh thành ra mình Tổ tiên
là những người tạo dựng nên cuộc sống của con người [13, tr.10]
Thờ cúng tổ tiên chính là toàn bộ các hình thức lễ nghi, cúng bái nhằm thể hiện tấm lòng thành kính, đạo lý uống nước nhớ nguồn, biết ơn tổ tiên, ông
bà, cha mẹ đã sinh thành và gây dựng nên cuộc sống cho con cháu – những người thuộc thế hệ đầu tiên của một dòng họ, với ông bà, cha mẹ đã qua đời
Trang 77
1.2.2 Tín ngưỡng thờ Thành hoàng
Thờ cúng Thành hoàng là tín ngưỡng phổ biến ở các làng xã người Việt Nếu nói tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng chính của cộng đồng gia tộc thì thờ Thành hoàng là tín ngưỡng chính của cộng đồng làng xã Thờ Thành hoàng là một loại hình tín ngưỡng có tự lâu đời, đã và đang ảnh hưởng không nhỏ trong tâm thức người Việt và đặc biệt là trong công cuộc xây dựng và phát huy những nét văn hoá truyền thống Hoạt động tín ngưỡng Thành hoàng khá
phổ biến đối với mỗi làng quê, trong các vùng nông thôn Việt Nam [6, tr.6]
1.2.3 Tín ngưỡng thờ Mẫu
Tín ngưỡng thờ Mẫu có thể được hiểu là một loại hình tín ngưỡng dân gian được tích hợp bởi các lớp tín ngưỡng thờ Nứ thần, thờ Mẫu thần và thờ Tam phủ - Tứ phủ với niềm tin thiêng liêng vào quyền năng của Mẫu, đấng bảo trợ cho sự tồn tại và sinh thành của con người
Nữ thần được thờ có thể là nhiên thần như: Thần Sấm, Thần Mây, Thần Mưa, Thần Chớp (Tứ Pháp), Mẹ Lúa, Mẹ Chim, Mẹ Cá,…; có thể là nhân thần như: Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Âu Cơ, Ỷ Lan, Bà Trưng, Bà Triệu,…[12, tr.27]
Trang 88
PHẦN 2
NGUỒN GỐC VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM
2.1 Nguồn gốc của tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam có một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống người Việt Từ xa xưa, con người đã sùng bái tự nhiên Họ coi những lực lượng siêu nhiên là các vị thần thánh có sức mạnh siêu phàm mà con người không có Họ cho rằng những vị thần thành đó có thể quyết định được sự sống
và cái chết của họ Khi con người bất lực trước tự nhiên và về sau là sự bất lực của con người về áp bức, bóc lột, giai cấp…, áp lực về thiên tai, nông nghiệp,… trong cuộc sống ở thực tại và họ muốn tìm đến sự giải thoát trong đời sống tinh thần Điều đó đã dẫn con người tìm đến tín ngưỡng, đây chính là cơ sở cho sự
ra đời của tín ngưỡng dân gian Việt Nam
2.1.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Việt Nam được biết đến là một quốc gia có nền văn hoá lâu đời, đặc biệt
là văn hóa tinh thần được thể hiện qua các tín ngưỡng dân gian Đầu tiên, không
thể không nói đến tục thờ cúng tổ tiên của người Việt Dân gian xưa có câu:
“Con người có tổ có tông, Như cây có cội, như sông có nguồn.”
Nguyên nhân hình thành nên phong tục thờ cúng tổ tiên này có lẽ do trong thế giới văn hóa tâm linh của người Việt, họ quan niệm về cuộc sống sau khi chết
“trần sao, âm vậy” Quan niệm về linh hồn luôn hiện hữu là cơ sở tâm linh cho
sự ra đời của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Người Việt quan niệm rằng, con người luôn có phần thể xác và linh hồn Khi con người chết đi thì thể xác cũng mất đi nhưng linh hồn thì vẫn còn hiện hữu ở một nơi nào đó, mà người ta thường hay gọi là cõi Âm hay Âm ti, Âm phủ Họ cho rằng người sau khi chết
Trang 99
sẽ được xét xử, ai tốt sẽ được lên Thiên đường hay cõi tiên, có kiếp sau sung sướng, còn ai xấu sẽ bị trừng phạt, kiếp sau phải chịu khổ Và linh hồn của tiền nhân, của tổ tiên luôn bên cạnh con cháu, chứng giám, độ trì cho con cháu Vì quan niệm “trần sao, âm vậy” nên mới có những tục lệ như chia của cho người chết, chôn theo người chết tiền bạc, các đồ dùng, rồi nghi lễ đốt vàng mã cũng
là một cách để “tiếp tế” cho người chết
Trong con người có cái vật chất và cái tinh thần Cái tinh thần trừu tượng, khó nắm bắt, nên người xưa đã thần thánh hóa nó thành khái niệm “linh hồn”,
và linh hồn trở thành đầu mối của tín ngưỡng Người Việt và một vài dân tộc Đông Nam Á còn tách linh hồn ra thành hồn và vía Người Việt cho rằng con người có 3 hồn, nhưng vía thì nam có 7, còn nữ có 9 Ba hồn, theo một cách giải thích thông thường gồm tinh, khí và thần Tinh là sự tinh anh trong nhận thức (nhờ các quan năng, các cía mang lại) Khí là khí lực, là năng lượng làm cho cơ thể hoạt động Thần là thần thái, là sự sống nói chung Vía, với vai trò trung gian, là cái làm hoạt động các quan năng – những nơi cơ thể tiếp xúc với môi trường xung quanh Đàn ông có 7 vía cai quản 7 “lỗ” trên mặt: hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng Phụ nữ thì có thêm hai vía cai quản nơi sinh đẻ và cho con bú [10, tr.278-279]
2.1.2 Tín ngưỡng thờ Thành hoàng
Việc thờ cúng Thành hoàng trước hết bắt nguồn từ việc thờ cúng thần linh của người Việt Từ thời hồng hoang của lịch sử, trong quá trình khai phá đồng bằng, lập làng, lập ấp, người Việt luôn cảm thấy mình bé nhỏ trước thiên nhiên hoang sơ và kỳ vĩ Trước mắt người nông dân, vạn vật xung quanh cũng biết suy nghĩ, cũng có linh hồn, có cuộc sống như con người Họ tồn tại và phát triển bằng một niềm tin nơi bản thân mình và tin ở sức mạnh ngoài mình Mỗi sức mạnh, dù là do thiên nhiên hay con người tạo ra đều là một vị thần Họ tin rằng tất cả các vị thần linh đều có ảnh hưởng đối với đời sống, vận mệnh của
Trang 10có, những người có khả năng chữa bệnh thì sau khi chết mới được thờ làm thần linh Việc thờ cúng các vị thần như vậy là một cách biểu lộ lòng biết ơn và sự tôn thờ sức mạnh cũng như cầu mong sức khoẻ cho người và gia súc của người dân Trong các làng xã Việt Nam hầu hết làng nào cũng có vài vị thần được thờ phụng với cầu mong thần linh phù hộ cho “người an, vật thịnh” Các vị thần này lúc đầu được thờ ở các am, miếu, đền, nghè trong làng
Các vị thần của mỗi làng xã Việt Nam được gọi là thành hoàng làng có xuất xứ từ thành hoàng của Trung Quốc Đó là cách gọi các vị thần bảo vệ thành
trì, thành thị của Trung Quốc Việc gọi các vị thần làng là thành hoàng là cách
gọi theo mô thức thành hoàng của Trung Quốc và do các quan đô hộ Trung Quốc gia phong Sau này các nhà nước phong kiến Việt Nam tiếp tục gia phong
Trang 1111
2.1.3 Tín ngưỡng thờ Mẫu
Từ những thế kỷ đầu Công nguyên, khi các tôn giáo lớn trên thế giới chưa có điều kiện du nhập vào Việt Nam, dân tộc ta đã có tín ngưỡng đa thần, đặc biệt là tín ngưỡng thờ Mẫu
Những vị nữ thần được nhắc đến đầu tiên là những thần siêu nhiên (nhiên thần) mang yếu tố của nền nông nghiệp lúa nước Người ta tôn thờ các yếu tố
có ảnh hưởng đế nông nghiệp như mây, mưa, sấm sét,… Hình thức thờ Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) ra đời để đáp ứng cho cuộc sống lấy nông nghiệp làm chính Đó là những nữ thần mà dân gian đặt cho họ các tên gọi mộc mạc, nôm na: Bà Dâu, bà Đậu, bà Dàn, bà Tướng “Và vì cái đích
mà người Việt Nam hướng tới là sự phồn thực, cho nên nữ thần của ta không phải là các cô gái trẻ đẹp, mà là các bà Mẹ, các Mẫu” Tính đa dạng trong các hình thái thờ Mẫu được tôn vinh như những bà Chúa, và Chúa thì ngự ở phủ, nên được thể hiện qua tín ngưỡng Tứ Phủ Chú trọng đến các Mẫu có yếu tố Trời (Mẫu Thiên, là Thiên phủ), Đất (Mẹ Đất, Diêu Trì Kim Mẫu là Địa phủ), Nước (Mẫu Thoải là Thủy phủ), Rừng (Mẫu Thượng Ngàn là Nhạc phủ),…Ngoài những nữ thần là những nhiên thần, còn thờ các nhân thần như
Bà Trưng, Bà Triệu,… Đó là những người đã có công lao trong việc bảo vệ Tổ quốc, đã được trân trọng thờ tự trong các ngôi đền khắp cả nước
Theo Ngô Đức Thịnh “hệ thống thần linh tứ phủ gồm các thiên thần và nhân thần là các vị thần linh đã từng là người trần thế hay có nguồn gốc Tiên, Thánh Tuy nhiên, xu hướng “trần gian hóa” và “lịch sử hóa” là xu hướng chính trong quá trình “thêu dệt” nên thần tích các vị Thánh này Vị Thánh Mẫu Liễu Hạnh ra đời chậm trễ nhất trong số các Vị Thánh Mẫu, nhưng Thần tích của bà cũng được người đời “trần thế hóa”, “địa phương hóa”, “lịch sử hóa”, một cách khá trọn vẹn để từ đó bà bước lên ngôi thứ cao nhất trong điện thần Tứ phủ Còn biết bao các vị thần khác đều có nguồn gốc xuất thân, lý lịch nhập thế với
Trang 1212
bao công lao kỳ tích gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, tạo cho nó trở thành một biểu tượng của lòng yêu nước mang đầy tính tâm linh Cũng chính vì thế họ đều là những phúc thần, có thể xua đuổi tà ma, mang lại tài lộc, sức khỏe cho con người” [11, tr.147-148]
2.2 Biểu hiện của các tín ngưỡng dân gian Việt Nam
2.2.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam thể hiện qua việc lập bàn thờ, thờ di ảnh, bài vị hoặc tro cốt của những người thân có cùng huyết thống đã mất, những vị anh hùng có công với quê hương đất nước hay những người đã sản sinh ra đất nước này rồi hàng ngày lo hương khói, cúng bái hoặc vào những ngày giỗ, Tết…Ở Việt Nam, hầu như gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên (dù thờ chính hay thờ vọng)
Việc thờ cúng tổ tiên tại gia đình thường được tiến hành quanh năm, xuất phát từ quan niệm dù đã khuất nhưng linh hồn họ vẫn luôn ở bên cạnh con cháu Không chỉ cúng lễ trong các dịp quan trọng như tang ma, giỗ chạp, cưới xin…, trong những ngày lễ Tết như Tết Nguyên đán, Tết Thanh Minh, Tết Hàn Thực, Tết Đoan ngọ…, các ngày Sóc (ngày mồng một), ngày Vọng (ngày rằm) theo chu kỳ tuần trăng, mà các vị tổ tiên còn được con cháu kinh cáo mọi chuyện vui buồn như: sinh nở, ốm đau, thi cử, đỗ đạt, kiện cáo, bất hòa, dựng vợ gả chồng,… Con cháu còn kính mời các vị tổ tiên về hưởng thụ hoa trái đầu mùa,
lễ tạ tổ tiên khi có phúc, có lộc Có thể nói trong tâm thức những người sống thì tổ tiên là bất tử Người Việt dâng hương, làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và
để cầu mong tổ tiên phù hộ, hay để tạ ơn khi công việc thành công Về bản chất, việc thờ cúng tổ tiên của người Việt là niềm tin người sống cũng như người chết đều có sự liên hệ mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau Con cháu thì thăm hỏi, khấn cáo tiền nhân, tổ tiên thì che chở, dẫn dắt hậu thế Vì vậy, việc cúng giỗ chính
mà thực hiện mối giao lưu giữa cõi dương và cõi âm
Trang 1313
Có thể nói thờ cúng tổ tiên là hình thái tín ngưỡng có ý nghĩa lớn về mặt
tổ chức cộng đồng trong xã hội Việt Nam truyền thống Tính theo trục dọc phụ
hệ, thờ cúng tổ tiên là sự nối tiếp liên tục các thế hệ: ông bà - cha mẹ - con cháu Mỗi con người phải có trách nhiệm thờ phụng bốn đời trước: Cao - tằng- tổ - khảo (kỵ - cụ - ông - bố) và tin tưởng mình sẽ được con cháu bốn đời sau cúng giỗ Theo trục ngang, thờ cúng tổ tiên đã gắn bó con người trong mối liên kết dòng họ: họ cha, họ mẹ, họ vợ, hoặc chồng Như vậy cả người đang sống và người chết - gắn bó với nhau về huyết thống và thờ chung một thuỷ tổ - dòng
họ, việc thờ cúng tổ tiên đã tạo ra sức mạnh đảm bảo giá trị tinh thần cho mỗi thành viên trong làng xã
Trong phạm vi đất nước, tín ngưỡng này còn được thể hiện qua lòng nhớ kính đến các vị thủy tổ của dân tộc, được nâng lên thành việc lập nhiều đền để thờ các vua Hùng Rồi những đền thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ với huyền thoại
100 trứng, qua đó thể hiện sự kết hợp trong tư duy dân tộc từ thuở lập quốc hình ảnh cặp đôi của yếu tố âm – dương, với 50 con theo cha (dương) xuống biển (âm) và 50 con theo mẹ (âm) lên núi (dương) [2, tr.81]
2.2.2 Tín ngưỡng thờ Thành hoàng
Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng là một tín ngưỡng khá phổ biến ở làng
xã của người Việt, thờ những người có công khai khẩn và có những đóng góp
to lớn cho làng Hầu hết các Thành hoàng được thờ ở đình làng Đình là nơi sinh hoạt cộng đồng, như hội họp, đón tiếp quan khách cấp trên, nơi xử kiện và đặc biệt là nơi tiến hành các nghi lễ thờ cúng Thành hoàng làng Tuy nhiên do điều kiện cụ thể của từng làng, cá biệt có những làng không thờ Thành hoàng
ở đình mà thờ ở miếu như làng Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định Tại Việt Nam, không làng nào là không có đình, đền, miếu thờ thần Bởi thế, thần Thành hoàng là biểu tượng thiêng liêng nhất của cả làng Ở mỗi làng, khắp các làng xưa kia, tín ngưỡng thờ Thành hoàng là sự kết hợp đỉnh cao của tín ngưỡng