LỊCH SỬ VĂN THƯ LƯU TRỮ VIỆT NAM Đề bài: Các nhận định sau đúng hay sai? Giải thích?1. Chiến tranh là nguyên nhân gây ra việc tổn thất tài liệu giai đoạn trước triều Nguyễn.2. Các triều đại phong kiến coi trọng việc kiêng chữ húy viết trong văn bản.3. Quốc hiệu là thành phần thể thức bắt buộc trên văn bản thời phong kiến.4. Nội các dưới triều vua Minh Mạng do 3 cơ quan hợp thành.
Trang 1LỊCH SỬ VĂN THƯ – LƯU TRỮ VIỆT NAM
1 Chiến tranh là nguyên nhân gây ra việc tổn thất tài liệu giai đoạn trước triều Nguyễn.
Nhận định trên là đúng
Vì: Lịch sử nước ta kể từ khi Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán lập nên nhà nước độc lập tự chủ đầu thế kỷ X cho đến lúc triều đại Tây Sơn bị Nguyễn Ánh lật đổ vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, có biết bao cuộc chiến tranh xâm lược do các triều đại phong kiến Trung Hoa ở phía Bắc và cả Chiêm Thành ở phía Nam gây ra Mỗi lần xảy ra binh đao thì tài liệu, thư tịch cất giữ ở các nha môn và trong dân chúng đều ít nhiều bị tổn thất Hoặc do quân xâm lược cướp mang về nước, hoặc bị đốt phá hủy hoại cùng với công đường, dinh thự, kho tàng Theo sử sách, tài liệu, thư tịch bị tổn thất nhiều nhất là đầu thế kỷ XV, khi đất nước bị quân Minh xâm chiếm Nhằm nô dịch và đồng hóa nhân dân ta, vua Thành Tổ nhà Minh đã nhiều lần ra lệnh cho các tướng sĩ cướp mang về nước mọi thư tịch, tài liệu; trường hợp không thể mang về thì đốt hủy tất cả
Toàn thư đã ghi chép như sau: “Mùa thu, tháng 7 năm Mậu Tuất (1418), nhà Minh sai hành nhân Hạ Thanh, tiến sĩ Hạ Thì sang thu lấy các loại sách ghi chép về sự tích xưa nay của nước ta”
Năm 1371, cuộc tiến công vào kinh thành Thăng Long của quân Chiêm Thành đã đốt hủy rất nhiều nhà cửa, kho tàng, cung điện; toàn bộ thư tịch, sổ sách bảo quản ở đây đều trở thành tro bụi
Trang 2Ở lời tựa Văn tịch chí trong tác phẩm Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, ông đã không khỏi ngậm ngùi, nuối tiếc bởi những tổn thất to lớn về tài liệu, thư tịch:
“Nhưng trải qua bao cuộc bể dâu, nhiều phen binh lửa, như cuối đời Trần bị nạn giặc Minh, thư tịch đã mất một lần trước, khi nhà Nhuận hồ thất thủ, tướng Minh là Trương Phụ lấy cả sách vở cổ kim đem về Kim Lăng, đầu nhà Lê lại loạn Trần Cảo, thư tịch lại tan nát một lần sau; cuối năm Hồng Thuận, Trần Cảo làm loạn kinh thành bị mất, nhân dân tranh nhau vào nơi cung cấm, dinh thự lấy tiền của, văn thư, sách vở ném ra đầy đường Từ Trung hưng về sau, tuy đã cố tìm tòi, nhưng sau khi đã tàn mát đi thu thập lại được cũng khó Nội các thì không có kho sách riêng, sử thư lại không chép văn tịch, khiến cho điển cố các triều đều không còn nữa, người muốn khảo cổ vì thế phải phàn nàn và rất tiếc”
Nguồn: Nguyễn Văn Thâm (2010), Lịch sử Lưu trữ Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tr.67-68.
2 Các triều đại phong kiến coi trọng việc kiêng chữ húy viết trong văn bản.
Nhận định trên là đúng
Vì: Kể từ triều Trần, các hoàng đế đều yêu cầu khi soạn thao văn bản không được để phạm húy, tức không được viết những chữ mà vua cấm như tên vua, tên cha mẹ vua, tên hoàng hậu, hoàng thái tử,…, khi viết phải viết ra chữ khác hoặc
bỏ bớt nét, khi đọc cũng phải đọc chệch sang chữ khác
Theo Toàn thư, mùa hạ tháng 6 năm Nhâm Thìn (1232),
Trần Thái Tông “ban bố chữ quốc húy và miếu húy Vì nguyên tổ tên là Lý mới đổi triều Lý làm triều Nguyễn, vả lại cũng để dứt
bỏ lòng mong nhớ của dân chúng đối với nhà Lý”
Trang 3Ngày 7 tháng 2 năm Giáp Ngọ (1294), khi Trần Anh Tông lên ngôi vua đã "công bố các chữ quốc húy: chữ húy của vua là Thuyên, của Nhân Tông là Khâm, của Thánh Tông là Hoàng, của Thái Tông là Cảnh, của Thái Tổ là Thừa, của Nguyên Tổ là Lý; các chữ nội húy: Thánh Từ hoàng hậu là Phong, Thuận Từ hoàng hậu là Diệu, Hiển Từ hoàng hậu là Oanh, Nguyễn Khánh hoàng hậu là Hâm"
Vua Thái Tổ triều Lê ngay sau khi lên ngôi, ngày 20 tháng
4 năm Mậu Thân (1428) cũng đã “ban các chữ húy Tông miếu
và các chữ húy tên vua Tất cả các chữ húy chính khi viết không được dùng, nếu đồng âm mà khác chữ thì không phải húy” Khi phạm húy sẽ bị phạt trượng hoặc xử tội xuy, tội lưu, tử hình
Dưới triều Nguyễn, các quy định về kỵ húy lại càng chặt chẽ và cụ thể hơn, Năm Gia Long thứ 2 (1803), nhà vua đã sai
bộ Lễ gửi chữ húy cho khắp trong, ngoài: “Phàm tên người, tên đất giống chữ thì đổi đi, hành văn thì tùy theo ý nghĩa mà thay chữ khác" Trong thời gian trị vì đất nước, Minh Mạng đã 5 lần, Thiệu Trị 8 lần và Tự Đức 4 lần ra chỉ dụ về kiêng húy Luật pháp triều Nguyễn xử phạt khá nặng đối với những văn bản dâng lên nhà vua và các văn bản, giấy tờ khác phạm húy
Đối với các văn thu ngoại giao của nước ta gửi cho các vương triều Trung Quốc, khi soạn thảo cũng phải chú ý tuân theo tục lệ kiêng huý của họ
Luật phạm húy cũng được áp dụng cả trong thi cử Bài thi của các sĩ tử nếu phạm húy thì sẽ tùy theo mức độ nặng nhẹ để trừ điểm hoặc đánh trượt
Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, như biên chép tôn phả, ngọc điệp thì không phải máy móc kiêng kỵ Vì
Trang 4các hoàng đế triều Nguyễn đã có nhận thức rất đúng rằng, đó
là những tài liệu "ghi chép sự thực cho đời sau" Do vậy cho phép "hễ gặp chữ húy các miếu được cho viết đúng mặt chữ, không cần ghi là bên tả bộ gì, bên hữu chữ gì"
Nguồn: Vương Đình Quyền (2002), Văn bản quản lý nhà nước và công tác văn thư thời phong kiến Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, tr.129-133.
3 Quốc hiệu là thành phần thể thức bắt buộc trên văn bản thời phong kiến.
Nhận định trên là đúng
Vì: Việc ghi Quốc hiệu, đô hiệu, niên hiệu và thời gian ban hành trên văn bản đã được các triều đại quy định khá chặt chẽ, xem đây là yếu tố thông tin đảm bảo hiệu lực thi hành của văn bản
Toàn thư chép, tháng tư năm Mậu Thân (1428), Lê Thái Tổ
ngay sau khi lên ngôi đã xuống chiếu rằng: “Từ sau ngày chiếu thư ban ra, nếu quân hay dân có dâng thư nói việc gì thì phải theo đúng Quốc hiệu, đô hiệu, niên hiệu như trong chiếu thư, ai trái thế thì phải xử phạt trượng hay biếm chức; những giấy tờ, văn khế, khoán ước về mua bán, đổi chác, vay mượn mà không theo đúng như trong chiếu thì sẽ không có giá trị”
Dưới triều Nguyễn, các hoàng đế Gia Long và Minh Mạng
đã biểu thị một quan điểm đúng đắn và rõ ràng về vấn đề này Tháng 2 năm Giáp Tý (1804), Gia Long đặt Quốc hiệu là Việt Nam Ngày Đinh Sửu, nhà vua xuống chiếu bố cáo trong ngoài:
“Đế vương dựng nước trước hết phải trọng quốc hiệu để tỏ rõ sụ nhất thống… Sau nghĩ tới mưu văn công võ, ở ngôi chính, chịu mệnh trời, nên định lấy ngày 17 tháng 2 năm nay kính cáo Thái miếu, cải chính quốc hiệu là Việt Nam để dựng nền lớn, truyền
Trang 5lâu xa Phàm công việc nước ta, việc gì quan hệ đến quốc hiệu
và thư từ báo cáo với nước ngoài, đều lấy Việt Nam làm tên nước, không được xưng hiệu cũ là An Nam nữa”
Năm 1838, sau khi quyết định đổi tên nước thành Đại Nam, Minh Mạng đã ra sắc chỉ nhấn mạnh: việc ghi Quốc hiệu lên văn bản là vấn đề hệ trọng có liên quan đến quốc thể, từ nay quốc hiệu phải gọi là Đại Nam, mọi văn bản, giấy tờ đều phải ghi như vậy”
Nguồn: Vương Đình Quyền (2002), Văn bản quản lý nhà nước và công tác văn thư thời phong kiến Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia,
tr.102-104
4 Nội các dưới triều vua Minh Mạng do 3 cơ quan hợp thành.
Nhận định trên là sai
Vì: Năm 1829, Minh Mạng cải tổ Văn thư phòng thành Nội các nhằm nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa cơ quan giúp việc vua, kiểm soát chặt chẽ hơn hoạt động của bộ máy nhà nước
và tập trung quyền lực vào nhà vua Nội các được tổ chức một cách quy củ, chia thành 4 tào (giống như vụ, ban thuộc Văn phòng Chính phủ ngày nay) với chức năng nhiệm vụ được quy định rõ ràng:
1 Tào Thượng bảo: có nhiệm vụ bảo quản các con dấu
của nhà vua (kim ngọc bảo tỷ); trông coi việc khắc đúc các ấn triệu quan phòng, đồ, kiểm, ký của các nha môn, soạn thảo chiếu, dụ, sắc,…; quản lý các bản sao (phó bản) và bản chính (hồng bản, tức bản có chữ phê bằng bút son của vua); sao lục các văn bản đã được phê chuẩn và chuyển giao cho các nha môn hữu quan; chuyển giao bản chính đã được châu phê cho Tào Biểu bạ để lưu trữ
Trang 62 Tào Ký chú: có nhiệm vụ ghi chép những câu nói và
sự đi đứng của vua khi vua ngự điện nghe chầu, thiết triều, tuần du; nhũng chương sớ, tấu nghị của cácquan dâng lên cũng đều phải ghi chép; chuẩn bị nghiên bút cho nhà vua; theo dõi việc học tập của các hoàng tử và việc kê đơn thuốc của Thái y viện
3 Tào Đồ thư: Có nhiệm vụ sao chépthi văn, ngự chế
của nhà vua để khắc in; bảo quản sách vở, bản đồ của nhà nước, văn thư bang giao với nhà Thanh
4 Tào Biểu bạ: Chuyên trách lưu trữ tài liệu hình thành
trong hoạt động của nhà vua và Nội các do Tào Thượng bảo và Tào Ký chú giao nộp hàng tháng
Nguồn: Nguyễn Văn Thâm (2010), Lịch sử Lưu trữ Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tr.74-75.