VÙNG VĂN HÓA BIỂN ĐẢO Lịch sử hình thành văn hóa Việt Nam Trong các thế kỷ trước và sau Công nguyên, chủ nhân các nền văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh, Champa đã từ vùng trung du, đồng bằng cận duyên tiến dần ra phía biển, khai thác tài nguyên biển để tồn tại và du nhập các yếu tố biển vào văn hóa của cộng đồng mình Ngược lại, từ thời đại đá mới, những lớp cư dân thuộc văn hóa Nam Đảo từ phía biển đã bắt đầu thâm nhập sâu vào nội địa Việt Nam Một số hình ả.
Trang 1VÙNG VĂN HÓA BIỂN ĐẢO
Lịch sử hình thành văn hóa Việt Nam:
- Trong các thế kỷ trước và sau Công nguyên, chủ nhân các nền văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh,Champa…đã từ vùng trung du, đồng bằng cận duyên tiến dần ra phía biển, khai thác tài nguyênbiển để tồn tại và du nhập các yếu tố biển vào văn hóa của cộng đồng mình
- Ngược lại, từ thời đại đá mới, những lớp cư dân thuộc văn hóa Nam Đảo từ phía biển đã bắt đầuthâm nhập sâu vào nội địa Việt Nam
Một số hình ảnh của nền văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh, Chăm Pa:
Huyền thoại Lạc Long Quân - Âu Cơ chính là sự phản ánh hai xu thế “di cư” của các cộngđồng cư dân Việt cổ trong thời kỳ lập quốc: những cộng đồng từ vùng rừng núi tràn xuống phíabiển và những cộng đồng khác từ biển tiến vào lục địa, hợp nhất với nhau để hình thành nền dân tộcViệt Nam Biển đã trở thành môi trường sống, là nhân tố hợp thành và nuôi dưỡng các nền văn hóaViệt cổ, góp phần định hình bản sắc văn hóa và tư duy của dân tộc Việt Nam
Các cư dân của nền văn hóa Đông Sơn đã có mối quan hệ mật thiết với cư dân ở nam TrungHoa, ở tây nam Nhật Bản, ở các quốc đảo trong khu vực Đông Nam Á Xét trên khía cạnh “truyền
bá văn hóa”, không gian biển chính là “đường dẫn” để văn hóa Việt Nam “nối thông” với thế giớibên ngoài và lưu lại những dấu ấn và ảnh hưởng mạnh mẽ ở những nơi mà văn hóa Việt “cập bến”
Trống đồng Đông Sơn gốm Việt chính là những “sứ giả” xuất sắc trong hành trình “truyền
bá văn hóa Việt” này Những con đường tơ lụa, con đường gốm sứ, con đường gia vị… thành hìnhtrên biển Đông, cũng là những con đường mang văn hóa Việt Nam ra nước ngoài và du nhập vănhóa bên ngoài vào Việt Nam
Như vậy, biển không chỉ là giao lộ, là huyết mạch kinh tế mà còn là một “hành lang” traođổi văn hóa và giao lưu chính trị giữa Việt Nam với bên ngoài Theo sau các bang giao chính trị lànhững giao lưu về kinh tế và văn hóa Tàu thuyền của các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Lưu Cầu, BồĐào Nha, Hà Lan, Tây Ban Nha đến các thương cảng của Việt Nam để trao đổi, mua bán hàng hóa,để tránh bão, tiếp thêm nước ngọt… và du nhập văn hóa bên ngoài vào Việt Nam, đồng thời cũngđưa sản phẩm, văn hóa Việt Nam lan tỏa ra bên ngoài
Hình ảnh Lạc Long Quân dẫn 50 người con trai xuống biển đã cho thấy tổ tiên ta không chỉgắn bó với đất liền mà còn gắn bó với biển khơi Đây được xem là tư duy sơ khai về quá trình chinhphục biển của người Việt cổ
Sau khi nước ta rơi vào ách thống trị của các thế lực phong kiến phương Bắc, những cư dânven biển phía Bắc cũng bị áp bức, bóc lột nặng nề Sau khi đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch
Trang 2Đằng (938), Ngô Quyền xưng vương, khôi phục nền độc lập của dân tộc, mở ra thời kỳ độc lập, tựchủ - kỷ nguyên Đại Việt.
Dưới thời kỳ nhà Trần, quân dân ta đã ba lần đánh tan quân Nguyên - Mông xâm lược, trongđó nhà Trần khởi dựng được sự nghiệp từ những người đánh cá ven biển Nam Định - Ninh Bìnhngày nay
Hình ảnh trận Bạch Đằng chống quân Mông – Nguyên và Hưng Đạo Đại Vương người cócông lao rất lớn trong công cuộc chống quân Mông Nguyên
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảngvà Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã liên tiếp giành được nhiều thắng lợi to lớn cả trên đấtliền và trên sông biển, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Trong đó, Hải quân nhân dân Việt Nam thật sự là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhândân trên chiến trường biển, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang và nhân dân ven biển hoànthành xuất sắc nhiệm vụ được giao
Đường Hồ Chí Minh trên biển Đông được xem là một sáng tạo độc đáo của quân và dân ta,
đã góp phần chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam và đã trở thành huyền thoại
Từ Đông Á đến Đông Nam Á, từ Trung Đông đến Ấn Độ, rồi cả phương Tây thời cận thế,dặm dài lịch sử văn hóa biển đảo Việt Nam đã chứng minh được sự giao thoa ấy, do đó, việc nghiêncứu những giá trị văn hóa biển đảo Việt Nam là vô cùng cần thiết, để bóc tách những tầng sâu củagiá trị văn hóa, để có được nhận thức và đánh giá sâu sắc hơn thiết tưởng sẽ là công việc còn tốnnhiều công sức và thời gian
Bài thuyết trình hôm nay mong muốn cung cấp những thông tin tiềm năng về văn hóa biểnvà đảo Việt Nam, theo đó nêu một ý kiến góp bàn về công tác bảo vệ và phát huy những giá trị củachúng
I Lịch sử địa lí và đặc điểm dân cư
1 Khái quát biển đảo Việt Nam
Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, biển đảo đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập không giansinh tồn, hình thành nền văn hóa biển, thiết lập quan hệ giao thương với lân bang và xác lập chủquyền và an ninh biển quốc gia Có một không gian biển rộng lớn, Việt Nam lại ở vào một vị trí đắcđịa khi nằm cạnh các luồng hải thương quan trọng của thế giới, nên không gian biển Việt Namkhông chỉ là môi trường sống mà còn là mạch nguồn giao lưu chính trị, kinh tế, văn hóa với cácquốc gia trong khu vực và trên thế giới
2 Sơ lược địa lý biển đảo Việt Nam
Trang 3Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị và địa kinh tế rấtquan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có Với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắcxuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới.Trong 64 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinhsống tại các tỉnh, thành ven biển nước ta có diện tích biển khoảng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diệntích đất liền, chiếm gần 30% diện tích Biển Đông (cả Biển Đông gần 3,5 triệu ki-lô-mét vuông).Vùng biển nước ta có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường
Sa được phân bố khá đều theo chiều dài bờ biển của đất nước, có vị trí đặc biệt quan trọng như mộttuyến phòng thủ tiền tiêu để bảo vệ sườn phía Đông đất nước; một số đảo ven bờ còn có vị trí quantrọng được sử dụng làm các điểm mốc quốc gia trên biển để thiết lập đường cơ sở ven bờ lục địaViệt Nam, từ đó xác định vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tếvà thềm lục địa, làm cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển
*Chi tiết các vùng biển của Việt Nam
- Nội thủy: Là vùng nước nằm ở phía trong đường cơ sở của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam, nội thủy được coi như lãnh thổ trên đất liền, đặt dưới chủ quyền toàn vẹn đầy đủ và tuyệt đốicủa quốc gia Việt Nam - Lãnh hải: Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng
12 hải lý (01 hải lý tương đương 1.852m) ở phía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhấtcủa bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của nước ta tính từ ngấn nước thủy triềuthấp nhất trở ra -Vùng tiếp giáp lãnh hải: Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng 12 hải lý hợp vớilãnh hải thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải củaViệt Nam - Thềm lục địa: Thềm lục bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéodài tự nhiên của lục địa mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơinào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam khôngđến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó
Giá sâu sắc hơn thiết tưởng sẽ là công việc còn tốn nhiều công sức và thời gian Bài viết mongmuốn cung cấp những thông tin tiềm năng về văn hóa biển và đảo Việt Nam, theo đó nêu một ýkiến góp bàn về công tác bảo vệ và phát huy những giá trị của chúng
3 Đặc điểm dân cư (cư trú)
Cư dân ven biển ở Nam Bộ chủ yếu là người Việt, Khơme và người Hoa Người Việt tiếp thu nghềbiển từ Nam Bộ mang vào,cư dân cư trú là những làng chài hoặc những xóm phố ven biển Đan xenmỗi vùng có những dân tộc khác nhau,ở các làng chài họ thường sống rất đông đúc,một nhà thườngcó tới 3-4 thế hệ tiếp nối từ đời này sang đời khác Tuy nhiên,trong cuộc sống họ không phải sống
Trang 4cuộc sống đơn độc tại các vùng ven biển hay các cửa sông,những người cư dân nghèo tập trungthành các cộng đồng khuya sớm có nhau gọi là các khoảng,các khoảng chính là các làng xã khôngđược thừa nhận về mặt pháp lý hành chính nay còn khắp ở các vùng ven biển.Trong cả nước,có mộtsốkhoảng sống ngay ở trên mặt nước, cư dân trên bộ còn gọi là dân thủy biển.
Văn hóa cư trú
Bên cạnh những lợi ích to lớn của biển mang lại thì biển cũng đem lại những khó khăn cho ngườidân nơi đây Có thể nói khó khăn lớn nhất mà ngư dân vùng biển phải đối mặt đó là một năm phảihứng chịu khoảng từ 11 đến 13 cơn bão Chính vì vậy mà nhà cửa của người dân vùng biển nơi đâyphải luôn luôn kiên cố để chống chọi lại với sự khác nghiệt của thiên nhiên Từ đó hình thành nênvăn hóa về nhà cửa hay còn gọi là văn hóa cư trú ở vùng biển và ven biển
Nhà ở vùng biển hay có gió bão, nhà dân gian thường có mặt bằng hình vuông, có 1 giankèo chính với 4 cột cái vươn lên đỡ nóc cùng với hệ thống cột con xung quanh liên kết với nhaubằng một hệ thống dầm ngang dọc Để chống gió bão, nhà làm thấp, nhỏ hơn ở đồng bằng Toànnhà chỉ là một không gian thoáng,
Những ngôi nhà vùng biển thường có từ 3 đến 5 gian hoặc có khi chỉ có 1 gian Bố trí trongnhà cũng giống như nếp nhà vùng xuôi: chỗ trang trọng nhất ngay gian giữa giành cho ban thờ tổtiên ( kính nhớ tổ tiên cũng là một tạp quán tốt đẹp của dân tộc ta , )
Đối với những làng chài lâu đời thì phần mái của ngôi nhà trước đây thường được làm bằngrơm hoặc lá của cây dừa tuy nhiên, cuộc sống của những cư dân nơi đây ngày càng được cải thiệncùng với sự tàn khốc của thiên nhiên nên phần mái của những ngôi nhà dần được thay thế bằng bêtông hoặc tôn mát
Khi đi thăm quan những ngồi nhà nơi đây chúng ta thường thấy những ngồi nhà to caonhưng bên trong thì lại trống rỗng sở dĩ đó là vì những ngư dân ngày đêm bám biển góp phần bảo
vệ biển đảo Việt Nam mỗi một chuyến đi biển của họ kéo dài có khi lên đến một đến vài tháng trời.họ sống chủ yếu trên những chiếc ghe , chiếc thuyền là chủ yếu…
Vậy nhưng cư dân bám biển kiếm kế sinh nhai cuộc sống ngày đêm trên biển như thế thì đồdùng sinh hoạt hàng ngày của họ bao gồm những gì mời các bạn cùng mình tiếp tục tìm hiểu vềmột phạm trù khác của văn hóa vật chất vùng biển đảo đó là đồ dùng sinh hoạt hàng ngày của ngưdân vùng biển
Với mỗi người dân bám biển thì cuộc sống của họ không thể thiếu tàu , thuyền hoặc gheđược tùy vào mục đích sử dụng , vốn , nhân lực mà người dân họ chọn phương tiện đánh bắt củamình là ghe, thuyển hay là tàu những thứ không thể thiếu của họ là một cái lưới để đánh bắt cá khác với ngư dân ở các nước tiên tiến , do nước ta là nước đang phát triển trung bình thấp nên cuộc
Trang 5sống của ngư dân cũng còn nhiều khó khăn cùng với kinh nghiệm lâu đời đi biển cha ông truyền lạinên ngư dân ta thường hay đánh bắt theo kiểu tận diệt vì vậy mà lưới của ngư dân ta mắt lướithường khá nhỏ để có thể bắt được nhiều cá hơn
Bên cạnh những vật dụng hàng ngày thông dụng như đồ dùng cá nhân , dụng cụ gia dụng thìtrong cuộc sống của mỗi ngữ dân vùng biển không thể thiếu được là la bàn đi biển một thứ màchúng ta ít thấy khi ở trong đất liền ,
Văn hóa ẩm thực
Như chúng ta đã biết Việt Nam là quốc gia có thế mạnh về biển, với bờ biển dài trên 3.260
km, trải dài từ Bắc xuống Nam Biển Đông có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng, cóđến hơn 160.000 loài, gần 10.000 loài thực vật và 260 loài chim sống ở biển Trữ lượng các loàiđộng vật ở biển ước tính khoảng 32,5 tỷ tấn, trong đó, các loại cá chiếm 86% tổng trữ lượng
Vùng biển Việt Nam có hơn 2.458 loài cá, gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có khoảng
110 loài có giá trị kinh tế cao Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 5 triệu tấn/năm, trữ lượng
cá có thể đánh bắt hàng năm khoảng 2,3 triệu tấn Các loài động vật thân mềm ở Biển Đông có hơn1.800 loài, trong đó có nhiều loài là thực phẩm được ưa thích, như: mực, hải sâm,
Đó chính là tiền đề để tạo nên một nền văn hóa ẩm thực đa dạng và đặc sắc Tuy nhiên dovùng biển nước ta trải dài qua 3 miền Bắc Trung Nam và đi qua hơn 28 tỉnh thành cho nên mỗivùng lại có một tập quán ăn uống khác nhau Khẩu vị ăn uống của người Việt Nam dược phân biệtkhá rõ giữa ba miền Người miền Bắc-thường sử dụng vị chua của mẻ, dấm bỗng, quả dọc, quả mev.v… đê chế hiến món ăn Sử dụng gia vị chua, cay với độ thấp hơn so với người miền Trung, miềnNam Trong các món ăn mặn thường không dùng hoặc dùng rất ít vị ngọt của đường Người miềnTrung khẩu vị chua, cay, ngọt của dường gắt hơn so với người miền Bắc nhưng vẫn kém gắt với sovới người miền Nam Tuy nhiên ỏ một sô” vùng thuộc Quảng Bình, Vĩnh Linh, Quảng Trị khẩu vịvề chua cay cũng không kém gì người miền Nam Khẩu vị của người miền Nam về chua, cay, ngọtcủa đường thường gắt hơn cả Do chịu nhiều ảnh hưởng của ẩm thực Trung Hoa, Campuchia, TháiLan nên các món ăn của người miền Nam thiên về độ ngọt, độ cay, phổ biến các loại mắm khô nhưmắm cá sặc, mắm bò hóc, mắm ba khía…Đặc biệt ở miên Nam hay dùng nước dừa để chế biến cácmón ăn mặn và các loại bánh Nưốc chấm đặc trưng của người miền Nam là nước lèo.Từ cá và cácloại hải sản, người Việt đã biết chế biến để tạo ra rất nhiều món ăn hấp dẫn, có hương vị tiêng Chỉriêng việc chế biến nước mắm và các loại mắm đã cho thấy một nghệ thuật ăn uống tinh tế, đậm đàbản sắc dân tộc, đậm đà vị biển của người Việt
Mắm có rất nhiều loại: mắm tôm, mắm tép, mắm cá, mắm cua , Chẳng hạn, chỉ riêng mắm
cá, người ta có thể kể ra rất nhiều loại: mắm cá thu, mắm cá cơm, mắm cá nục ; cùng một loại
Trang 6mắm nhưng mỗi vùng, miền lại có cách làm riêng, bí quyết riêng và hương vị riêng phù hợp vớikhẩu vị của mình Ngoài mắm ra thì còn có nước mắm nổi tiếng nhất phải kể đến các vùng như PhúQuốc, Phan Thiết, Nha Trang, Sầm Sơn, Cát Hải
Để bảo quản, tận dụng và tích trữ khối lượng hải sản dư thừa, bên cạnh việc chế biến mắm,nước mắm, người Việt còn chế biến và phơi khô hoặc muối một số loại hải sản như cá khoai, cáđuối, mực, cá thiều, cá cơm, cá nục, cá thu Những hàng khô cá này không chỉ tiêu thụ trong nướcmà còn xuất khẩu sang các nước châu Âu trong những năm gần đây
Phương thức chế biến các món ăn từ hải sản của người Việt cũng rất đa dạng, phong phú
Từ cá, tôm, người ta chế biến ra hàng chục món ăn khác nhau từ luộc, chiên, nướng, hấp, nấu chua,nấu ngọt, làm gỏi, làm chả đến các kiểu kho Những món này lại tùy từng địa phương, vùng, miềnmà có những cách chế biến, hương vị khác nhau phù hợp với tự nhiên và khẩu vị Người Việt biếtcách để khử bớt chất tanh trong cá biển bằng cách sử dụng các loại gia vị như tiêu, ớt, gừng, sả Những loại gia vị này tùy từng món mà người ta có thể sử dụng một cách phù hợp Chúng tôi chorằng thói quen ăn hải sản và việc khử tanh bằng những loại gia vị này có thể là nguyên nhân dẫnđến sở thích ăn cay được coi là đặc điểm nổi trội trong văn hóa ăn uống của người miền Trung
Ở xứ sở của biển, yến sào là một trong những món hải vị đặc biệt quý hiếm Yến là một loạichim nhỏ bé thích sống trong các hoang đảo ngoài khơi Ở Việt Nam, Khánh Hòa là tỉnh có nhiềuyến nhất Để sinh con, chim yến lấy dãi mình ra làm tổ, ấp trứng Tổ yến (chữ Hán gọi là yến sào,sào nghĩa là tổ) là thứ đặc sản rất hiếm và quý Người Việt từ xưa đã biết đến nhiều món ăn nổitiếng từ yến: yến thả, yến hấp đường phèn, chè yến
Theo đông y, yến sào hầu như có đủ tính năng quý giá nhất đối với việc bảo vệ sức khỏe;ngoài tác dụng tráng dương còn có tác dụng trị lao phổi, đau dạ dày, động kinh Người già yếu,mới ốm dậy ăn yến, sức khỏe được phục hồi nhanh chóng Yến sào ngày nay được chế biến thànhmột loại đồ uống cao cấp
Người Việt còn dùng rượu gạo ngâm với rắn biển, cá ngựa, bào ngư, hải sâm tạo ra nhữngthứ rượu thuốc quý để bồi bổ sức khỏe
Nghệ Thuật
Đối với người dân vùng biển , cá voi là loài cá quý hiếm, thường hay giúp đỡ tàu bè, ngưdân trong cơn giông bão của biển cả nên loài cá này được coi như hóa thân của thần biển Cộngthêm truyền thuyết từ mấy trăm năm, ngư dân lại càng coi việc thờ cúng loài cá này là việc hết sứcquan trọng, phải thật thành kính Họ gọi cá voi là cá Ông hoặc Ông Nam Hải Khi cá voi chết sẽđược chôn cất trong lăng mộ riêng gọi là lăng Ông Xương cá voi trong lăng là Ngọc Cốt
Trang 7Mỗi năm, vào ngày cá voi chết (ngày ông lỵ), hai kỳ xuân tế thu tế, người dân tổ chức lễ hộirất long trọng, một phần để thỉnh với linh hồn Ông Nam Hải, một phần để cúng cầu cho mùa đánhbắt năm nay bội thu, sóng yên biển lặng, thuyền bè ra khơi an toàn Họ tin rằng, ngoài việc có sứcmạnh phi thường, cá voi còn có khả năng thấu hiểu ý nguyện của người dân, luôn giúp đỡ conngười và làm điều thiện.
Lễ hội đua thuyền lý Sơn diễn ra từ ngày mùng bốn đến 8/1 âm lịch hằng năm Có lẽ đây là
lễ hội lớn nhất của cư dân vùng biển ở Quảng Ngãi nói riêng ở Nam Trung bộ nói chung, nếu xét ởcả các bình diện quy mô tổ chức thời gian tổ chức, tính liên tục hàng năm không bị đứt gãy, vàthành phần tham gia có hàng vạn người tham gia trong suốt năm ngày Lễ hội đua thuyền lý Sơnkhông chỉ là một trò diễn vui chơi giải trí, mà còn để tưởng nhớ đến các vị tiền Hiền buổi đầu khaikhoáng và cầu mong cho quốc thái dân an, người anh vật Thịnh
Sở dĩ gọi là “đua thuyền tứ linh” bởi lẽ, cuộc đua có sự tranh tài của 4 con thuyền, với mỗicon thuyền mang một tên con vật trong bộ tứ linh: Long – Lân – Quy – Phụng Thuyền được làmbằng mê tre, dài 8 mét dáng thon và nhẹ, đầu và đuôi thường trang trí hình ảnh 4 con vật theo kiểuchạm khắc rồi ghép vào thuyền Với đôi tay nghề tài hoa, tỉ mỉ đã chạm khắc những con thuyền đầycông phu, sinh động như kiểu những con con vật trong bộ tứ linh sống dậy lướt trên làn sóng biểnđầy oai hùng
Hát Bả trạo (hay còn gọi là Chèo Bả trạo, Chèo đưa linh, Hò đưa linh, Hò hầu linh) là một loại hìnhnghệ thuật diễn xướng dân gian mang đậm tính nghi lễ của cư dân vùng biển Trung bộ mà cụ thể là
từ Bình Trị Thiên(Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) cho đến Bình Thuận Nội dung và ýnghĩa của hò bả trạo là cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cầu trời yên biển lặng, ngư dânđược mùa thu hoạch, thể hiện bản sắc văn hóa đặc thù miền biển, sự đồng tâm đồng lòng tương thântương ái của ngư dân miền biển, thể hiện phương ngữ,thổ ngữ đặc trưng vùng miền Bên cạnh đóthể hiện sự tôn kính, lòng biết ơn của cộng đồng ngư dân miền biển đối với cá Ông đã giúp đỡ ngưdân vượt qua sóng gió, những tai ương trên biển Đồng thời cũng mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc đólà hò và chèo (động tác cầm mái chèo khác với nghệ thuật hát Chèo miền Bắc) để đưa những linhhồn, oan hồn vong mạng bất đắc kỳ tử do tai nạn,chiến tranh loạn lạc, vị quốc vong thân về nơivãng sanh cực lạc.) Hát Bả trạo là Nghệ thuật trình diễn dân gian được Nhà nước Cộng Hòa Xã HộiChủ Nghĩa Việt Nam công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, được công nhận chínhthức vào ngày 09/09/2013 Bên cạnh giá trị cảnh quan, vịnh Hạ Long còn là nơi sản sinh ra nhữngđiệu hát giao duyên độc đáo Được ra đời và tồn tại từ xa xưa, những câu hát giao duyên bắt nguồn
từ cuộc sống lao động, sinh hoạt mang tính đặc thù gắn liền với biển đào kỳ vĩ và thơ mộng Ở HạLong, người dân chài không chỉ hát trên bờ, lúc hội hè lễ tết, lúc thuyền đã đỗ bến, mà hát cả trênthuyền lúc đang chèo bơi trên vịnh hoặc neo thuyền đợi thả lưới, buông câu, hát cả vào tuần trăng
Trang 8mỗi tháng khi trăng sáng, cá ăn tản, thuyền không đi đánh cá, neo đậu lại trên trũng biển và cùngnhau hò hát Tục hát giao duyên thấm vào máu thịt của họ như hơi thơ, như cơm ăn nước uống ngay từ khi mới lọt lòng trên con thuyền lênh đênh Theo sưu tầm, có được 185 bài với 2.351 câuhát giao duyên, được chia ra thành 3 loại hình chủ yếu: hát hội, hát chèo thuyền, hát đám cưới.
- Hát hội còn gọi là hát huê tình, là hát vào dịp hội hè, lễ tết, vào tuần trăng mỗi tháng, cả trên bờ vàdưới biển Đây là lối hát đối đáp, thường là hát tập thể giữa nam và nữ thường thấy ở các tục giaoduyên khác ở Bắc Bộ
- Hát chèo thuyền là lối hát giao duyên đặc trưng song nước Hạ Long Hát chèo thuyền còn gọi làhát chèo đường (hát trên đường chèo thuyền đến ngư trường), tuy mang âm hưởng hát Đúm, songcó sự cải biên phù hợp với tâm trạng của người chèo thuyền một mình đến ngư trường thả lướibuông câu trong đêm khuya thanh vắng
- Hát đám cưới là loại hình hát giao duyên thứ ba và cũng là một loại hình độc đáo của vùng biểnHạ Long Đây là lễ thức bắt buộc diễn ra trong quá trình thuyền nhà trai đến thuyền nhà gái đóndâu cho đến khi đốn được dâu về và làm lễ gia tiên
Tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo vùng biển đảo
Nhắc tới biển đảo ai cũng sẽ liên tưởng trong tâm trí mình một hình ảnh màu xanh của nước, màuxanh của những hòn đảo giữa biển khơi và những bờ cát trắng xóa Điều không thể thiếu ở nơi đâyđó là con người trên vùng biển đảo với những tín ngưỡng đặc sắc của họ Tín ngưỡng tôn giáo củangười dân biển đảo chỉ khác với người trong đất liền một phần nào đó vì khác tính chất địa lí
Ở đất liền hồi xưa với quan niệm cho rằng bất cứ vật gì cũng có linh hồn nên người xưa đã thờ rấtnhiều thần linh Đặc biệt là sự vật liên quan đến nông nghiệp như trời, trăng, đất, rừng, sông, núi để được phù hộ Đối với các dân tộc tiểu số thì mỗi dân tộc đều có những hình thái tín ngưỡng riêngcủa mình.Ở khu vực biển đảo cũng thế, nhưng những vị thần của họ thường gắn bó với biển nhiềuhơn vì ngành nghề của họ gắn liền với biển khônng thể tách rời được
Nhắc tới biển thì người dân thành phố không thể nào mà không nghĩ tới huyện Cần Giờ với bãi biểnxanh mát thuộc địa phận thành phố Ở đó có những tín ngưỡng thật đặc sắc và lôi cuốn chúng tanhư tín ngưỡng thờ đức ngài cá ông của cư dân cần giờ lễ này được diễn ra vào ngày 15 đến 17tháng 8 âm lịch hàng năm Nhân gian truyền miêng rằng đức tin của người con xứ biển luôn hướngvề đức ngài cá ông.Ngư dân kéo lưới ai cũng quan niệm rằng dù mưa to gió lớn cỡ nào nếu cầu xin,đức ngài sẽ hiện lên bằng một thân xác chú cá voi để đưa ngư dân vào bờ an toàn Chính vì sự lưutruyền ấy nên cá voi nơi đây được xem là một linh vật một vị thần phù trợ hết sức linh thiêng củangười dân xứ biển, nhờ tín ngưỡng ấy mà người dân đi ra khơi cảm thấy rất yên tâm như trong lòngcủa một đức tin lớn có người hỗ trợ bảo vệ che chở mình
Trang 9Và cùng với một nơi mà ai cũng biết tới đó là Bà Rịa Vũng Tàu nơi đó có tất cả các tôn giáo miềnNam Bộ và có những tín ngưỡng vùng biển thật đặc sắc với tín ngưỡng tôn giáo đặc biệt đó là tínngưỡng đạo ông trần ở xã đảo Long sơn này nay Hồi xưa ông trần vì tránh sự truy xét của quânpháp đã dùng tàu để vượt đến nam bộ và ông đã đến xã đảo Long Sơn dạy cho người dân làm muốivà thành lập xã đảo Ông có công rất lớn trong việc phát triển xã đảo này, vì thế khi ông qua đờichiếc tàu mà ông dùng để tới nơi đây vẫn còn giữ lại và người ta thờ ông như là một vị thần, tuykhông có phép thuật nhưng cái mà ông mang lại cho vùng đất này thật là phi thường Người dân nơiđây theo đạo ông trần vẫn lấy lời dạy của ông làm nền tảng sống cho bản thân mình
Tóm lại tin ngưỡng tôn giáo không chỉ đặc sắc ở đất liền mà còn đặc sắc ở những vùng biển đảo,những tín ngưỡng ấy mang đặc trưng địa lý về nền tảng lịch sử, nó có từ rất lâu đời dạy cho ngườiđân biết làm gì để sống có trách nhiệm với bản thân và họ lấy tín ngưỡng ấy làm động lực cho conđường tươi đẹp của họ
VÙNG VĂN HÓA ĐỒNG BẰNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
- Có lịch sử khai phá muộn
- Là nơi định cư của các tiểu vương quốc Chămpa
- 1975 - 1986: Có 2 đô thị lớn: Đà Nẵng và Nha Trang
- 1986 - nay: có nhiều đô thị, thành phố mới được hình thành
Trang 10- Duyên hải nam trung bộ là dải đất hẹp ngang, hình cong, hướng ra biển.
- Diện tích: 4,5 triệu ha
- Bao gồm 8 tỉnh và thành phố
- Phía tây giáp Tây Nguyên
- Phía dông có biển nông với 2 quần đảo lớn
- Phía bắc giáp Bắc Bộ
- Phía Nam giáp Nam Bộ
- Khí hậu nhiệt đới gió mùa và á xích đạo
- Lượng mưa thấp
- Độ che phủ rừng thấp
- Có nguy cơ sa mạc hóa
III ĐỊA LÝ XÃ HỘI
Dân số 10,4 triệu dân Mật độ dân số 183 người/km2, dân số 3,9 triệu dân sống ở thành thị Tỉ lệ giatăng dân số tự nhiên 1,22% (2017) Dân tộc: Kinh, Chăm,…
1 Đô thị
- 1 thành phố loại I trực thuộc trung ương: Đà Nẵng
- 2 thành phố loại I trực thuộc tỉnh: Quy Nhơn, Nha Trang
- 5 thành phố loại II trực thuộc tỉnh: Tam Kỳ, Quãng Ngãi, Tuy Hòa, Phan Rang-Tháp Chàm, PhanThiết
2 Kinh tế
- Là một vùng kinh tế trọng điểm
- Phát triển đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản
- Phát triển trồng trọt: cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp
- Phát triển chăn nuôi
IV VĂN HÓA VẬT CHẤT
Trang 113 Văn hóa sản xuất
- Phương tiện sản xuất: Ghe bầu xứ quảng
- Các phương tiện đánh cá (ghe mành, thuyền chai, thuyền thúng, …)
- Các nghề biển (nghề giã đôi, nghề lưới cào, )
- Các nghề nuôi trồng chế biến hải sản (nghề làm mắm ruốc, mắm cá cơm,…)
a Cao lầu (Hội An)
b Mì quảng (Quảng Nam, Quảng Ngãi)
c Gà ta tam kỳ (Đà Nẵng)
d Bánh canh hẹ (Phú Yên)
V VĂN HÓA TINH THẦN
1 Phong tục tập quán
a Đám cưới người Bana
- Đám cưới thường được diễn ra cuối năm, những ngày trăng trong
- Trai gái có thể tự chọn vợ chồng
- Đám cưới như một ngày hội trong làng
- Cô dâu và chú rể phải cùng nhau ăn tối trước khi đi ngủ để báo công
Trang 12b Phong tục tang ma người Chăm
- Không để tang, không lập bàn thờ, không được khóc
- Thi hài được tắm rửa sạch và lau khô
- Huyệt đào sâu 1,5 - 2m, quan tài đặt úp mặt về hướng tây
- Đọc kinh xong, đóng bia gỗ đầu và cuối mộ
- Diễn ra trong 24 tiếng
2 Lễ hội truyền thống
a Lễ hội Cầu Ngư: (BT, NT, KH, PY, BĐ, QN)
- Ở những vùng ven biển, từ tháng 2-6 âm lịch
- Ngày 1: Các lễ cúng
- Ngày 2: Đại lễ tế thần
- Ngày 3: hát bội, dân ca, trò chơi ngư dân
b Lễ hội Kate: (Ninh Thuận)
- Được tổ chức hằng năm
- Lễ chúng tưởng nhớ thần cha
- Được diễn ra trong không gian rộng lớn và kéo dài
- Gồm 2 phần: Kate đền/tháp, Kate làng
3 Tín ngưỡng - Tôn giáo
- Nổi bật nhất là tín ngưỡng của người Chăm, kết hợp Ấn Độ giáo, tín ngưỡng Văn Giang
- Tín ngưỡng dân gian truyền thống là sự tin tưởng vào thần linh
- Tín ngưỡng thờ cá ông ở vùng biển
- Tín ngưỡng thần linh và thờ cúng ông bà tổ tiên
VÙNG VĂN HÓA ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
(TINH THẦN)
Năm 1947, danh từ Việt Bắc xuất hiện để chỉ chung vùng căn cứ cách mạng, tháng 10-1954,danh từ này lại dược dùng để chỉ chung toàn căn cứ địa của cuộc kháng chiến chống thục dằn Pháp
Trang 13Năm 1956, khu tự trị Việt Bắc được thành lập gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, HàGiang, Tuyên Quang, Thái Nguyên Sau này, khu tự trị Việt Bắc giải thể, danh từ này vẫn tồn tại.
Hiện nay, nói tới Việt Bắc là nói tới địa bàn của sáu tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên,Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang Tuy nhiên, ranh giới vùng văn hóa Việt Bắc sẽ rộng hơn địabàn này Nghĩa là, nó bao gồm cả phần đổi núi của các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang và tỉnhQuảng Ninh Trên bản đồ, vùng đát này nằm ở những vỉ độ cao nhất, trong các vĩ tuyến từ 21 độđến 23 độ vĩ Bắc; vì thế, đây là vùng có môi trường tự nhiên với dấu hiệu chuyển tiếp từ tự nhiênnhiệt đới sang nhiệt đới Thực tế, vùng Việt Bắc, do nằm ở vị trí địa đầu đất nước về phía Đông Bắcnên Việt Bắc là vùng đón nhận đầu tiên gió mùa đông bắc và chịu ành hưởng sâu sắc nhất, của nó
Địa hình Việt Bắc có cấu trúc theo kiểu cánh cung, tụ lại ở Tam Đảo, các cánh cung này mở
ra ở phía Bắc và Đông Bắc và phán hướng lối quay ra biển, thứ tự từ trong ra biển là các cánh cung:sông Gâm Ngân Sơn, Yên Lạc, Bắc Sơn và Đông Triều Các dãy núi đều thuộc loại có độ cao trungbình và thấp Một số núi có độ cao là Tây Côn Lỉnh (2431m), Kiều Liên Ti (2403m) và Pu Ta Ca(2274m)
Toàn vùng có 5 hệ thống sông chính: sông Thao, sông Lô, hệ thống các sông Cấu, sôngThương, Lục Nam; hệ thống các sông này chảy ra Biển Đông là trục giao thông giữa miền núi vàmiền xuôi Sông Bằng Giang, sông Kì Cùng chảy theo hướng Nam - Bắc là thủy lộ giữa Việt Namvà Trung Quốc Nét đặc trưng của hệ thống sông ở đây là độ dốc lòng sông lớn, mùa lũ là thời giandòng chảy mạnh nhất Mặt khác, trong vùng còn có nhiểu hố như hồ Ba Bể, hồ Thang Hen v.v
Cư dân chủ yếu của vùng Việt Bắc là người Tày và Nùng Ngoài ra còn có một số dân tộc ítngười khác như Dao, H’mông, Lô Lô, Sán Chay Người Tày và người Nùng, thực ra xưa kia lànhững tộc người có chung một nguồn gốc lịch sử, cũng thuộc khói Bách Việt Tên gọi Tày xuấthiện có thể vào nửa cuối thiên niên kỉ thứ nhất sau công nguyên,
Thời các vua Hùng, liên minh giữa người Âu Việt - tổ tiên của người Tày với những cư dânLạc Việt, tổ tiên của người Việt là có thực Thời nước Âu Lạc, liên minh ấy cảng bén chặt hơn Sựphát triển của liên mình này cảng về sau cảng gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của nhà nưóc ĐạiViệt Và người dân vùng Việt Bắc: Tày và Nùng, càng có vai trò quan trọng trong việc gìn giữ biêncương Khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đấu công nguyên, người Tày, Nung có tham gia vàocuộc khởi nghĩa này Truyền thuyết và kí ức của cư dân Việt Bắc còn ghi khá kì về tổ tiên họ thamgia khởi nghĩa Hai Bà Trưng Năm 543, cư dãn Việt Bắc lại ùng hộ cuộc khởi nghĩa của Lý Bônchống quân nhà Lương
Trong thời tự chủ, vai trò của cư dân Việt Bắc đối với cuộc chồng xâm lược nhà Tống rấtquan trọng Các đội quân của các thú lĩnh địa phương tham gia đánh quân xâm lược Tống Trong ba
Trang 14lần kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông, nhân dân vùng Việt Bắc lại tích cực thamgia sức người sức của, góp phần vào sự đại tháng của quân dân Đại Việt.
Trong 10 năm kháng chiến chống quân Minh, nhân dân Tày - Nùng đã tham gia rất đôngđảo dưới sự lãnh đạo của các thủ lĩnh như Nông Văn Lịch, Hoàng Thiên Hữu, Nguyễn Văn Hách,Dương Thế Châu v.v
Nhà Mạc giành ngôi của nhà Lê, thất thủ ở đồng bằng, kéo quân lên miền núi xây thành, đắplũy để chống lại nhà Lê, Một số tù trưởng đã đứng về phía nhà Lê chống lại nhà Mạc
Khi vua Quang Trung chống quân xâm lược Thanh, người dân Tày - Nũng đã hưởng ứng lờikêu gọi của Quang Trung đứng lên đánh giặc
Người Pháp thiết lập ách cai trị trên đất nước ta, đồng bào Tày - Nùng dã có những cuộc vậnđộng, tổ chức đánh giặc Từ phong trào Cần Vương đến phong trào Việt Nam Quang Phục Hội,người dân ở đây đều tham gia khá tích cực Từ sau năm 1940, sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, ViệtBắc đả trỏ thành khu căn cứ địa của cách mạng Việt Nam, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta,Việt Bắc lại trở thành căn cứ địa kháng chiến chống Pháp ở cả nước
Những năm cả nước chống giặc Mỹ, người Tày - Nùng lại có những đóng góp rất lớn.Như vậy, trong diễn trình lịch sử, cư dân Việt Bắc, và chủ yếu là cư dàn Tày - Nùng cùnggắn bó số phận với các dân tộc ở vùng xuôi Thời phong kiến, các vương triều đều có ý thức vunđắp cho sự gắn bó này
Dù hiện tại là hai dân tộc nhưng người Tày và người Nung lại có những nét gần gũi, sự gầngũi giữa họ là tương đối Trong quan hệ bởi văn hóa Hán người Nùng chịu nhiều ảnh hưởng củaHán tộc nhiều hơn người Tày, người Tày chịu ảnh hưởng của văn hóa Việt nhiều hơn Về phươngdiện tổ chức xã hội, cư dân Tày - Nùng chủ yếu sống trong các bản ven đường, cạnh sông suối haythung lũng Bản là đơn vị cơ sở nhỏ nhất Các gia đình trong bản và các thành viên hợp lại thànhmột cộng đồng dân cư và có tổ chức nói cách khác, bản là một công xã nông thôn độc lập, lấy đơn
vị nhà làm cơ sở Nét đáng chú ý, bản của người Tày - Nùng không làm chức năng của một đơn vịsản xuăt, mà nó chi là một cộng đồng về mặt 'xã hội Sự gắn bó con người và con người vẽ cuộcsống kinh tế dôi sống văn hóa v.v , cũng chi tồn tại trên ranh giới của bản
Mọi tổ chức xã hội cao hơn bản đã mất Từ lâu rồi, trên bản chỉ còn những thiết chế xã hộinhư xã, tổng, châu hay huyện, những thiết chế này thay đổi theo các thể chế chính trị, nhưng bản thìkhông bao giờ thay đổi Thành tố cấu thành các bản của người Tày hay người Nùng là những giađình phụ quyến thuộc các dòng họ khác nhau, có bản gồm 2,3 họ, có bản trên dưới 10 họ Thiết chếdòng họ, với tư cách là lực vận hãnh xã hội, có nơi chặt chẽ, có nơ lại lỏng lẻo, nhưng quan hệ giữanhững người trong họ vẫn đậm nét Trong khi đó, quan hệ cộng đồng lại có vai trò quan trọng Cácbản, dù mới lập hay có từ lâu đều có miếu thờ thổ công, mà nhiêu nơi gọi là thổ địa (thô tỉ), thành
Trang 15hoàng (thâm theng) Tổ chức xã hội được coi là chặt chẽ trong các bản của người Tày hay ngườiNùng là phường đám ma mà họ gọi là phe.
Đơn vị xã hội nhỏ nhất của người Tày - Nùng là gia đình, lại là gia đình phụ hệ, chủ gia đình
"chẩn rườn" là người cha hay người chồng, làm chủ toàn bộ tài sàn và quyết định mọi công việctrong nhà ngoài làng Do vậy, ý thức trọng nam khinh nữ khá đậm trong cộng đồng, sự phân biệtđối xử còn thấy rõ trong việc phân chia mặt bằng sinh hoạt trong nhà
Nhà ngoài bao giờ cũng dành cho đàn ông Trừ các bà già, phụ nữ không bao giờ được ởnhà ngoài
2 Đặc điểm vùng văn hóa Việt Bắc
Tất cả những đặc điểm trên vẽ điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội của vùng Việt Bắc sẽ tác
động đến văn hóa của vùng này Trước tiên là văn hóa vật chất
Người Tày - Nùng có hai loại nhà chính: nhà sàn và nhà đất Nhà sàn là dạng nhà phổ biến,
có hai loại nhà sàn, sàn hai mái và sàn bốn mái Nếu là nhà sàn bốn mái, hai mái đầu hồi bao giờcũng thấp hơn hai mái chính Cửa có thể mở ở mật trước hoặc đầu hồi, cầu thang lên xuống bằngtre, gỗ, nhưng số bực bao giờ cũng lẻ, không dùng bậc chẵn
Để làm nên một ngôi nhà sàn rất khó khăn, vì vậy ngay từ khi chuẩn bị làm nhà, người chủphải mất nhiều thời gian, công sức từ khâu chuẩn bị vật liệu, xem hướng nhà, ngày giờ động thổdựng nhà… và chọn những người thợ “lành nghề” Sau khi đã hoàn thành việc lắp ghép những hàngcột, người thợ phải đặt những hòn đá tảng, tiếng địa phương gọi là "thin rảng" để tạo nền chân cộtchống mối mọt, ẩm mốc, để ngôi nhà vững chắc
Kết cấu chính của ngôi nhà gồm có 36 cột, trong đó, 28 cột chính và 8 cột phụ, đây là bộkhung quyết định sự vững chãi và tạo nên hình dáng của ngôi nhà, cột có trụ vững trên mặt đất làmđiểm tựa cho ngôi nhà, xuyên và kèo đều được gắn vào các lỗ đục trên cột Kèo tạo nên phần chópnhọn và sườn của mái nhà; xuyên có tác dụng liên kết các cây cột với nhau, góp phần tạo nên bộkhung nhà Đặc biệt, mỗi ngôi nhà đều có góc khóa khung nhà để ngôi nhà không bị xê dịch Ngoài
ra, mặt trước ngôi nhà thường được bưng bằng ván, còn hai bên đầu hồi và mặt đằng sau trát váchđất trộn rơm, sàn ngôi nhà thường làm bằng gỗ Nhà sàn người Tày - Nùng chỉ có 2 mái cân nhau,lợp bằng ngói âm dương Với kỹ thuật của những người thợ tài hoa, ngôi nhà sàn truyền thống củangười Tày - Nùng ít dùng đến đinh sắt mà chỉ dùng mộc gỗ nối kèo cột tạo thành ngôi nhà
Mỗi ngôi nhà sàn của người Tày - Nùng đều có cửa chính và cửa phụ, cửa chính được đặt ởgian giữa nhà, cửa phụ là cửa ra phía sau hoặc bên cạnh phía sau hông nhà Đầu hồi trước hoặc saungôi nhà đều có mặt sàn được làm bằng thân cây tre với chức năng chính dùng để phơi thóc, ngô…
Trang 16Bên trong ngôi nhà sàn của người Tày - Nùng được thiết kế rất chặt chẽ, thường được chialàm 3 gian Trong đó, gian chính giữa là gian trang trọng nhất dùng để đặt bàn thờ cúng tổ tiên vàtiếp khách; hai bên là phòng ngủ của gia đình Bếp được đặt ở phần cuối gian giữa của ngôi nhà,đây là nơi để nấu ăn và mọi người sum họp bên bếp lửa Phía trên bếp lửa là gác bếp, thường dùnglàm kho chứa đồ cũng như tận dụng sức nóng của lửa để bảo quản ngô, lạc, khoai… Còn bên dướisàn nhà, người dân thường để nông cụ
Theo quan niệm của người Tày - Nùng, ngôi nhà sàn đẹp thường là ngôi nhà lưng quay vềnúi, mặt hướng ra đồng ruộng Vào mùa hè, sự cao ráo của sàn cũng giúp cho không khí được lưuthông, thoáng mát, khi mưa sẽ không ẩm ướt, còn mùa đông tránh được giá lạnh Nhà sàn của ngườiTày - Nùng mang những nét đẹp và kiến trúc thẩm mỹ đặc trưng riêng, điển hình cho sự hòa hợpvới thiên nhiên và chiều sâu văn hóa Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, đời sống vậtchất của nhân dân được nâng cao, những ngôi nhà cao tầng dần thay thế những ngôi nhà sàn cổ
Nhà đất là loại nhà xuất hiện ngày cảng nhiều, nhưng cũng có rất nhiều thay đổi so với ngôinhà sàn về quy mô, kết cấu, bố cục bên trong
Ở một số vùng còn có loại nhà nữa sàn nửa đất, đây là một loại nhà đặc biệt, vừa có tínhchất nhà đất lại vừa mang tính chất nhà sàn
Trang phục
Dân tộc Tày là cộng đồng thuần nhất, điều đó thể hiện qua bộ trang phục truyền thống vớisắc màu chủ yếu là màu chàm và màu đen, chứa đựng nhiều nét tinh hoa văn hóa độc đáo đáng tựhào
Trang phục của phụ nữ Tày có vẻ đẹp từ sự giản đơn, không cầu kỳ tạo sự nền nã, duyêndáng Chất liệu thường bằng vải bông hoặc lụa với màu sắc chủ đạo là màu chàm, đen, không rựcrỡ, không thêu thùa hay ghép vải cầu kỳ, nhưng có điểm nhấn bằng những phụ kiện đi kèm nhưvòng cổ bằng bạc, thắt lưng đính xà tích
Nét nổi bật của trang phục là nghệ thuật tạo hình, gọn gàng thành thoát, làm tôn lên vẻ đẹpnền nã của phụ nữ Tày Ở Tuyên Quang, phụ nữ người Tày có hai lọai trang phục, gồm: ao cánhngắn mặc với váy và áo dài 5 thân mặc với quần
Phụ nữ Tày mặc áo cánh ngắn với váy, may theo kiểu áo xẻ ngực, cổ tròn, chiết eo có hai túinhỏ ở hai vạt trước Những người trẻ tuổi thường mặc váy dài gần mắt cá chân, người già mặc váylửng đến đầu gối Váy gồm có 3 phần: cạp, thân, gấu Phần cạp rộng khoảng 3cm, làm bằng các loạivải khác nhau, thường là vải hoa, may theo hình thức luồn chun hoặc dây rút
Áo dài may theo kiểu 5 thân, cài cúc ở nách, tà dài đến lưng, bắp chân có chiết eo gần giống
áo dài của người kinh; quần ống rộng, dài đến mắt cá chân Khi mặc áo dài, phụ nữ Tày dùng thắt
Trang 17lưng băng lụa tơ tằm quấn quanh eo, buộc và thả ra sau lưng thành dải dài đến kheo chân, các cô gáitrẻ thường cuốn thắt lưng màu xanh, đỏ; người lớn tuổi dùng màu chàm, đen.
Đồ trang sức cũng là điểm nhấn quan trọng trong trang phục truyền thống của người Tày.Nó đều được làm bằng bạc, thường có hoa tai, nhẫn, vòng tay, vòng cổ, những người khá giảthường có thêm bộ xà tích đeo bên sườn phải Đặc biệt là chiếc vòng cổ của phụ nữ Tày được làmrộng hơn vòng cổ của một số dân tộc khác, vòng màu trắng nổi bật trên chiếc áo chàm đen làm tăngthêm sự đằm thắm của bộ trang phục
Trang phục nam giới người Tày gồm áo cánh 4 thân được may theo kiểu xẻ ngực, cổ trònđứng; áo không có cầu vai, được xẻ tà hai bên hông Áo của thanh niên có túi ở trên ngực trái; áomay cho người trung niên thì túi ở hai bên tà áo; áo có hàng cúc vải ở phía trước Màu sắc chủ đạocủa áo nam là màu chàm, khi đi dự hội, nam giới mặc áo dài 5 thân, buông tới đầu gối, có năm cúccài bên hông, được làm bằng lụa tơ tằm Quần được may bằng vải bông theo kiểu chân què, đũngrộng, ống quần vừa phải, kéo đến mắt cá chân Phần cạp được may rộng hơn, khi mặc thường vấncạp về đằng trước và dùng dây vải buộc
Trước những biến đổi của đời sống xã hội hiện đại, nhưng người Tày ở Tuyên Quang vẫngìn giữ, bảo tồn, duy trì và phát huy những giá trị di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộcmình Trong đó, việc bảo tồn, gìn giữ và sử dụng trang phục truyền thống của người Tày là một nétrất độc đáo, có giá trị nghệ thuật luôn được người Tày trân trọng và phát huy
Bộ y phục của người Nùng được cắt may từ vải đen nhuộm chàm, phần lớn chúng không cónhiều hoa văn và đường nét Đặc biệt, nam nữ người Nùng đến tuổi trưởng thành đều bịt một chiếcrăng bằng vàng ở hàm trên và như thế được xem là làm đẹp, là người sang trọng từ xưa tới nay, cảnam và nữ đều mặc một loại quần cạp to, ống rộng, dài tới tận mắt cá chân và các đường viền chỉmàu tập trung rõ nhất ở tà và gấu áo
Nam giới người Nùng thường mặc áo dài ngang hông, tứ thân, may áo gần sát người, tay áodài và rộng, cổ áo khoét tròn, áo có 7 cúc và thường có 4 túi hoặc 2 túi Trong khi đó, trang phụccủa phụ nữ Nùng phong phú và đa đạng hơn
Phụ nữ Nùng mặc áo năm thân màu chàm, áo ngắn đủ che mông, áo được may rất rộng cảphần thân và tay, giúp cho cử động được thoải mái Chiếc áo của phụ nữ Nùng được trang trí bằngcách thêm miếng vải khác màu vào cổ tay áo và phía trước ngực, thông thường là vải đen đắp lên áochàm
Ngày nay, họ mặc cả loại áo 5 thân và 4 thân Áo ngắn 4 thân có cổ áo tròn, xẻ ngực, nẹp vàgấu áo rộng, hai túi nhỏ ở vạt trước, cài 9 hàng cúc vải ở nẹp áo Loại áo này phần lớn dùng mặctrong nhà, đi lao động hay mặc trong áo dài năm thân Chỉ riêng nhóm Nùng Dín thì áo ngắn 4 thân
Trang 18lại là loại áo mặc chính, còn loại áo 5 thân may ngắn, chỉ vừa che kín bụng, dùng mặc trong nhà,khi đi ngủ, mặc lót trong loại áo 4 thân khi đi ra khỏi nhà.
Màu sắc trên trang phục dân tộc Nùng cũng khá đa đạng, từ màu xanh nhạt, đến xanh thẫm,tím than, xanh đen rồi phổ biến nhất là màu chàm
Bên cạnh áo, váy cũng là một bộ phận quan trọng, tạo nên nét đặc sắc của trang phục truyềnthống Nùng Váy của người Nùng phân rõ thành cạp váy, giải buộc váy, thân váy và gấu váy.Nhiều khi họ gọi cạp váy là đầu váy, còn gấu váy là chân váy Thân váy được ghép lại từ 4 mảnh,gấu váy được đáp thêm vải khác màu, vừa cho gấu váy cứng vừa làm đẹp Khi mặc, người ta gấpphần váy thừa ra phía trước hoặc phía hông Khi đi chợ, đi thăm viếng, người ta để gấu váy phủthấp chấm mắt cá chân, còn khi đi làm thì kéo gập váy lên cao cho tiện và sạch sẽ hơn
Nghệ thuật may váy của người Nùng đáng chú ý nhất là của tộc người Nùng Dín Họ có cắtmay váy kiểu xoè xếp nếp, váy tạo thành bởi hai lớp vải, lớp ngoài dày và cứng hơn, còn lớp trongthì mỏng và mềm Váy không khép kín hai mép vải dọc thân váy lại mà để hở khi mặc, mép nọ đèchồng lên mép kia, làm cho người mặc vẫn có cảm giác kín đáo
Kết cấu của váy người Nùng Dín được tạo nên từ cạp váy, đầu váy, thân váy và gấu váy.Cạp váy nối với đầu váy, hai bên tạo thành hai dây vải dài dùng để thay cho thứ dây lưng hay giảirút, thắt cho váy giữ chặt vào eo lưng Đầu váy thường là mảnh vải khác màu, trắng hay xanh, khâuliền một phía với thân váy, phía kia với cạp váy Đầu váy có chiều dài khoảng gấp rưỡi vòng bụng,nhưng lại ngắn hơn rất nhiều chiều ngang của vải thân váy Do vậy, khi khâu lại với nhau, thân váyphải xếp nếp sao cho đều, khi mặc, các nếp xếp gối nhau đều đặn chảy dài theo chân váy Khi đilàm, để cho gọn ghẽ, dễ cử động, người ta túm một túm vải thân váy ở phía sau, buộc lại tạo thành
cục gọi là phàn phái (túi vải), từ đó mới có tên gọi là Nùng U hay Nùng phàn phái.
Bên cạnh đó, dây lưng cũng là một bộ phận quan trọng để hoàn thiện bộ trang phục ngườiNùng Loại phụ kiện này có sự khác nhau giữa các nhóm Nhóm Nùng Dín có dây lưng dệt bằng sợi
tơ tằm, trên mặt vải dệt những đường nét hoa văn hình thang song song, hình răng cưa, quả trám,lượn sóng, hình chim cách điệu… Khi mặc, quấn dây lưng quanh bụng, hai đàu dây dắt mối ở haibên hông Trong khi đó, dây lưng của phụ nữ Nùng Lòi bằng sợi bông dệt và nhuộm chàm, hai đàudây thả mối phía sau dài chấm bắp chân Dây lưng của nhóm Nùng An thì tuyền một màu xanhchàm, còn phụ nữ Nùng Xuồng thì thắt nhiều vòng thắt lưng ra ngoài áo dài, trên đó có dắt dây xàtích bằng đòng hay bạc, nổi rõ trên nền thắt lưng chàm
Phụ nữ Nùng thường dùng hai loại khăn đội đầu là khăn thường gọi là bẩu qạ và khăn chỉđội trong khi cưới xin, hội hè thì gọi là bẩu chịp Ngoài ra, trang phục của phụ nữ Nùng còn phải kểtới tạp dề, xà cạp, đệm vai, giầy vải và một số đồ trang sức làm bằng kim loại đeo trên người.Người Nùng đeo vòng cổ, vòng tay, trâm cài tóc, dây chuyền, vòng tai…
Trang 19Về mặt ẩm thực, tùy theo từng tộc người mà cách thức chế biến thức ăn và khẩu vị của cư
dân Việt Bắc có hương vị riêng
Về đồ ăn (thực): Trước hết phải nói về khẩu vị đặc biệt ưa thích của người Tày đó là vịchua Người Tày xưa có câu: “ Ngô mí hăn pì Ngô lôộm, Tày mí hăn thôổm Tày hai “nghĩa làngười Trung Quốc không thấy mỡ thì ngã, người Tày không thấy chua thì chết, điểm lại các món ăncủa người Tày chủ yếu là vị chua như: Trám, khế, sấu, măng chua, thấm lầm, tai chua , mẻ, dưa cải,thịt lợn làm mắm chua, đặc biệt cá chép (nuôi ở ruộng lúa) làm mắm chua gọi là món ăn ngon nổitiếng của người Tày Măng chua dùng để sào thịt trâu, bò hoặc nấu canh thịt gà, cá Trám trắng, sấu,tai chua, lá thấm lầm để nấu thịt gà nấu cá hay kho cá, khế dùng để nấu canh hay nộm thịt bò, dê,
mẻ dùng làm nước chấm măng vầu nướng, rau sống hoặc nấu cá, kiệu muối dưa, dọc mon muốichua
Như vậy trong bữa ăn truyền thống của người Tày không bao giờ thiếu vị chua các móncanh, sào, kho, nấu, nước chấm đều có vị chua Đó chính là khẩu vị riêng có của người Tày
Ngoài ra người Tày cũng rất ưa vị đắng như măng vầu đắng, mướp đắng,rau đắng cảy láđắng nấu canh ,hoa cây kè, quả núc nác, ngọn cây đu đủ cũng là món ăn có vị đắng ưa thích củangười Tày Khi mổ lợn, dê, trâu, bò làm cỗ không bao giờ thiếu bát canh lá đắng nấu tiết
Cũng như các dân tộc khác người Tày ăn cơm hàng ngày, bữa phụ buổi sáng, hai bữa chínhlà trưa và chiều, nhưng đặc biệt là ngày xưa người Tày hầu như chỉ ăn sôi nếp ít khi ăn cơm tẻ(Giống người Lào) Sáng sớm hàng ngày mỗi nhà đồ một chõ xôi bỏ vào cái Vàng treo lên móc ởgian bếp để ăn cả ngày Hiện nay cá biệt còn nhà ông Ma đình Piầu thôn bản Luông xã Hồng Quanghuyện Lâm Bình đến nay vẫn chỉ ăn cơm nếp Ăn sôi nếp vừa dẻo, vừa ngon, no lâu không mất thờigian nấu ba bữa Người Tày có câu: “Khẩu nua pia chí “ nghĩa là “cơm nếp cá nướng” thể hiện cuộcsống ấm no sung túc
Ngày nay với nhiều lý do khác nhau nếp sống này đã mất từ lâu người Tày cũng dùng cơm
tẻ hàng ngày như các dân tộc khác, sôi nếp chỉ còn dùng trong các dịp lễ, tết, cúng, tế
Ngày xưa người Tày chủ yếu săn bắn hái lượm trong tự nhiên Như: rau dớn, rau dền, raubao, rau ngót rừng, rau bò khai, rau đắng cảy, nõn cọ, nõn đao, măng vầu, măng tre, măng nứa,măng giang, trám, sấu, khế
Ngày xưa mỗi làng có một đội thợ săn thường săn hươu nai, lợn rừng, cầy cáo thậm trí cả
hổ, gấu Người Tày rất giỏi quăng chài thả lưới, làm sa, làm vẹ, đơm đó để bắt cá tôm
Ngày nay môi trường thay đổi so với trước rất nhiều muông thú, cá tôm hầu như không còn,người Tày đã chủ động trồng các loại rau cải, bí, mướp, su hào, bắp cải v.v và chăn nuôi chủ yếulà trâu, bò, dê, lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng để làm thực phẩm
Trang 20Các món ăn thường ngày chế biến đơn giản chủ yếu là sào, nấu, nướng, ngày lễ, tết chế biếncầu kỳ hơn thì có lợn quay, vịt quay, lạp xường, khau nhục, măng vầu nhồi thịt (nhương mảy pàu),nhưng những món ưa thích nhất là cá chép ruộng làm mắm chua (pia bẳm nà) thịt lợn làm mắmchua, thịt trâu khô làm sẵn để trên gác bếp ăn cả năm.
Dân tộc Nùng thường ở vùng núi cao, đời sống gắn bó với thiên nhiên và có tập quán canhtác tự cung, tự cấp Người Nùng trước đây hái lượm, săn bắt chim thú, tự trồng trọt, chăn nuôi đểchế biến thức ăn Qua quá trình phát triển, người Nùng đã sáng tạo ra nhiều món ăn độc đáo, tạonên nét khác biệt Một số món ăn của người Nùng ngày nay đã trở thành “thương hiệu” đặc sản dulịch cho vùng đất Lạng Sơn, nơi có nhiềuTrong đời sống sản xuất, người Nùng trồng chủ yếu loạilúa tẻ, lúa nếp Các bữa ăn thường ngày, người Nùng chủ yếu ăn cơm tẻ ăn cùng các món nấu từ cácloại đỗ, rau rừng Vào mùa hè, bữa trưa ở các gia đình người Nùng thường có thêm một nồi cháođặc Người Nùng cũng ăn cơm nếp và xôi (chế biến từ gạo nếp nương) Từ gạo nếp, người Nùngcòn làm ra nhiều loại xôi, bánh khác nhau Trong một năm, người Nùng có nhiều ngày lễ tết, mỗingày lễ tết lại bà còn làm các thứ xôi, bánh có màu sắc mang tính đặc trưng, có hương vị và ý nghĩariêng Người Nùng ít ăn món luộc, các món rau, củ thường được xào khan với mỡ Khi nấu thànhcanh thì đổ thêm nước vào Các món chế biến từ thịt, cá phổ biến là món rán, nấu, người Nùng ítlàm món kho mặn Người Nùng không ăn thịt trâu, thịt bò người Nùng sinh sống
Việc chế biến món ăn của cư dân Tày - Nùng, một mạt có những sáng tạo, một mặt tiếp thu
kĩ thuật chế biến của các tộc lân cận như Hoa, Việt v.v Họ chế biến ngô một cách tỉnh tế Ngôđược giã, hay xay nhỏ để nấu với cơm, làm các loại bánh thức ăn chính là gạo tẻ, nhưng việc chếbiến các món ăn từ gạo nếp lại càng được chú trọng Trong ngày tết, cốm là món đặc biệt hấp dẫn.Các loại xôi màu hấp dẫn thưòng có mặt trong ngày lễ tết của cư dân Tày - Nùng Thịt lợn, thịt vịtquay thường được làm cấu kì như thịt lợn quay Lạng Sơn, vịt quay Thất Khê
Bữa ăn của cư dân Việt Bắc, mang tính bình đẳng, nhân ái Tất cả các thành viên trong nhà
ăn chung một mâm, khách đen nhà rất được ưu ái, nể trọng
Điều đáng chú ý là tầng lớp trí thức Tày - Nùng hình thành từ rất sớm Đầu tiên là các trí
thức dân gian dưới lớp vỏ nghề nghiệp như thầy Mo, Then, Tào, Put Trong thời kỉ tự chủ, triềuđình có quan tâm đến việc học hành của cư dân Việt Bắc Nhà Mạc khi chạy lên đóng đô ở CaoBằng ra sức đào tạo tầng lớp nho sĩ Quan lại người Việt chạy lên đây bị Tày hóa Do vậy, tầng lớptrí thức nho học hình thành, có một số đạt tới trình độ học vấn cao như Bế Văn Phúng, Nông QuỳnhVăn, Hoàng Đức Hậu Khi thực dân Pháp dặt ách cai trị lên toàn quốc, sau này khai thác thuộc địalần 1, lần 2, tầng lớp trí thức nho học ít dân, tầng lớp tri thức mới được đào tạo trong các nhà trườngthực dân như các ống thông, kí, thầy phán, giáo học Một Bố có lòng yêu nước, được người dân
Trang 21kính trọng, về sau đã di theo ánh sáng của Đảng để cứu nước như Hoàng Vân Thụ, Lương Văn Chiv.v
Trong kháng chiến chống Pháp, nhất, là sau ngày hòa bình lộp lại, giáo dục ở Việt Bắc đượcchú trọng phát triển Số trường học các cấp có ở các địa phương ngày càng nhiều Các trường đạihọc, cao đẳng đươc thành lập trong mấy chục năm qua như: Đại học Sư phạm Việt Bắc, Đại học Ykhoa Việt Bắc v.v Mới đây, Đảng, nhà nước ta lại tổ chức trường Đại học Thái Nguyên trên cơ sởcác trường đại học ở đây, để đẩy mạnh việc đào tạo trí thức, cán bộ khoa học cho Việt Bắc
Trong đào tạo, bên cạnh chữ Quốc ngữ, một số tộc như Tày, H’nông cũng có chữ viết xâydựng trên cơ sở mẫu chữ Latinh
Sản xuất
Là cư dân vùng nông nghiệp nên họ có truyền thống làm lúa nước, từ lâu đời đã biết thâmcanh và áp dụng các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, làm cọn lấy nước tưới ruộng Họ có tậpquán đập lúa ngoài đồng rồi gánh thóc về nhà Ngoài lúa nước hả còn trồng lúa khô, hoa màu, cây
ăn quả Chăn nuôi và phát triển nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách chăn nuôi thả rông đến nayvẫn còn phổ biến Các nghề thủ công gia đình được chú ý Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm vớinhững họa tiết hoa văn đẹp và độc đáo Chợ cũng là một hoạt động kinh tế quan trọng, ở đây ngườidân dễ trao đổi hàng hóa sản xuất, mỗi huyệt đều có một chợ huyện họp trong các ngày âm lịch và íttrùng nhau; còn những chợ lớn thì hầu như ngày nào cũng họp
Đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Việt Bắc có những nét cơ bản giống với các khu vực khác.
Về dân gian tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân Tày - Nùng hướng niềm tin của
con người tới thần bản mệnh, trời - đất, tổ tiên Các thần linh của họ rất đa tạp, có khi là nhiều thầnnhư thán núi, thần sồng, thần đất Ngoài ra lại có các vua, có Giàng Then, ý thức cộng đồng đượccủng có thông qua việc thờ thần bản mệnh của mường hay của bản Ý thức về gia đinh, dòng họđược củng cố thông qua việc thừ phụng tổ tiên Mỗi gia đình có một ban thờ tổ tiên đặt ở vị trí trangtrọng nhát trong nhà Ngoài ra, trong nhả họ còn thờ vua bếp
Trong ngày mùng một và ngày rằm, chủ nhà thắp hương lên bàn thờ tổ tiên Nếu có điềukiện thì bày hoa quả, không thì dâng hai chén nước chè ngon Riêng 3 ngày Tết, chủ nhà lấy nồinước lá bưởi đun sôi đặt dưới bàn thờ, cho miếng gang hoặc miếng sắt nung nóng xuống nồi nướcđể hơi bưởi xông bàn thờ tổ tiên gọi là “rửa mặt” cho các cụ Trong ngày tết, ngày lễ, ngày giỗ, đóndâu, làm nhà mới, ngày đi xa, ngày con cháu đi thi, đi học , đều thắp hương báo cáo để tổ tiên phùhộ, độ trì gặp điều may mắn Đặc biệt, ngày 30 tết, chủ nhà thường là đàn ông làm nhiệm vụ sửa
Trang 22sang bàn thờ, quét sạch bụi bẩn, đốt rơm lúa nếp sạch lấy tro bù vào bát hương, cắm lại 1 - 3 chânhương và đặt vào chỗ cũ; lấy nước lá bưởi lau rửa các đồ thờ Rửa sạch khay, ấm chén rót nước chèđặt bên dưới mỗi bát hương một chén Trước các bát hương, bày khay ngũ quả vào chính giữa, gồmmột nải chuối và các loại quả có hình thù đẹp (kiêng vị đắng, chua, cay); hai bên đặt bánh chưng,bánh khảo, mứt, kẹo Dựng mỗi bên bàn thờ một cây mía to, lá được buộc túm cụm vào nhau nhưđầu rồng , bày trí gọn, đẹp tạo được không khí tĩnh lặng và nghiêm trang Mâm cúng được bày trícẩn thận, đặt chính giữa là một con gà luộc nằm sấp có cả một số bộ phận phụ tạng đã luộc chín,như: tiết, gan, lòng, mề Phía đầu mâm để 5 bát ăn cơm, 5 đôi đũa, 5 chén uống rượu, hai bên cócơm canh và các loại thức ăn ngon Gà cúng thường là gà thiến sạch hay gà trống choai mới biếtgáy tự nuôi mà có, khỏe mạnh, không khuyết tật, có màu lông đỏ, mào đơn thẳng đứng, mỏ vàng,chân vàng.
Trước khi cúng phải thắp hương vào các bát, đặt vàng mã, tiền giấy và quần áo giấy lên bànthờ nhằm hiến tặng tiền, quần áo cho tổ tiên sử dụng trong tết, đón năm mới Nếu trong dòng họ có
cụ nào trước đây làm thầy Tào, hoặc học hành đỗ đạt cao làm quan thì cắt quần áo bằng giấy đỏ, làđàn ông thì cắt quần liền áo ngắn, đàn bà thì cắt váy liền áo dài Chủ nhà tự bày mâm, thắp hương,rót rượu Sau vài lần rót rượu, khi hương cháy chỉ còn khoảng 1/3 thì rót rượu lần cuối, rồi đốt hếtvàng mã, quần áo giấy để kết thúc lễ cúng Cúng xong phải duy trì việc thắp hương, bảo đảm đènsáng liên tục qua đêm giao thừa và ít nhất hết ngày mùng một Đến ngày mùng 3 tết, chuẩn bị mâmcúng, vàng mã, quần áo giấy, hóa vàng như lần cúng ngày 30 tết để kết thúc thờ cúng trong ngàyTết
Tổ tiên là “kính phụng” như sờ thấy, mó thấy Bàn thờ tổ tiên là nơi linh thiêng nhất trongnhà của người Tày, tuyệt đối không ai được quay lưng lại phía bàn thờ Trong làng xóm dẫu có điềugì bất hòa, xung khắc có thể có vài lời nặng nhẹ với nhau nhưng tuyệt đối không ai dám đụng chạmđến tổ tiên của nhau
Diện mạo tôn giáo Việt Bắc cũng có những nét khác biệt
Tín ngưỡng dân gian của người dân Tày Nùng hướng niềm tin của con người tới các thầnbản mệnh, trời đất, tổ tiên Các thần linh của họ rất đa dạng: thần núi, thần sông, thần đất Ngoài ra,lại có các vua, có giàng then, Ý thức cộng đồng được cũng có thông qua việc thờ thần bản mệnh củaMường hay của bản Ý thức về gia đình, dòng họ được cũng cố thông qua việc thờ phụng tổ tiên,mỗi gia đình có một bàn thờ tổ tiên đặt ở vị trí trang trọng nhất trong nhà, ngoài ra trong nhà họ cònthờ vua bếp, bếp không chỉ có tác dụng nấu nướng là còn có vai trò quan trọng trong đời sống tâmlinh của người Tày Nùng
Trang 23Các tôn giáo như Khổng giáo, Phật giáo, Đạo giáo đều có ảnh hưởng đến đời sống tâm linh
của người dân ở Việt Bắc Chùa thờ Phật ít hơn dưới đồng bằng, nhưng cũng có những chùa đánglưu ý, như chùa Hang, chùa Úc Kỳ ở Bắc Thái, chùa Diên Khánh, chùa Linh Quang, chùa NhịThanh, chùa Tam Thanh ờ Lạng Sơn Tam giáo được cư dân Tày tiếp thu gắn giống với người Việt,nhưng ở mức độ thấp, trong sự kết hợp với các tín ngưỡng vật linh hồn có từ lâu đời trong dân gian
Nghệ thuật
Văn học truyền miệng chiếm vị trí rất quan trọng, các thể loại như: thần thoại, cổ tích,truyện cười trong đó có yếu tố thần thoại được phản ánh đậm nét qua hình ảnh bụt Bên cạnh dân cadân tộc tay nùng cần có một hệ thống kho tàng truyện cổ tích, truyền thuyết như vì sao núi có dê,núi ngựa,núi thóc, hay như sự tích về hồ Ba Bể Cứ mỗi địa danh ở đây hầu như lại gắn liền vớinhững truyền thuyết hay những chuyện cổ tích hoàn toàn do sự tưởng tượng của người dân bìnhthường có phần bay bổng từ từ đã đi sâu vào tiềm thức của bao thế hệ
Dân ca tày nùng còn có “Then” là một diễn sướng nghi lễ mang tính tổng hợp của các bộmôn nghệ thuật dân gian bao gồm có văn học, âm nhạc, múa, mĩ thuật Hiện nay Then là một tài sảntinh thần quan trọng của bộ phận dân tộc tày nùng; Then được chia làm nhiều loại, then cầu an- tổchức vào đầu năm, mong một năm may mắn; Then chữa bệnh- tổ chức khi có người ốm; Then cầumùa- tổ chức xin các vị thần cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt Có thể nói then đóng vaitrò rất quan trọng trong đời sống của người dân Tày Nùng ở Việt Bắc
Những người làm Then là người có căn Then, bắt buộc họ phải làm nghề để phục vụ tổnghề Nếu người có căn Then mà không chịu làm thì họ sẽ bị căn Then đày đọa về cả thể xác lẫntinh thần Nói về căn Then của mình, bà Then Hoàng Thị Kim Dung cho biết “Khi bị căn Thenhành hạ, bà thường đi lung tung vào nhà người khác, ra đường ngăn không cho ô tô đi, người ta chothứ gì cũng nghĩ là người ta cho thuốc độc muốn hãm hại mình…”
Cũng bị căn hành hạ, nhưng bà Then Nông Thị Cần người cùng xã lại có những biểu hiệnkhác như “thường mặc quần áo rách rưới đi chợ, rồi bà mua hương về thắp cạnh đường, thắp lênbàn thờ tổ tiên rồi lẩm bẩm khấn…” Người ta quan niệm, những người hành nghề Then là nhữngngười được tổ nghề lựa chọn, họ là “quan dăm” (quan âm), chuyên hành nghề để cứu nhân độ thế
Tín ngưỡng Then có nhiều nghi lễ, tùy thuộc vào yêu cầu của gia chủ mà thầy Then thựchành nghi lễ đó để giúp gia chủ cầu bình an Các loại nghi lễ của Then bao gồm: Then cầu an giảihạn, thường diễn ra vào dịp đầu năm; Then nàng hang, thường diễn ra vào dịp Trung thu; Thencúng mụ, diễn ra vào dịp cúng đầy tháng; Then thôi tang; lẩu Then, đây là nghi lễ lớn nhất của nhàThen… Lẩu Then có nhiều loại, lẩu Then khai quang, lẩu Then tăng sắc, lẩu Then khao quân, lẩuThen cáo lão Một lễ Then, quân Then phải trải qua nhiều cung cửa để đi từ gia đình chủ lễ lên trình
Trang 24diễn Ngọc Hoàng: Thổ công, Thành hoàng, Táo quân, Tổ tiên, Pháp sư, cửa tướng, đường ve sầu,cửa do người làm Then không thành cai quản (khau khắc khau hai), cửa ông Khuông ông Khắc,vượt biển, chợ Tam quang, Ngọc hoàng…
Với rất nhiều nghi lễ như vậy, Then đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của ngườiTày và Nùng ở Việt Nam Theo PGS.TS Nguyễn Thị Yên, Viện Nghiên cứu Văn hóa “Trải quanhiều bước thăng trầm, Then vẫn tồn tại trong đời sống văn hóa tinh thần của người Tày như một sựminh chứng cho sức mạnh trường tồn của tinh thần dân tộc, bản sắc dân tộc”
Đề cập đến vai trò của Then trong đời sống của người Tày, Nùng (và cả người Thái), cóngười đã từng nói rằng, nếu thiếu Then miền núi cao phía Bắc của Tổ quốc sẽ thiếu đi một cái gì đóhết sức quan trọng, một cái gì đó dường như thuộc về phần hồn của rừng Đầu năm 2017 Bộ trưởngBộ Văn hóa, Thể thao và Du Lịch đã thay mặt Chính phủ ký hồ sơ “Thực hành Then của người Tày,Nùng, Thái ở Việt Nam” trình UNESCO xem xét đưa vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đạidiện của nhân loại
Về chi tiết, vùng Việt Bắc với người Tày - Nùng, chữ viết trải qua các giai đoạn: giai đoạn
cổ đại không có chữ viết, giai đoạn cận đại có chữ Nôm, giai đoạn hiện đại, vừa có chữ Nôm vừa cóchữ Latinh Năm 1960, Đảng và Nhà nước ta đà giúp người Tày - Nùng xây dựng hệ thống chữ viếttheo lối chữ Quốc ngừ, hàng chữ cái Latinh Cung chính vì vậy, nét đáng chứ ý là cư dân Tày -Nùng ở Việt Bắc đã có những nhà văn viết văn bàng chữ viết dân tộc Đáng kể là các tác giả nhưHoàng Đức Hậu Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn v.v
Trong khi đó, văn học dân gian Việt Bắc khá đa dạng về thể loại, phong phú về số lượng
tác phẩm, như thành ngữ, tục ngữ, truyện cổ tích, nói ví câu đố và đồng dao, Kiêng dân ca, loạiphong phú là loại khá riêng biệt được viết trên nền giấy vải khá công phu Đặc biệt, lời ca giaoduyên; lượn cọi và lượn slương, là những thể loại tiêu biếu được các thế hệ trẻ Tàv - Nùng ưachuộng
Lễ hội của cư dân Tày - Nùng rất phong phú.
Ngày hội của toàn cộng đống là hội Lồng tồng, diễn ra gồm hai phần: Lễ và hội Nghi lễchính là rước thần đình và thần nông ra nơi mở hội ở ngoài đồng
Theo truyền thống, cứ vào dịp đầu tháng Giêng, người Tày, Nùng lại mở hội xuống đồng đểtổng kết một năm lao động, sản xuất và chuẩn bị cho công việc gieo trồng mùa vụ mới Các dòng họtrong làng đều được phân công lo các phần việc chuẩn bị mở hội như: Chọn dây song để kéo co,chọn con quay, lễ vật dâng cúng…
Vào ngày tổ chức lễ hội, đồng bào chọn ra một đám ruộng to nhất Ngay từ sáng sớm tronglàng đã vang lên hồi chiêng trống rộn rã Lễ rước Thổ Công và Thần Nông tiến ra khu ruộng nơi
Trang 25diễn ra lễ hội Đi đầu là người đánh chiêng, hai người thổi kèn loa gỗ, theo sau là thầy cúng, đôinam nữ bê mâm lễ vật dâng cúng, một đôi nam nữ khiêng cuộn dây kéo co, đi sau cùng là 2 ngườikhiêng trống, vừa đi vừa đánh Theo định lệ mỗi gia đình trong làng chuẩn bị một mâm cỗ để đưa raruộng nơi tổ chức lễ hội cúng tế Lễ vật dâng cúng có gà luộc, thịt lợn luộc, xôi các màu…
Mâm cỗ của các gia đình được tập trung trước bàn thờ chính có cắm cây nêu bằng tre, dángiấy đỏ, dưới bàn thờ chính có đặt cuộn dây để kéo co Một hồi chiêng vang lên, lễ cúng mở hội bắtđầu Thầy cúng đọc lên bài cúng mời Thần Nông, Thổ Công, Thần các con suối, Thần các ngọn núivề dự lễ cúng Nội dung các bài cúng cầu mong: Lúa tốt như cỏ lau, cỏ lác, hạt to như quả đaokhông có sâu cắn phá; cá nằm chật suối, chật ao; trâu lợn đầy đàn; gà vịt đầy sân; người người khỏemạnh, nhà nhà đông con, làng bản thêm nhiều trẻ nhỏ, không người ốm đau…
Cúng xong ở ban cúng chính, Thầy cúng, già làng, trưởng thôn đi chấm mâm cỗ của các giađình Mâm cỗ được giải phải bày đúng nghi lễ truyền thống theo đó phải có thịt gà, thịt lợn, xôi 3màu… Chấm xong, các gia đình hạ cỗ, cả làng cùng ăn uống tại chỗ
Theo quan niệm của người Tày, Nùng nhà nào mời càng nhiều khách đến ăn thì nhà đó càngmay mắn có nhiều lộc trong năm mới Nghi lễ cúng tế kết thúc, dân làng chuyển sang phần hội vuichơi các trò chơi truyền thống Thường các trò chơi trong lễ hội xuống đồng đều mang ý nghĩa cầumùa, cầu sức khoẻ
Trò chơi kéo co, lúc đầu còn mang tính chất nghi lễ, thường chia làm 2 phe: Bên Đông vàbên Tây Theo lệ, đại diện bên Đông bao giờ cũng thắng liên tiếp 3 keo Người Tày, Nùng quanniệm bên Đông là nơi mặt trời mọc Bên Đông thắng cũng có nghĩa là có mặt trời, có ánh nắng, đểmùa màng tươi tốt, dân làng được mùa ấm no Sau nghi lễ bắt buộc này là phần chơi kéo co của cácđội trong làng, Thầy cúng hướng về phía mặt trời lặn, gõ 3 hồi chiêng, đọc lời khấn: “Kéo lấy lúalấy má, kéo lấy khoẻ lấy mạnh” Thầy cúng vừa hết lời thì hai bên thi kéo co
Phát đường là trò chơi mang đậm ý nghĩa của tín ngưỡng nông nghiệp Tất cả thanh niênnam nữ trong làng với trang phục rực rỡ, tay cầm dao, cuốc làm các động tác tượng trưng cho hànhđộng chặt cây, cuốc đất, nhặt cỏ
Hội xuống đồng của người Tày, Nùng là lễ hội cầu mùa điển hình Cả phần lễ lẫn phần hộiđều phản ánh ước nguyện của dân làng là mong ước được mùa, người người khoẻ mạnh Đậm nétcó thể thấy đó là tín ngưỡng bao quanh các yếu tố ảnh hưởng đến nông nghiệp như: Sinh sản, nước,mặt trời, cây lúa…
Nói đến sinh hoạt văn hóa của cư dân vùng Việt Bắc, không thể không nói đến sinh hoạt hộichợ ở đây - Là nơi để trao đổi hàng hóa, nhưng lại cũng là nơi để nam nữ thanh niên trao duyên, tỏtình Người ta đã từng nói đến một loại sinh hoạt văn hóa hội chợ ở vừng nãy, và có thể coi nhưmột sinh hoạt văn hóa đặc thù của vùng Việt Bắc
Trang 26Người tày nùng có quan niệm, người chết linh hồn tiếp tục sống ở thế giới bên kia nếu ngườichết bất đắc kỳ tử thì làm lán quan tài, làm ma chôn tại chỗ; còn trẻ em chết thì bó chiếu chọn rất xanhà, người già chết thì làm ma trên sân nhà, bố mẹ chết thì người con trai đều giao, mang một góimuối đi mời thầy tao đến cũng làm đám tang đeo dao trong suốt những ngày làm tang lễ Hằngnăm, người tay đi tảo mộ người chết vào dịp tết Thanh Minh ngày ba tháng ba âm lịch và chỉ cúng
tổ tiên vào ngày rằm, mùng một, ngày tết như cúng các thần linh khác
Tóm lại, Việt Bắc là một vùng văn hóa có nhiều đặc thù Tộc người chủ thể: Tày - Nùng vớilịch sử và văn hóa của họ tạo ra nét đặc thù này Tuy nhiên, những đặc thù này không phá vỡ tínhthống nhất của văn hóa Việt Bắc và văn hóa cả nước
VÙNG VĂN HÓA TRƯỜNG SƠN TÂY NGUYÊN
I Các yếu tố hình thành Vùng Trường Sơn-Tây Nguyên
1 Lịch Sử Hình Thành của vùng đất Trường Sơn-Tây Nguyên
Từ xưa vốn là vùng đất tự trị, địa bàn sinh sống của các bộ tộc thiểu số, chưa phát triển thành mộtquốc gia hoàn chỉnh, chỉ có những quốc gia mang tính chất sơ khai của người Ê Đê , Gia Rai, Mạ Năm 1471 Vua Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, phá được thành Đồ Bàn sáp nhập
3 phần 5 lãnh thổ Champa thời đó vào Đại Việt Hai phần Champa còn lại, được Lê Thánh Tôngchia thành các tiểu quốc nhỏ thuần phục Đại Việt Dưới thời Chúa Nguyễn Hoàng các bộ tộc thiểusố ở chuyển sang chịu sự bảo hộ của người Việt Vào Thời Vua Minh Mạng có đưa phần lãnh thổTây Nguyên vào bản đồ Việt Nam (Đại Nam nhất thống toàn đồ 1834)
Trang 27Tây Nguyên hiện nay bao gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng, vănhóa Tây Nguyên còn thấy được ở những dân tộc khác sống trải dài từ Quảng Bình đến Phú Yênnên còn Hay gọi và “Văn hóa Tây Nguyên – Trường Sơn”.Tây Nguyên có diện tích tự nhiênkhoảng trên 54,000 km2, Tây Nguyên là vùng cao nguyên do một loạt cao nguyên liền kề TâyNguyên vùng đất đầy Nắng và Gió với đặc trưng hai mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùakhô từ tháng 11 đến tháng 4 rất thích hợp trồng các cây công nghiệp đặc biệt nổi tiếng với cây càphê (Tỉnh Đăks Lăks) Năm 2019 tổng diện tích có rừng của các tỉnh Tây Nguyên là khoảng 2,6triệu ha, chiếm 17,5% diện tích rừng cả nước, tỷ lệ che phủ đạt gần 46% và đang bị tàn phá nghiêmtrọng
Không gian lãnh thổ của vùng văn hóa Trường Sơn- Tây Nguyên Dải Trường Sơn Nam, là đườngphân thủy giữa lưu vực sông Mekong và các sông đổ vào Biển Đông,chạy dài từ khối núi NgọcLinh đến mũi Dinh Các dãy núi và khối núi chính thuộc Trường Sơn Nam là khối núi Ngọc Linh,dãy núi An Khê, Chư Đju, Tây Khánh Hòa, Chư Yang Sin Sườn của các dãy núi và khối núi này
đổ dốc xuống các đồng bằng duyên hải từ Quảng Nam đến Nha Trang Phần địa hình cao từKontum trở vào là Khối nâng Kon Tum hay Tây Nguyên
Các đỉnh núi cao trong dãy núi Trường Sơn Nam gồm: Ngọc Linh cao nhất Nam Trường Sơn vàhơn mười ngọn khác cao trên cùng thuộc khối núi Ngọc Linh, Ngọc Krinh, Kon Ka Kinh , VọngPhu, Chư Yang Sin
Giải Thích Tên Gọi Trường Sơn:
Thời Bắc thuộc, tương ứng với khu vực miền Bắc Việt Nam ngày nay thường được gọi là An Nam
đô hộ phủ( 679-757 và 766-866) Trường Sơn gọi theo tên nước ta trước đây là dãy núi An Nam.Bên Lào, dãy Trường Sơn được gọi là Phou Loang (Phu Luông) Năm 1953 Nhạc sĩ Phạm Duy viết
ca khúc về Trường Sơn có lẽ là nhạc phẩm đầu tiên mang tên mới của dãy núi này Trong thời kỳchống Mỹ (1954-1975), tên Trường Sơn trở nên phổ biến trên phương tiện thông tin đại chúng mộtphần cũng nhờ những ca khúc kháng chiến bất diệt, đi sâu vào lòng người
3 Đặc điểm dân cư của người dân ở đây
Tây Nguyên có đến khoảng 20 ( Ê Đê,Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng,) dân tộc cùng chung sống, gồmdân tộc bản địa và dân tộc từ nơi khác đến Trong đó, ngoài người Kinh dân tộc thiểu số có 375.825người, chiếm tỷ lệ 7,48%; có 8 dân tộc ít người chiếm tỷ lệ 0,01% dân số Do đó đặc điểm của cộngđồng tộc người ở Tây Nguyên là rất đa dạng về ngôn ngữ, tâm lý, phong tục tập quán
Là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc ít người, là vùng thưa dân nhất nước ta Đời sống dân cư cònnhiều khó khăn và đang cải thiện
Trang 28Thuở xưa người ở đây thường sống tập trung theo bản, làng có người đứng đầu là Già làng là trụ cộtcủa buôn làng, là những người giàu kinh nghiệm trong cuộc sống và uy tín trong cộng đồng, phầnlớn già làng ở Tây Nguyên đã và đang phát huy vai trò của mình trong việc tuyên truyền, vận độngđồng bào làm ăn, phát triển kinh tế gia đình cũng như giữ gìn cho thôn buôn êm ấm, bình yên.
II Văn Hóa Vật Chất Vùng Trường Sơn-Tây Nguyên
1 Nhà ở Vùng Văn Hóa Trường Sơn-Tây Nguyên
Nhà sàn
Nhắc đến Tây Nguyên chúng ta không thể không nhắc đến kiến trúc nhà sàn độc đáo Những nhàsàn được xây dựng trên cùng đất Tây Nguyên là những nhà sàn đặc trưng cho đồng bào dân tộcthiểu số
Tây Nguyên là một vùng đất tụ họp nhiều dân tộc thiểu số Mỗi dân tộc có một thiết kế nhà sàn đặctrưng riêng thể hiện được nét văn hóa của chính dân tộc đó Đa phần những ngôi nhà sàn thườngđược thiết kế bằng gỗ là chính để tạo nên cảm giác thoáng mát vào mùa hè cũng như ấm áp vàomùa đông
Thường kiến trúc nhà sàn được xây dựng trên những khu đất vùng cao để tránh thú dữ Một ngôinhà sàn tại Tây Nguyên để có thể xây dựng đòi hỏi không ít thời gian cũng như nhân công Vì vậynhà sàn Tây Nguyên được xây dựng bằng sự hỗ trợ của cả cộng đồng trong bản, trong thôn nên tốntương đối nhiều công sức
Trong nhà sàn, thường sử dụng những vật liệu nguyên cây nguyên khối, không có dây đeo bám trênthân cây Chiều rộng của cột trong nhà sàn thường rộng khoảng 30 đến 40cm chỉ được đặt chồnglên nhau hoặc ghép lại vào nhau trùng khít để tạo thành một kết cấu vững chắc Nhà sàn TâyNguyên được tạo hình nghệ thuật trên những thân cột, xà ngang bằng những chạm khắc nổi, vẽnhững hình ảnh quen thuộc với cư dân rừng núi, hình ảnh chim, voi, rùa, kỳ đà,… tất cả những hìnhảnh này đều thể hiện việc sùng bái thiên nhiên cũng như sự mong ước về cuộc sống ấm no, hạnhphúc
Nhà rông:
Nhà rông được xem là biểu tượng văn hóa của cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên,thể hiện giá trịvật chất và tinh thần trong đời sống đồng bào nơi đây Nhà rông là không gian sinh hoạt cộng đồnglớn nhất mỗi làng; nơi người dân trao đổi,thảo luận về các lĩnh vực hành chính, quân sự; nơi thựcthi các luật tục, bảo tồn truyền thống và diễn ra những nghi thức tôn giáo, tín ngưỡng
Nhà rông không phải dùng để lưu trú, mặc dù có kết cấu và vật liệu tương tự nhà sàn dùng để ở(được xây dựng bằng gỗ, tre, cỏ tranh…), nhà rông mang các nét kiến trúc đặc sắc và cao, rộng hơn
Trang 29nhiều Nhà rông càng cao và rộng thì càng thể hiện sự giàu có, thịnh vượng, sung túc, hùng mạnhcủa làng
Đồng bào Tây Nguyên quan niệm nhà rông là nơi thu hút khí thiêng đất trời để bảo trợ cho dânlàng Do đó trong mỗi nhà rông đều có một nơi trang trọng để thờ các vật được người dân cho làthần linh trú ngụ như con dao, hòn đá, sừng trâu… Ngoài ra, nơi này còn như một bảo tàng lưu giữcác hiện vật truyền thống gắn liền với lịch sử hình thành buôn làng như cồng chiêng, trống, vũ khí,đầu các con vật hiến sinh trong ngày lễ
Nhà rông là nơi quan trọng nhất làng nên đàn ông trong làng phải thay nhau ngủ qua đêm tại đây đểtrông coi Một số làng làm đến hai nhà rông: “nhà rông cái” nhỏ và có mái thấp dành cho phụ nữ,
“nhà rông đực” dành cho đàn ông có quy mô lớn hơn và trang trí công phu Ngoài mục đích gìn giữkhông gian thiêng, nhà rông là nơi người dân trao đổi những câu chuyện, kinh nghiệm trong đờisống Nam nữ độc thân trong làng có thể quây quần tại nhà rông để thăm hỏi, tìm bạn đời, tuy nhiênkhông đi được phép đi quá giới hạn
Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên có kiểu làm nhà rông khác nhau Kích thước nhà rông nhỏ và thấp nhấtlà của người Giẻ Triêng Nhà rông của người Xê Ðăng cao vút Nhà rông của người Gia Rai có máimảnh, dẹt như lưỡi rìu Nhà rông của người Ba Na to hơn nhà Gia Rai, có đường nét mềm mại vàthường có các nhà sàn xung quanh Điểm chung của các ngôi nhà rông là được xây cất trên mộtkhoảng đất rộng, nằm ngay tại khu vực trung tâm của buôn làng
Sàn nhà rông được thiết kế gắn liền với văn hóa quây quần uống rượu cần của đồng bào Sànthường được làm từ ván gỗ hay ống tre nứa đập dập, khi ghép không khít nhau mà các tấm cáchnhau khoảng 1 cm Nhờ thế mà khi người dân tập trung ăn uống, nước không bị chảy lênh láng rasàn Mặt khác, kiểu sàn này giúp cho việc vệ sinh nhà dễ dàng hơn
Cầu thang nhà rông thường có 7 đến 9 bậc, tuy nhiên mỗi dân tộc lại có trang trí khác nhau Trênthành và cột của cầu thang, người Gia Rai hay tạc hình quả bầu đựng nước,người Bana khắc hìnhngọn cây rau dớn, còn người Giẻ Triêng, Xơ Đăng thường đẽo hình núm chiêng hoặc mũi thuyền.Nếu như mái đình miền xuôi gắn liền với hình ảnh cây đa, thì nhà rông Tây Nguyên có cây nêu.Cây nêu được trang trí nhiều họa tiết, đặt ở phía trước sân chính giữa của ngôi nhà rông để phục vụcác lễ hội lớn của buôn làng Theo quan niệm, cây nêu là nơi hội tụ các vị thần linh Ở từng lễ hội,cây nêu mang một hình ảnh biểu tượng khác nhau như cây nêu trong lễ đâm trâu có 4 nhánh, lễmừng lúa mới cây nêu chỉ có 1 nhánh…
Nhà rông chỉ gắn với buôn làng, không có nhà rông cấp tỉnh, cấp huyện hoặc nhà rông chung nhiềulàng Hiện nay, nhà rông truyền thống luôn được gìn giữ tại trung tâm làng
2 Những Đặc Trưng Trang phục của các dân tộc Vùng Trường Sơn-Tây Nguyên
Trang 30Trang phục của vùng Tây Nguyên
Trong vùng đất Tây Nguyên có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống với các bộ trang phục riêngtượng trưng cho mỗi dân tộc, trang phục của phụ nữ rất đẹp, vì có nhiều hoa văn và làm nổi lên mộtcách kín đáo đường nét của cơ thể, những nghệ nhân sẽ dệt với kiểu dáng khác nhau tùy mỗi dântộc, phụ nữ mặc áo chui đầu Váy tấm , sử dụng 2 gam màu chủ đạo là đỏ đen( các dân tộc bắc TâyNguyên) và xanh đậm trắng ( các dân tộc năm Tây Nguyên) kết hợp với dệt,, thêu các loại hoa vănmang các hình tượng gần gũi với thiên nhiên, chị em Tây Nguyên đã tạo nên những bộ trang phụcấn tượng
Đồng bào M’nông có bản sắc văn hóa độc đáo, trong đó nổi lên là những bộ trang phục truyềnthống Việc tự dệt vải, may trang phục cho các thành viên trong gia đình là một việc rất quan trọngđối với phụ nữ M’nông Trước kia, bà con còn sáng tạo ra áo vỏ cây, chống lại giá rét khi đi trongrừng rậm…
Sau này, không còn làm “vải” từ vỏ cây nữa, những thiết kế áo của bà con vẫn theo dáng ấy, nhưvậy là vẫn giữ được bản sắc truyền thống văn hóa trong trang phục Màu sắc thổ cẩm truyền thốngcủa người M’nông gồm các màu chủ đạo là đen, đỏ, vàng, tím, trắng, xanh
Tuy vậy, trang phục và cách ăn mặc cũng có nét khác nhau Về màu sắc, như dân tộc Xơ Đăng chủđạo là màu đen chàm trang trí bằng các hoa văn màu trắng đỏ, trang phục của người đồng bào Banalà màu chàm đỏ vàng hoặc chấm xanh với những họa tiết tinh tế, của người Iajar chủ yếu là màutrắng chàm đầy nét duyên dáng và sắc sảo, với người Giẻ Triêng là màu đen xanh trang trí bằng cácsợi chỉ màu vàng đỏ
Những nét đặc sắc nhất vẫn là trang phục đàn ông, và cũng là nét chung nhất trong trang phụctruyền thống các dân tộc Tây Nguyên là đàn ông đều đóng khố mặc áo chui đầu hoặc choàng quấnnhiều màu sẫm, ngoài cái phần để che, khố có vạt trước, vạt sau và nhiều hoa văn, diềm khố có tuabông và dài đến giữa ống chân Đấy là cả một công trình dệt và thêu và là cả một nghệ thuật trangtrí phục sức.Vạt trước dài, vạt sau ngắn, xúng xính theo nhịp chân đi làm, làm tôn lên rất nhiều cáiphần cơ thể rắn chắc, khỏe mạnh của người đàn ông
Nếu trời lạnh họ sẽ khoác thêm tấm vải choàng rộng trên cổ, buông xuống tận đầu gối, mở ra trướcngực Khi gió lật tấm choàng có cảm giác như con người hùng dũng ấy sắp sửa bay lên Cuối cùn,tất cả những thứ như khố hai vạt với khăn quấn đầu có cắm lông chim, dàn chiêng cồng với cáitrống lớ, cối giã gạo hình thuyền và chày đứng, kiểu mái nhà trên nở dưới thót, thuyền độc mộchình thoi với trang trí ở mũi và mạn v.v , tất cả những thứ ấy dường như mới từ những hình khắctrên mặt trống đồng Ngọc Lũ I trở về với hiện diện thực
3 Ẩm thực
Trang 31Ẩm Thực: Vùng Trường Sơn – Tây Nguyên
Từ góc độ văn hóa cổ truyền, cái vẻ hoang sơ, huyền thoại trong cuộc sống khiến cho con ngườiTây Nguyên còn giữ được những phẩm chất “bản thiện” của người và “chưa bị tha hóa” Vì thế màcác món ăn của người dân Tây Nguyên cũng mang dấu ấn vùng miền Có thể kể đến là:
Cơm lam
Cơm lam Tây Nguyên, món đặc sản độc đáo kết hợp giữ thiên nhiên và con người Trước kia, dođòi hỏi của việc làm nương rẫy cùng với tập quán sống du canh du cư, nhiều đồng bào ở TâyNguyên đã tận dụng những ống tre, ống nứa có sẵn trong rừng để nấu những hạt gạo mà họ mangtheo trong suốt mùa làm Theo người địa phương, món ăn có xuất phát từ đồng bào dân tộc Ê Đê ởBuôn Đôn, Đắk Lắk Sau này cơm lam Tây Nguyên được chế biến thành nhiều hương vị khác nhau,nhưng dù thế thì món đặc sản này vẫn có những đặt điểm chung không thể thay đổi
Rượu Cần
Đối với người Tây Nguyên, rượu cần trước hết là vật để dâng hiến thần linh, sau đó đến nhu cầu củacon người Cũng như trâu, bò nuôi chủ yếu để làm hiến sinh, sau đó đến con người Ở Tây Nguyêntất cả các lễ hội không bao giờ thiếu vắng rượu cần Ngoài giá trị vật chất, rượu cần còn biểu hiệncho văn hóa giao tiếp Bởi uống rượu cần vào con người mới thăng hoa, âm nhạc mới bốc đến độcao trào, mọi khả năng nghệ thuật mới được biểu hiện đến mức tuôn chảy tự nhiên Biểu hiện đểnhận biết nhất ở rượu cần là sợi dây gắn kết từng cá nhân với cộng đồng Thông qua đó mọi ngườimới biết nhau hơn, xích lại gần nhau, đoàn kết vượt qua mọi thử thách Rượu cần đã gắn bó với dântộc Tây Nguyên qua bao thăng trầm của lịch sử tộc người
Ngoài ra còn có
MĂNG LE ĐẶC SẢN NÚI RỪNG là loại đặc sản của người dân Tây Nguyên, ăn rất ngon và ănhoài không biết chán Loại đặc sản này được chế biến thành nhiều món ăn khác nhau như: măngluộc chấm nước mắm, măng le nấu chua, kho thịt hầm xương, măng le nấu thịt nai khô,… đượcngười đồng bằng rất ưa chuộng Đây là loại thức ăn quen thuộc vào mỗi mùa mưa của người dânnơi đây Măng le khác các loại măng khác ở chỗ nó không bị chát, ăn lại giòn và thơm, không kémnguyên liệu đi kèm nên dễ chế biến
GỎI LÁ KOM TUM LẠ MIỆNG Thoạt nghe tên thì có vẻ lạ nhưng đây lại là một món ăn đặctrưng của người Tây Nguyên Gỏi lá Kom Tum được làm từ nhiều loại lá cây rừng, tùy theo mùamà món gỏi lá này có nhiều loại lá khác nhau Vào mùa khô, món gỏi lá chỉ có khoảng 30 – 40 loại
lá rừng Tuy nhiên, khi những cơn mưa bắt đầu rơi xuống mảnh đất cao nguyên trù phú này thì móngỏi lá sẽ có ít nhất khoảng 70 loại lá Thậm chí người ta còn thống kê được rằng, nếu đầy đủ phảikhông dưới 100 thứ lá khác nhau
Trang 324 Nhạc cụ
Thứ nhất là cồng chiêng
Cồng chiêng là một loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen chính vìthế khi ta gõ sẽ phát ra nhiều âm thanh nghe thật sống động Cồng là loại có núm và chiêng thìkhông có núm Đường kính từ 20 đến 60 cm là kích cỡ của loại nhạc cụ này Tuy nhiên, có một sốloại cực đại lên đến từ 90 đến 120cm
Ở người Mường và nhiều tộc dọc Trường Sơn – Tây Nguyên, các dàn cồng chiêng không chỉ làmnhiệm vụ điểm nhịp, đi tiết tấu hay những giai điệu một bè mà nó còn hoà tấu nhạc đa âm Mỗi mộtbộ cồng chiêng có những số lượng khác nhau và đảm nhiệm những chức năng riêng
Vật dụng để đánh cồng chiêng có thể là dùi hoặc đấm bằng tay Một số dân tộc còn đánh bằng taytrái tạo giai điệu thú vị Tuy nhiên việc đánh cồng chiêng không hề đơn giản, chính vì vậy ở một sốdân tộc chỉ những người nam giới mới có thể đánh cồng chiêng được Hầu như gia đình nào cũngđều có cồng chiêng, thậm chí có gia đình có tới vài bộ Cồng chiêng gắn bó với người Tây Nguyên
từ thuở ấu thơ
Âm thanh cồng chiêng xuất hiện trong các nghi lễ cúng tế, tang ma, cưới xin, mừng lúa mới và cácnghi lễ nông nghiệp, mừng năm mới, mừng nhà mới, đôi khi là ăn mừng chiến thắng cùng như lễđưa và đón các chiến binh…
Thứ hai Đàn Đá
Các bé có thể tự học đàn guitar tại nhà, nhưng như với đàn đá – một loại đàn dân tộc thì việc nàytưởng chừng như là khó Đàn đó bộ gồm nhiều thành đá hợp thành Trong đó, mỗi thanh đá có kíchthước và hình dáng khác nhau, và được chế tác bằng phương pháp ghè đẽo thô sơ Đàn đá là loạiđàn của đồng bào ở tỉnh Đắk Lắk, Ninh Thuận, Bình Phước, Lâm Đồng, Khánh Hoà, Đồng Nai vàPhú Yên Số lượng thanh ở mỗi tập hợp được phát hiện là 3-15 Một số tộc ở Tây Nguyên coinhững thanh đá được phát hiện như những vật thiêng và giữ gìn như của gia bảo
Thứ ba là đàn T’rưng
Với những ai đã học các lớp nhạc cụ dân tộc miễn phí chắc hẳn sẽ biết đến loại nhạc cũ của ngườidân vùng Tây Nguyên đó là Đàn T’rưng Đêm đêm, quay quanh ngọn lửa hồng dưới mái nhà rôngngười ta bắt đầu kể những câu chuyện Khan, H’mon và hát lên những làn điệu dân ca Jôn-jơ, đợichờ, giã gạo…và chiếc Đàn T’rưng là một trong những loại đàn làm nên làn điệu mượt mà đó ĐànT’rưng là một loại nhạc khí “thô” được chế tác từ những khúc gỗ bóc vỏ phơi khô hay những ốngnứa vót một đầu, rồi sau đó người ta chặt theo những độ dài khác nhau để tạo nên những âm vựcưng ý đem treo lên một cái giá đủ trở thành một cây đàn gõ “phím” cho một hoặc hai người diễn tấubằng cách cầm những dùi tre gõ vào phím này
Trang 33Đây là một loại nhạc cụ phát ra âm thanh hết sức độc đáo, lôi cuốn người xem trên đất Việt và cảnhững người con xa quê Nó còn hấp dẫn các du khách đến với vùng đất Tây Nguyên Nếu như bạncho con em đi học nhạc cụ dân tộc thì hãy cho con tìm hiểu về loại nhạc cụ này nhé, để các bé hiểuthêm về loại nhạc cụ truyền thống.
Thứ tư Tù và
Mọi dân tộc ở Tây Nguyên đều sử dụng sừng trâu, bò làm tù và và người Êđê gọi là kipah NgườiM'nông gọi Nung Người Banar gọi T’diep… Chiếc sừng được cưa một đoạn ngắn, thủng cả haiđầu Ở giữa, trên phần cong vào, khoét một lỗ nhỏ và đặt vào đó một chiếc “lưỡi gà” (như một chiếcdăm kèn), gắn lại bằng sáp ong Khi thổi, tay trái cầm ngang thân kèn, ngón cái bịt đầu nhỏ, miệngngậm vào “lưỡi gà” Tiếng kèn dài hay ngắn, nhanh hay chậm là do điều khiển bằng lưỡi và luồnhơi, kết hợp với sự bịt mở các ngón tay ở cả hai đầu to nhỏ của kèn
Chiếc Nung của người M'nông đặc biệt hơn, gồm có hai chiếc lớn nhỏ Nung lớn tiếng trầm hùng,vang dội thường được dùng làm hiệu lệnh chiến đấu hay báo hiệu, đặc biệt thuở tù trưởng N’TrangLong dũng mãnh đấu tranh chống Pháp suốt một vùng Tây Nguyên M'nông rộng lớn Nung nhỏtiếng thánh thót, lảnh lót Thường được sử dụng trong các lễ hội có đâm trâu
Những sáng sớm tinh mơ, khi sương mù còn che phủ núi rừng, hay những hoàng hôn bảng lảngbuông trên những mái nhà sàn… tiếng tù và xa xăm nghe da diết và gợi nhớ
Đàn Goong
Cây đàn Goong (hoặc còn gọi là Ting Ning), của dân tộc nào cũng có cấu tạo cơ bản giống nhau,gồm một ống nứa có khoét lỗ để mắc những tay đàn Dây đàn trước đây làm bằng cật nứa, nay đãthay bằng dây thép nhỏ Có từ 6-12 dây, tùy theo tài nghệ diễn tấu của nghệ nhân Dân tộc Banar cógắn thêm một quả bầu làm hộp cộng hưởng, cho âm thanh vang hơn
Người Ê đê, Gia Rai không có quả bầu, nhưng khi đánh có thể kê lên một vật rỗng tạo sự cộnghưởng Tiếng đàn Goong thánh thót, có sức truyền cảm, những sợi dây đàn rung lên dưới bàn tay tàihoa của người con trai, là phương tiện tỏ bày tình yêu nam nữ Chính vì vậy nên ngày nay vẫn cònnhiều thanh niên biết chơi đàn ting ning Goong có mặt ở mọi nơi Theo bước chân các chàng trai
cô gái trên đường đi rẫy, kề bên nhau tâm sự trong ngày lễ hội ở buôn làng… Tính tang, tính tang…hãy lắng nghe đi bạn, lời yêu, lời thương đang chảy tràn khắp núi rừng núi đấy
5 Các nghề truyền thống của người Vùng Trường Sơn-Tây Nguyên
Nghề dệt thổ cẩm, sản phẩm chủ yếu là túi xách, dệt vải, may trang phục đồng bào dân tộc, làmquà lưu niệm các sản phẩm truyền thống như: váy, áo, đầm dạ hội… sử dụng chất liệu thổ cẩm Tây
Trang 34Nguyên đã được đông đảo người dân cũng như khách hàng gần xa đón nhận Đây là minh chứngxác thực nhất thể hiện sức hút của sản phẩm truyền thống Ngoài ra không chỉ ở lĩnh vực dệt maythổ cẩm mà còn nhiều nghề truyền thống khác như: đan lát, tạc tượng nghề đan lát mây, tre.
Chỉ với một bộ khung gồm nhiều thanh gỗ và tre đơn sơ, gọn nhẹ nhưng người Mạ đã tạo nênnhững tấm thổ cẩm với những đường nét hoa văn sinh động, màu sắc bắt mắt Cách nhuộm màu chosợi của người Mạ cũng rất công phu Bà con phải vào tận rừng sâu tìm những cây lá, củ, quả có màusắc đem về giã nhỏ hoặc mài bột để nhuộm sợi Màu sắc được bà con sử dụng nhiều trên tấm thổcẩm là các màu đen, trắng, xanh, đỏ, nâu, vàng, trong đó, màu trắng là màu chủ đạo Trên tấm thổcẩm, bà con thường chọn dệt những hình thù đặc trưng của đồng bào như: cây cối, chim, muôngthú, nhà sàn, cây nêu…
Làng nghề đan võng của người dân tộc Xơ-Đăng của vùng Trường Sơn-Tây Nguyên Được chế tác
trong vườn cây sơ ri với sự thuần khiết và khéo léo của bàn tay Nghề được coi là nghề truyền thốngđộc đáo, mang biểu tượng văn hóa Cadong ở vùng Trung Sơn – Nguyên Được truyền từ đời nàysang đời khác Vùng đất dưới chân núi Ngọc Linh, trải dài dọc theo sông Là khu định cư lâu đờinhất ở Cadong Họ chỉ sống trong tự nhiên, mọi đồ dùng, vật dụng chủ yếu bằng tre, trúc và nhữngchiếc ô khổng lồ Kể cả nghề đan võng gụ để sử dụng hàng ngày
Trồng cà phê cũng chính là một nghề ở vùng này Năm 2016, diện tích cà phê cả nước đạt trên643.000 ha Riêng tại Tây Nguyên, diện tích trồng cà phê đạt cao với khoảng 540.000 ha chiếm xấpxỉ 83% so với cả nước Thành Phố Buôn Ma Thuột là một đại diện tiêu biểu hay được ví như một
"Thủ phủ cà phê" Cây cà phê chiếm giữ một vị trí độc tôn, không loại cây trồng nào sánh được trêncao nguyên đất đỏ bazan này
6 Di tích văn hóa Vùng Trường Sơn-Tây Nguyên
Ở Tây nguyên có nhiều di tích văn hóa Như Tháp Chăm Yang Prong Nằm khuất sâu giữa cánh
rừng già thuộc thôn 5, xã Ea Rốk, huyện Ea Súp (Đăk Lăk), tháp Yang Prong là di tích duy nhất cònnguyên vẹn kiến trúc cổ xưa huyền bí, cổ kính thâm nghiêm của người Chăm trên vùng đất Caonguyên Tháp cao khoảng 9m như búp hoa khổng lồ vươn lên từ một khu nền hình vuông, mỗichiều rộng 5m Toàn bộ tháp cổ được xây dựng bằng gạch nung đỏ, không có dấu hiệu của mạchvữa, chỉ một cửa thật duy nhất ở phương Đông hướng về mặt trời mọc, ba mặt còn lại là cửa giả Lăng mộ của gia đình vua voi Khunjunob, một nhân vật lịch sử có đã trở thành một huyền thoạicủa vùng Bản Đôn nổi tiếng về truyền thống săn bắt voi và thuần dưỡng voi rừng
Trang 35Hồ Lắk là một trong những điểm du lịch Tây Nguyên nổi tiếng và là hồ nước tự nhiên lớn nhất củaViệt Nam Nhìn từ xa lại, cảnh hồ như một dải lụa mềm uốn mình trong cánh rừng già Cái TênTỉnh của Đăks Lăks cũng xuất phát từ đây.
Voi đá voi
Theo lời kể của người M'Nông, Núi Đá voi Cha và Đá voi Mẹ vốn không nằm cạnh nhau như bâygiờ Đá voi Mẹ sau nhiều lần dịch chuyển đã tiến về sát chân núi Còn đá Voi Cha ban đầu vốn ởphía Bắc, hướng mặt ra hồ Lắk nhưng chỉ sau một đêm đã thấy nó nằm giữa đồng lúa – cách Đá voi
Mẹ 5km Hai hòn đá gắn liền với truyền thuyết Đá Voi bắt vợ từ thuở xa xưa của đồng bào M'Nôngngười dân ở đây luôn tin rằng, cặp đá Voi là thần tình yêu minh chứng cho các cặp đang yêu nhauvà phù hộ để người lẻ bóng tìm được một nửa bền lâu
II Văn Hóa Tinh Thần
1 Văn hóa dân gian
Văn hóa tiêu biểu như người Jrai, Bana, Sê Đăng, Êđê có điệu múa Kông Kor, múa theo tiếng chiêng Aráp, theo điệu hát Ayrây, theo nhịp trống H’gơr, hay phỏng theo tư thế bay lượn tuyệt đẹp của con chim Grưh Khi lễ hội được mở ra, hoặc trong nghi thức thực hành văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc thì những điệu múa ấy được gái trai, già trẻ thực hiện.Nghệ sĩ Nhân dân đầu tiên của vùng đất Tây Nguyên là cụ Y Brơm (người Bana) đã kế thừa và sáng tạo nên những tác phẩm múa hiện đại, tiêu biểu như “Múa trống Tây Nguyên”, “Múa khiên”, “Múa giã gạo đêm trăng”… được công chúng yêu nghệ thuật trong nước và bạn bè quốc tế đón nhận, ái mộ.
Lễ hội đua voi ở Tây Nguyên
Đây là một trong những lễ hội Tây Nguyên hấp dẫn, thu hút nhất của Bản Đôn với nhiều hoạt độnggiải trí đặc sắc Một số tiết mục tiêu biểu có thể kể đến như: lễ cúng cầu cho voi mạnh khỏe, lễ cúngbến nước, lễ hội đâm trâu (hay lễ ăn trâu mừng mùa), voi thi chạy, voi đá bóng, voi bơi vượt sông
Sê rê pôk, lễ cúng lúa mới mừng được mùa hội thi văn hoá ẩm thực các dân tộc và hội thi giã gạo…
Lễ hội mừng năm mới tổ chức hàng năm vào tháng 12 sau khi thu hoạch lúa nương là dịp đồng bào
ăn mừng vụ mùa Đây là lễ hội mang đậm nét văn hóa cộng đồng của các dân tộc Tây Nguyên
Lễ Bỏ Mả: Các dân tộc Tây Nguyên tổ chức Lễ Bỏ Mả cho người chết sau từ 1 – 3 năm Lễ Bỏ Mả
diễn ra từ tháng 1 đến tháng 3 hàng năm, sau khi thu hoạch vụ mùa xong, thời tiết mát mẻ, hoa rừngnở rộ
Lễ hội Cồng chiêng Tây Nguyên Cồng chiêng Tây Nguyên gắn bó với cuộc sống người dân Tây
Nguyên từ ngàn đời nay, là bằng chứng độc đáo, là nét đặc trưng của truyền thống văn hóa các dân
Trang 36tộc Tây Nguyên Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên Việt Nam đã được UNESCO côngnhận là kiệt tác di sản phi vật thể nhân loại năm 2005.
2 Tập tục, tín ngưỡng
Phong Tục
Tục bắt chồng của người J'RAI
Đồng bào J'Rai có một nguyên tắc bất thành văn là người con gái không được "bắt chồng" cùng họvới mình Theo tín ngưỡng của mình, người J'Rai cho rằng những người cùng họ là cùng huyếtthống, nếu lấy nhau sẽ bị Yàng trừng phạt thường xuyên ốm đau hay không có con cái Người J'Raitheo chế độ mẫu hệ do đó thay vì người nam đến hỏi cưới như văn hóa người Kinh thì người J'Railại ưu tiên quyền đó cho phụ nữ
Ngoài ra, tục "nối dây" sau "bắt chồng" của người J'Rai cũng khiến nhiều người cảm thấy ngạcnhiên Theo tục này, nếu chẳng may người vợ chết sớm, em gái của vợ sẽ "nối dây", thay chị làm
vợ và có trách nhiệm quán xuyến gia đình Ngược lại, nếu người chồng chết thì người vợ đượcquyền tiếp tục "bắt chồng" ở nơi khác ngoại trừ em trai chồng
Tục Đi Chợ Phiên Tắc Bắc Cuối Tuần Của Người Tây Nguyên
Như một nét không gian Tây Bắc thu nhỏ, chợ phiên Đắk R’Măng ngập tràn phong vị cộng đồngngười Mông Cảnh mua bán diễn ra nhẹ nhàng, không mặc cả như các chợ khác chốn thị thành.Cũng như các phiên chợ của người Mông ở phía Bắc, đồng bào Mông ở Tây Nguyên cũng đến chợđể gặp gỡ, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, trai gái đến tuổi cập kê hò hẹn
Chợ họp từ 7h sáng, đông nhất từ 11-12h trưa Chợ phiên đông vui tấp nập nhất là vào ngày cuốinăm và dịp đầu xuân năm mới, bởi người dân mua sắm nhiều, hàng hóa phong phú, nhiều nhất làquần áo thổ cẩm Những thứ khác có thể mua ở bất cứ đâu, riêng quần áo truyền thống rất hiếm nơibày bán vì giá cao, ít người mua
Tục thờ cúng thần linh của người Mơ Leng
du lịch Tây Nguyên- Từ lâu, con cháu người Mơ Leng (dân tộc Chứt) luôn tâm niệm giống nòi củamình được thai nghén từ Đất và Trời Chính Đất và Trời cũng là chủ nhân ban phát vạn vật, cỏ cây,chim trời, cá biển cho họ thụ hưởng Cũng bởi quan niệm này, nên họ hết sức quan tâm tới tục lệthờ cúng với hi vọng đất trời sẽ ban phát cho họ bình yên và may mắn
Tục “cưới nợ”
Những thiếu nữ đến tuổi cập kê rạo rực chuẩn bị sính lễ cho mùa “bắt chồng” Những bó củi đượcxếp dưới sàn nhà hay bên góc sân là sính lễ của cô gái Gia Rai đi bắt chồng khi người con trai đồngthuận thì cặp trai gái ấy sẽ tìm hiểu rồi yêu nhau Chàng trai sẽ làm một chiếc vòng cầu hôn để minhchứng cho tình yêu nồng nàn cho cô gái
Trang 37Đối với người Gia Rai, những thanh củi mang một sức mạnh huyền bí, vừa mang ý nghĩa kết nối lạivừa mang một quy ước, một lời thề ngầm về hạnh phúc gia đình Ở buôn làng người Gia Rai bâygiờ, tục lấy củi cầu hôn còn ít nhưng bà con vẫn duy trì phong tục lấy củi vì đối với dân tộc Gia Raithì bếp lửa không thể thiếu trong nhà Nhưng bà con chỉ lấy những cành cây khô, gãy rụng trên rừngchứ không chặt cây rừng.Đám cưới của người Gia Rai tưởng chừng rất đơn giản, không tốn kém.Có bữa tiệc cưới chỉ cần 1 con gà, 1 ghè rượu thế là cô dâu chú rể đã được hai họ công nhận vợchồng nhưng đó chỉ là cô dâu nghèo được “nợ cưới” khi bắt chồng Khi nào gia đình cô dâu có điềukiện thì phải trả nợ cho họ nhà trai và dân làng một đám cưới chính thức.
Phận kèo dưới của trai buôn
Cộng đồng dân tộc Tây Nguyên mang đậm chế độ mẫu hệ, lễ hỏi chồng của đồng bào Ê Đê còn duytrì phổ biến hầu khắp các buôn làng Là thân trai được vợ cưới thì suốt đời ở nhà vợ Được vợ cướivề mà làm điều sai trái có lỗi bị vợ đuổi ra khỏi nhà phải răm rắp khăn gói ra đi
Các tín ngưỡng ở Tây Nguyên
Người Xê Đăng có khái niệm gọi thần Yàng, là bốc, là dạ Những cách gọi phổ biến, rộng rãi nhấtlà Kia hoặc Kiếc dùng để chỉ các vị thần Trong nghi lễ thờ cúng, người Xê Đăng coi trọng nhất làông trời, thần sấm sét (Chư drai) hay thần lúa (Xri)
Người Ba Na, Yàng được gọi một cách tôn kính là ông bốc (Bok), bà dạ (Yã) Trong đó Bốc KơiĐơi, Dạ Cung Ké được coi là hai vị thần quan trọng nhất, là những vị thần sáng tạo ra vũ trụ vàmuôn loài Bên cạnh đó,người Băh nar còn thờ kính các vị thần như Bốc Kla (thần Cọp), Dạ Nôn(bà thiện), Dạ Cầu (bà ác), Yàng Đăk (thần nước), Yàng Kông (thần núi)
Ở người Jrai cũng có rất nhiều thần linh được đồng bào coi trọng như thần nhà (Yàng Seng), thầnlàng (Yàng Alabôn), thần nước (Yàng Pênla) Đồng bào quan niệm đó là những vị thần gần gũivới người dân có nhà ở, giúp người dân có nhà ở, bảo vệ mùa màng, làng mạc Ngoài ra, ngườiJrai còn thờ cúng các vị thần khác vào những ngày lễ như thần đất, thần sét
Trong tín ngưỡng thờ thần, người Giẻ Triêng chưa có sự đồng nhất giữa các cách gọi để phân biệtgiữa đâu là thần, thánh và ma quỷ Nhìn chung, tín ngưỡng đang còn nằm ở dạng đa thần Tuỳ vàotừng nơi, bản làng mà người gọi Yàng hoặc Năm để chỉ đến lực lượng siêu nhiên nào đó liên quanđến đời sống của họ
Ở người Brâu, dù là một dân tộc có số lượng ít nhất so với các dân tộc khác ở Kon Tum nhưng tínngưỡng thờ thần thì rất phong phú và đa dạng như thần mặt trời (Yàng mắt ngay), thần rừng (YàngBri), thần nước (Yàng đúc)
Có thể nói, thế giới tâm linh của các dân bản rất phong phú, đa dạng Thế giới đó đã tác động mạnh
mẽ đến đời sống của đồng bào nơi đây Chính những yếu tố đó đã chi phối đến cách ứng xử của họđối với cộng đồng
Trang 38Thuận lợi:
Vùng đất với những ưu đãi đặc biệt của thiên nhiên về đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng, rất thích hợptrồng cây công nghiệp lâu năm Tây Nguyên là vùng có khí hậu ôn đới, mát mẻ quanh năm, là điềukiện tự nhiên lý tưởng để xây dựng các khu du lịch được thiên nhiên ưu đãi nhiều danh lam thắngcảnh nổi tiếng, núi, cao nguyên, sông suối, thác nước, hồ…
Tây Nguyên còn có tiềm năng thủy điện, điện mặt trời, điện gió rất lớn Theo quy hoạch thủy điệntrên bậc thang các sông Sê San, Sêrêpôk và Đồng Nai Đời sống người dân đang được cải thiện, xâydựng nông thôn mới
Vùng Tây Nguyên có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng an ninh đối vớicả nước và khu vực Đông Dương Nằm ở khu vực ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia
Hạn chế:
Ở Tây Nguyên, vào mùa khô thiếu nước trầm trọng không đủ để phục vụ tưới tiêu và sinh hoạt,nguy cơ cháy rừng cao Địa hình cao nguyên xếp tầng, gây khó khăn trong việc đi lại và sản xuất.Hiện tượng chặt phá rừng bừa bãi mang lại hiệu quả xấu cho môi trường
Là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc ít người, là vùng thưa dân nhất nước ta Đời sống dân cư cònnhiều khó khăn,lạc hậu và đang cải thiện Ngành công nghiệp chế biến nông sản còn kém phát triển,mạng lưới giao thông chưa phát triển
VÙNG VĂN HÓA ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
(VẬT CHẤT)
1 KHÁI QUÁT VÙNG VĂN HÓA
1.1 Đặc điểm địa lý, lịch sử, dân cư
1.1.1 Đặc điểm địa lý
Đồng bằng bắc bộ là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu sông
Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam, vùng đất bao gồm 11 tỉnh và thành phố Phía bắc và đông bắc làVùng Đông Bắc (Việt Nam), phía tây và tây nam là vùng Tây Bắc, phía đông là vịnh Bắc Bộ vàphía nam vùng Bắc Trung Bộ Đồng bằng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ các thềm phù
sa cổ 10 - 15m xuống đến các bãi bồi 2 - 4m ở trung tâm rồi các bãi triều hàng ngày còn ngập nướctriều
Địa hình tương đối bằng phẳng với hệ thống sông ngòi dày đặc đã tạo điều kiện thuận lợi đểphát triển hệ thống giao thông thuỷ bộ và cơ sở hạ tầng của vùng
Trang 39Về khí hậu: Vùng Bắc bộ thật độc đáo, khá hẳn những đồng bằng khác Bắc bộ có 1 mùa đôngthực sự với 3 tháng có nhiệt độ trung bình dưới 18 độ C, do đó mà có dạng khí hậu bốn mùa vớimỗi mùa tương đối rõ nét, khiến vùng này cấy được vụ lúa ít hơn các vùng khác Hơn nữa khí hậuvùng này lại rất thất thường: Gió mùa đông vừa lạnh vừa ẩm; gió mùa hè nóng và khô.
Hệ thống sông ngòi tương đối phát triển Tuy nhiên về mùa mưa lưu lượng dòng chảy quá lớncó thể gây ra lũ lụt, nhất là ở các vùng cửa sông khi nước lũ và triều lên gặp nhau gây ra hiệntượng dồn ứ nước trên sông
1.1.2 Đặc điểm lịch sử
Dựa vào những điều kiện tự nhiên thuận lợi và các thành tựu kinh tế đạt được , những cư dânvùng châu thổ sông Hồng , sông Mã , sông Cả được gọi chung là cư dân người Việt cổ ; đã phát huysức lao động và óc sáng tạo của mình để đẩy nhanh sự phát triển của xã hội , vượt qua những hạnchế thời nguyên thủy và đã đạt đến thời đại văn minh vào các thế kỷ V || - Vì TCN nền văn minh đóđược mệnh danh là nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc Vùng văn hóa Bắc Bộ là vùng đất lịch sửlâu đời nhất của dân tộc Việt Nam , là quê hương của các nền văn hóa nền văn hóa Đông Sơn , nềnvăn hóa Đại Việt Vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ cũng là nơi bắt nguồn của văn hóa Trung Bộ vàNam Bộ ; đây cũng là cái nôi hình thành văn hóa , văn minh người Việt từ buổi ban đầu cho đếnhiện tại cũng là vùng văn hóa bảo lưu được nhiều giá trị truyền thống trên đường đi tới xây dựngnền văn hóa hiện đại , đậm đà bản sắc dân tộc
1.1.3 Đặc điểm dân cư
Dân số khu vực Đồng bằng sông Hồng hiện nay là 22 543 607 (1/4/2019) chiếm khoảng 22%tổng dân số cả nước, bình quân khoảng 1.060 người trên 1 km vuông Đây là vùng có mật độ dân sốcao nhất cả nước Đa số dân số là người Kinh, một bộ phận nhỏ thuộc Ba Vì (Hà Nội) và NhoQuan (Ninh Bình) có thêm dân tộc Mường
- Dân cư đông nên có lợi thế: Có nguồn lao động dồi dào, nguồn lao động này có nhiều kinhnghiệm và truyền thống trong sản xuất, chất lượng lao động cao Tạo ra thị trường có sức mua lớn.Tuy nhiên lại gây sức ép lớn cho tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm, xuất hiện nhiều vấn đề về chỗ ở,việc làm, tỉ lệ phạm luật và tệ nạn xã hội cao
- Có lịch sử khai phá lâu đời, là nơi tập trung nhiều di tích, lễ hội, làng nghề truyền thống… với 2trung tâm KT-XH là Hà Nội và Hải Phòng
1.2 Đặc điểm văn hóa vùng
1.2.1 Văn hóa ẩm thực
- Dựa vào từng thờ kì trong lịch sử mà ta thấy được đặc trưng ẩm thức của từng thời kì khácnhau Vào thời kì vua Hùng, Bắc bộ là nơi ghi dấu ấn lịch sử xưa nhất của dân tộc Việt Nam Bởi
Trang 40văn hoá ẩm thực thời kì này chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn minh lúa nước, sử dụng lúa gạolàm thực phẩm chính trong các bữa ăn nên các món ăn đặc trưng phải kể đến như: bánh chưng,bánh dày, Tiếp vào thời kỳ Bắc Thuộc, nước ta lại chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Trung Hoa cóthể kể đến cách sử dụng đa dạng các loại gia vị để chế biến các món ăn, các món được chế biến cầukì theo nhiều kiểu: chiên, hấp, luộc, xào, Tiếp theo, thời Pháp, khi Pháp xâm lược nước ta 2 lần,văn hoá ẩm thưucj nước ta cũng chịu không ít ảnh hưởng của người Pháp, nước ta được du nhậpvào phải kể đến là bánh mì, các loại súp, bánh flan,
- Cư dân Bắc bộ là cư dân sống với nghề trồng lúa nước, làm nông nghiệp một cách thuầntuý Biển và rừng bao bọc quanh đồng bằng Bắc Bộ, nghề khai thác hải sản không mấy phát triển.Ngược lại, Bắc bộ là châu thổ có nhiều sông ngòi, mương máng nên người dân chài trọng về việckhai thác thuỷ sản Tận dụng ao hồ, đầm để khai thác Vẫn như mô hình của người Việt trên cácvùng đất khác: rau+cơm+cá, nhưng cá ở đây là chủ yếu hướng tới các loại các nước ngọt Các làngở sâu trong đồng bằng hải sản chưa phải là thức ăn chiếm ưu thế Thích ứng với khí hậu ở châu thổBắc bộ người dân nơi đây chú ý tăng thành phần thịt và mỡ để giữ nhiệt cho cơ thể Tính chất cay,chua, đắng thường có mặt quen thuộc với Nam bộ và Trung bộ nhưng lại không quen thuộc với Bắcbộ
- Đặc trưng về nguyên liệu: Vùng đồng bằng Bắc bộ, người dân sử dụng rất nhiều món rauđược canh tác như rau muống, bầu và các loại rau cải, các loại lúa gạo và hải sản nước ngọt Nhìnchung do truyền thống xa xưa nền nông nghiệp nghèo nàn, ẩm thực miền Bắc ít thịnh hành với cácmón ăn nguyên liệu chính là thịt cá Tuy nhiên, chính các loại gia vị đã làm nên tên tuổi ẩm thực xứkinh kì Món ăn miền Bắc có vị thanh, không nồng, không gắt Đặc biệt, trong các món ăn thườngtuân theo quy luật âm dương ngũ hành nên thường dịu nhẹ, hài hoà
- Đặc trưng về chế biến: Ẩm thực Bắc bộ cũng giống như cac nền ẩm thực đèu chịu ảnhhưởng dù ít hay nhiều của quy luật âm dương ngũ hành Ta có thể thấy từ cách sắp xếp các món ăntrong một mâm cơm Các món ăn được đặt trong một măm tròn và có nhiều món ăn với các màusăc khác nhau Ví dụ như mâm ngũ quả ngày Tết, trên mâm có năm loại quả khác nhau với nămmàu sắc khác nhau
- Tóm lại, với sự phong phú đặc trưng về nguyên liệu và cách trang trí theo nguyên tắc âmdương ngũ hành, ẩm thực đất kinh kì phương Bắc không chỉ để lắp dạ dày mà còn là để thoã mãncác giác quan của người thưởng thức
- Các món ăn đặc trưng: Bánh đa cua Hải Phòng; Bánh đậu xanh Hải Dương; Cốm vòng HàNội; Chả mực Hạ Long; Bánh cáy Thái Bình