Mục đích của bài này là chỉ ra bằng cách nào các nhà quản lý của các hãng định giá có đường cầu dốc xuống có thể xác định được giá cả, sản lượng và sử dụng đầu vào nhằm tối đa hóa lợi nh
Trang 1PHẦN 1 GIỚI THIỆU CHUNG
Từ nhiều năm nay, phần lớn các nhãn hiệu cà phê danh tiếng đều được bán tại các quầy tạp hóa với giá cả không khác biệt nhiều so với giá cả của các loại cà phê thông thường khác Thậm chí, với chi phí quảng cáo khổng
lồ của hãng sản xuất cà phê có nhãn hiệu “Folgers and Maxwell House”, nhà sản xuất cũng thất bại trong việc tạo nên nhãn hiệu cà phê thu hút được nhiều khách hàng trung thành trong số những người uống cà phê Người mua xem
cà phê như một hàng hóa được tiêu chuẩn hóa, với rất ít sự khác biệt giữa các sản phẩm cà phê, người bán tự nhận thức được họ là những người chấp nhận giá, và những nhà đầu tư thấy rất ít triển vọng giành được lợi nhuận trong dài hạn đối với việc bán lẻ cà phê Tuy nhiên, những điều này
đã thay đổi khi Starbuck đã thành công trong việc tạo ra cho cà phê hương vị mới Không chỉ các cửa hàng cà phê Starbuck đó thu được mức lợi nhuận cao mà nhiều công ty
cà phê khác cũng đó thu được lợi nhuận cao rất nhiều khi
họ bắt chước hương vị mới đầy sáng tạo của Starbuck Ví
dụ, Maxwell House cung cấp các nhãn hiệu Master Blend, Columbian Supreme, Rich french Road và Italian Espresso Roast Giờ đây, thay vì là những người chấp nhận giá, các hãng cung cấp các nhãn hiệu cà phê danh tiếng có được sức mạnh đáng kể trong việc định giá nhờ thành công khi đầu tư vào việc tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm của mình Thay vì có đường cầu nằm ngang, hoàn toàn co dãn, các hãng cung cấp các nhãn hiệu cà phê danh tiếng giờ đây đối mặt với những đường cầu dốc xuống, những đường cầu đưa lại cho họ sức mạnh thị trường trong việc định giá cà phê của họ cao hơn các nhãn hiệu cà phê thông thường Mục đích của bài này là chỉ ra bằng cách nào các nhà quản lý của các hãng định giá có đường cầu dốc xuống có thể xác định được giá cả, sản lượng và sử dụng đầu vào nhằm tối
đa hóa lợi nhuận của hãng, nó cũng miêu tả một vài cách
đo lường sức mạnh thị trường rõ ràng và cụ thể như là những thuật ngữ chung chung như nhiều hay hạn chế Cho
Trang 2dù hãng có bao nhiêu sức mạnh thị trường, thì mục tiêu chính của người quản lý là tối đa hóa lợi nhuận Phần lớn bài này sẽ được dành cho lý thuyết về độc quyền…
Để có thể hiểu rõ hơn nữa về vấn đề này thì nhóm chúng em sẽ bàn luận sâu hơn về bài luận dưới đây về thị trường độc quyền thuần tuý
PHẦN 2 LÝ THUYẾT VỀ
THỊ TRƯỜNG ĐỘC QUYỀN BÁN THUẦN TÚY
1 Khái niệm
Thị trường độc quyền bán thuần túy (độc quyền bán) là thị trường mà trong đó chỉ có duy nhất một doanh nghiệp cung ứng toàn bộ hàng hóa hay dịch vụ trên thị trường
Doanh nghiệp cung ứng duy nhất này được gọi là doanh nghiệp độc quyền bán.
Đường cầu của nhà độc quyền là đường thẳng dốc xuống
Đường cung là đường thẳng dốc lên
2 Các đặc trưng của thị trường độc quyền bán thuần túy
Thứ nhất,chỉ có một người bán duy nhất cung ứng toàn
bộ sản phẩm trên thị trường
Thứ hai, sản phẩm hàng hóa trên thị trường này không
có hàng hóa thay thế gần gũi Doanh nghiệp độc quyền bán sẽ là người ấn định giá
Thứ ba, có rào cản lớn về việc gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường
3 Nguyên nhân dẫn đến độc quyền
3.1 Đạt được tính kinh tế nhờ quy mô
Chi phí bình quân dài hạn (LAC) sẽ giảm xuống, dễ mở rộng sản lượng, dễ loại bỏ đối thủ, Một hãng mới muốn gia nhập kiểu thị trường này phải có quy mô sản xuất lớn
để giữ cho chi phí của hãng thấp như chi phí của hãng có quy mô lớn hay các hãng hiện đang hoạt động trên thị trường
Trang 33.2 Bằng phát minh sáng chế (bản quyền)
Những đạo luật, quy định về các bằng phát minh, sáng chế khiến cho một người có thể nộp đơn và có được toàn quyền sản xuất một hàng hóa nhất định, hoặc sản xuất một loại hàng hóa theo một quy trình đặc biệt mà chính quy trình này sẽ tạo ra lợi thế về chi phí tuyệt đối
3.3 Kiểm soát các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
Một lý do quan trọng mà các hãng có sức mạnh thị trường là nó kiểm soát được việc cung ứng các nguyên liệu thô Nếu một hãng( hoặc một vài hãng) kiểm soát tất cả nguồn cung đã được biết đến của một nguyên liệu cần thiết
để sản xuất ra một hãng nhất định, thì hãng (hay các hãng)
có thể từ chối bán các nguyên liệu đó cho các hãng khác với một mức giá đủ thấp để các hãng đó có thể cạnh tranh Khi không một hãng nào có thể sản xuất sản phẩm, độc quyền là kết quả tất yếu
3.4 Do quy định của chính phủ
Việc cấp phép và quyền được cấp phép kinh doanh là những cách mà độc quyền được tạo ra bởi các quy định của chính phủ Ví dụ: những giấy phép chính phủ cấp cho các trạm phát thanh, truyền hình và chỉ những trạm có giấy phép mới được phép hoạt động
3.5 Sự gia nhập hay sự gia nhập tiềm năng của các hãng mới vào thị trường
Đây là điều có thể làm suy yếu sức mạnh thị trường của các hãng đang hoạt động khi nó làm tăng số lượng hàng hóa thay thế Rào cản lớn ngăn cản gia nhập thị trường sẽ cản trở việc giới thiệu các sản phẩm mới, thay thế và bảo vệ lợi ích của các hãng đang hoạt động trên thị trường để các hãng đang tồn tại duy trì thế lực độc quyền
3.6 Sự trung thành với thương hiệu
Xét về khía cạnh cầu, các hãng đang hoạt động có thể xây dựng được, cùng với thời gian, lòng trung thành của khách hàng của họ Các hãng mới gia nhập sẽ phải rất khó khăn khi muốn vượt qua được sự trung thành đó
3.7 Trói buộc người tiêu dùng
Trang 4Đối với nhiều hàng hóa và dịch vụ, người tiêu dùng có thể thấy việc chuyển sang sử dụng các nhãn hiệu khác là rất tốn kém – cả chi phí cho nhãn hiệu đang sử dụng và nhãn hiệu mới Một trong số những loại chi phí chuyển đổi người tiêu dùng phải gánh chịu bao gồm những chi phí như phí cài đặt hay phí sử dụng lần đầu, chi phí cho việc tìm kiếm để biết về sự sẵn có và giá cả của các sản phẩm thay thế, chi phí để học cách sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ mới Khi chi phí chuyển đổi cao khiến cho việc thay đổi các quyết định tiêu dùng trước kia trở nên tốn kém, cá đối thủ không tin rằng họ có thể thuyết phục nhiều người tiêu dùng, thay đổi quyết định tiêu dùng của họ Tình huống như vậy được gọi là sự trói buộc người tiêu dùng
Sự trói buộc người tiêu dùng, dĩ nhiên, ngăn cẳn một hãng mới gia nhập một thị trường đầy lợi nhuận và do vậy bảo vệ hãng đang hoạt động khỏi sự cạnh tranh
3.8 Hiệu ứng mạng lưới
Hiệu ứng mạng lưới có thể tạo ra khó khăn cho hãng mới gia nhập thị trường khi mà những hãng đang hoạt động thiết lập được một mạng lưới những khách hàng đông đảo Hiệu ứng mạng lưới xảy ra khi giá trị của một sản phẩm đối với người tiêu dùng càng tăng khi số lượng người mua và sử dụng sản phẩm đó càng nhiều Khi càng nhiều người mua một loại hàng hóa, thậm chí khi mà có càng nhiều người thấy hàng hóa đó đáng để mua và một ảnh hưởng tăng trưởng nhanh có thể đưa sản phẩm tới vị thế độc quyền, khiến cho những hàng muốn gia nhập thị trường là cực kỳ khó khăn, nếu không muốn nói là không thể
4 Đường cầu và đường doanh thu cận biên của
doanh nghiệp độc quyền bán thuần tuý
Để phân tích quyết định sản lượng và giá bán của doanh nghiệp độc quyền để tối đa hoá lợi nhuận, trước tiên chúng ta phải đi phân tích về đường cầu và đường doanh thu cận biên đối với doanh nghiệp độc quyền bán thuần tuý
Đường cầu của hãng độc quyền chính là đường cầu của thị trường. Đường cầu của hãng độc quyền là một
Trang 5đường có độ đốc âm (tuân theo luật cầu) Doanh thu cận biên của doanh nghiệp độc quyền luôn nhỏ hơn giá bán khi bán thêm đơn vị sản phẩm, trừ đơn vị sản phẩm đầu tiên
Khái niệm doanh thu cận biên là số tiền tăng thêm do doanh nghiệp, chủ cửa hàng bán thêm được một lượng sản phẩm nhất định Ký hiệu doanh thu cận biên là MR
Trên thị trường này thì lợi thế thuộc về người bán vì họ chính là người định giá Ở nước ta thì có một số ngành độc quyền bán như phát hành tem bưu chính, truyền tải, hệ thống điện quốc gia, quản lý, duy trì, khai thác mạng bưu chính viễn thông… Trong thị trường độc quyền thì giá sẽ được đặt trên chi phí cận biên Đường cầu của doanh nghiệp độc quyền là đường dốc xuống và đường doanh thu cận biên của nó cũng là đường dốc xuống và luôn nằm dưới đường cầu
Để tối ưu lợi nhuận thì chủ doanh nghiệp độc quyền sẽ lựa chọn sản lượng theo nguyên tắc doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên (MR=MC)
Khi đường cầu là đường tuyến tính thì:
Phương trình hàm cầu có dạng: P=a−bQ
Tổng doanh thu: TR=P × Q=aQ−bQ2
Doanh thu cận biên: MR=a−2bQ
Đường doanh thu cận biên cũng là đường tuyến tính, cùng cắt trục tung tại cùng một điểm với đường cầu và có
độ dốc gấp đôi độ dốc đường cầu
Doanh thu cận biên và độ co dãn :
Công thức: MR= ∆ TR ∆Q = ∆ ( P× Q) ∆Q
¿P × ∆ Q+Q× ∆ P ∆Q =P(1+ ∆ P ∆ Q × Q P)
→ MR=P(1+ 1
E P D)
Trong đó:
MRq: doanh thu cận biên của sản phẩm thứ q
TRq: tổng doanh thu bán được sản phẩm q
TR(q-1): tổng doanh thu nhờ bán một khối lượng hàng hóa ít hơn (q-1)
Trang 6Kết luận:
Do E P D<0 nên 1+ 1
E P D
<1→ MR<P
Khi cầu co dãn →|E P D|>1→1+ 1
E P D
>0→ MR>0
Khi cầu kém co dãn →|E P D|<1→1+ 1
E P D
<0→ MR<0
Khi cầu co dãn đơn vị →|E P D|=1→1+ 1
E P D
=0→ MR=0
Khi cầu hoàn toàn co dãn →|E P D|=∞→1+ 1
E P D
=0→ MR=P
5 Tối đa hóa lợi nhuận của hãng độc quyền bán thuần túy trong ngắn hạn
5.1 Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận
Hãng độc quyền muốn tối đa hóa lợi nhuận thì hãng phải sản xuất tại mức sản lượng có doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên: MR=MC
Tuy nhiên điều này mới là điều kiện cần để tối đa hóa lợi nhuận chứ chưa phải là điều kiện đủ
5.2 Khả năng sinh lợi của hãng độc quyền bán thuần túy
Hãng có lợi nhuận kinh tế dương khi giá bán của hãng độc quyền lớn hơn chi phí bình quân (P>ATC)
Khi áp dụng điều kiện tối đa hóa lợi nhuận MR=MC, hãng
sẽ lựa chọn mức sản lượng là Q* tại điểm E (doanh thu cận biên MR cắt đường chi phí cận biên MC) Do có đường cầu
Trang 7thị trường D nên với mức sản lượng Q*, hãng chọn mức giá tại điểm A Tổng doanh thu mà hãng thu được là diện tích hình chữ nhật 0PmAQ* Trong đó:
Tổng chi phí sản xuất của hãng là diện tích hình chữ nhật 0MBQ*
Lợi nhuận tối đa của hãng là diện tích hình chữ nhật MBAPm
Do tổng doanh thu lớn hơn tổng chi phí nên hãng độc quyền sẽ có lợi nhuận dương
Hãng có lợi nhuận kinh tế bằng 0 khi giá bán của hãng bằng với chi phí bình quân (P=ATC)
Đường chi phi bình quân ATC ở hình trên tiếp xúc với đường cầu tại mức sản lượng mà hãng độc quyền có lợi nhuận cao nhất Vẫn áp dụng nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận, hãng vẫn sẽ lựa chọn mức sản lượng mà tại đó
Trang 8MR=MC, tương ứng mức sản lượng Q*, giá mà hãng lựa chọn là Pm
Khi đó, chi phí bình quân bằng với mức giá (đều bằng
độ dài đoạn thẳng AQ*)
Hãng độc quyền chỉ thu được lợi nhuận kinh tế bằng 0
Tổng doanh thu bằng tổng chi phí và bằng diện tích hình chữ nhật 0PmAQ*
Hãng vẫn sẽ lựa chọn tiếp tục sản xuất
Hãng bị thua lỗ nhưng vẫn tiếp tục sản xuất khi mức giá bán của hãng độc quyền nhỏ hơn chi phí bình quân nhưng vẫn lớn hơn chi phí biến đổi bình quân (AVC<P<ATC)
Hãng độc quyền vẫn lựa chọn mức sản lượng thỏa mãn điều kiện MR=MC, tại điểm E trên hình Khi đó, hãng sản xuất Q* đơn vị sản phẩm và bán với mức giá Pm Do mức giá thấp hơn chi phí bình quân (độ dài đoạn thẳng AQ*)
Hãng sẽ bị thua lỗ bằng diện tích hình chữ nhật AMNPm
(tổng chi phí của hãng là diện tích hình chữ nhật 0NMQ* lớn hơn tổng doanh thu của hãng là diện tích hình chữ nhật 0Q*APm)
Nếu hãng đóng cửa ngừng sản xuất, hãng sẽ bị thua lỗ bằng diện tích hình chữ nhật MNHB tương đương chi phí cố định Như vậy nếu hãng ngừng sản xuất, phần thua lỗ của hãng còn lớn hơn phần thua lỗ nếu hãng tiếp tục sản xuất
Hãng vẫn nên tiếp tục sản xuất trong trường hợp này
Trang 9Cụ thể: Hãng độc quyền tiếp tục sản xuất thì diện tích hình
chữ nhật 0Q*APm là phần doanh thu hãng thu được sẽ bù đắp cho toàn bộ chi phí biến đổi là diện tích hình chữ nhật 0Q*BH và một phần chi phí cố định là diện tích hình chữ nhật ABHPm Nếu hãng tiếp tục sản xuất, hãng chỉ bị thua lỗ một phần chi phí cố định là diện tích hình chữ nhật AMNPm
chứ không phải toàn bộ chi phí cố định
Hãng vẫn sẽ quyết định tiếp tục sản xuất để tối thiểu hóa lỗ
Hãng ngừng sản xuất khi mức giá của hãng độc quyền nhỏ hơn chi phí biến đổi bình quân (P≤AVC)
Khi mức giá của hãng nhỏ hơn chi phí biến đổi bình quân AVC Nếu sản xuất, hãng sẽ lựa chọn mức sản lượng Q* và bán với mức giá Pm; tổng doanh thu của hãng là diện tích hình chữ nhật 0Q*BPm, tổng chi phí của hãng là diện tích hình chữ nhật 0Q*MN Vậy hãng bị thua lỗ với phần diện tích hình chữ nhật MNPmB, mà phần chi phí cố định chỉ là diện tích hình chữ nhật MNHA (phần thua lỗ nếu hãng ngừng sản xuất)
Nếu tiếp tục sản xuất, hãng sẽ bị thua lỗ lớn hơn chi phí cố định
Lựa chọn đóng cửa, ngừng sản xuất là phương án tốt nhất cho hãng
5.3 Quy tắc định giá của hãng độc quyền
Trang 10Để tối đa hóa lợi nhuận, hãng độc quyền sẽ lựa chọn mức sản lượng mà tại đó thỏa mãn điều kiện: MR=MC
Mà ta đã chứng minh được:
MR=P( 1
E P D
+1)
MC=P( 1
E P D
+1)
P= MC1+ 1
E P D
Nhận thấy: P−MC =P−¿ +E P
P
D¿ = −P E
P
D> ¿0
Nguyên tắc đặt giá của hãng độc quyền là luôn đặt giá cho sản phẩm của mình cao hơn chi phí cận biên
5.4 Tác động của chính sách thuế
Khi chính phủ đánh thuế đối với hãng độc quyền làm hãng sản xuất ít sản phẩm hơn và định giá sản phẩm của mình cao hơn Người tiêu dùng cũng sẽ phải chịu một phần thuế nhưng không phải gánh chịu toàn bộ thuế vì sự gia tăng mức giá nhỏ hơn thuế
5.5 Độc quyền bán không có đường cung
Độc quyền bán không tồn tại đường cung bởi không thể xác định được mức sản lượng trực tiếp từ đường chi phí cận biên của hãng độc quyền
5.6 Đo lường sức mạnh độc quyền – chỉ số Lerner
Để nhận thấy sức mạnh hãng độc quyền, ta có thể so sánh với hãng cạnh tranh hoàn hảo:
Đối với hãng CTHH, giá bán bằng chi phí cận biên: P=MC
Đối với hãng độc quyền, giá bán cao hơn chi phí cận biên: P>MC
Để đo lường sức mạnh độc quyền, nhà kinh tế học Abba Lerner đã vận dụng ý tưởng là so sánh sự chênh lệch giữa giá bán với chi phí cận biên của hãng độc quyền
Vào năm 1934, chỉ số đo lường được ông đưa ra và được lấy theo tên ông, gọi là chỉ cố Lerner:
L= P−MC P (0≤ L≤ 1)
Trang 11Chỉ số này có giá trị càng lớn (mức chênh lệch giữa giá
và chi phí cận biên càng lớn) thì thể hiện sức mạnh độc quyền càng cao và ngược lại
Do MR=MC
Mà MR=P( 1
E P D
+1)
L= P−P( 1 E P D
+1)
P
L=−1
E P D
Công thức này cho thấy, nếu cầu càng kém co dãn thì L càng lớn thì hãng càng có sức mạnh độc quyền; hãng độc quyền khi đó có thể thu được lợi nhuận cao do sự chênh lệch giữa giá và chi phí cận biên lớn Ngược lại, nếu cầu càng co dãn thì sức mạnh độc quyền càng yếu đi
Điều này không có nghĩa rằng hãng độc quyền kinh doanh tại miền cầu kém co dãn
Hãng độc quyền luôn quyết định sản lượng ở miền cầu
co dãn
6 Tối đa hóa lợi nhuận của hãng độc quyền bán thuần túy trong dài hạn
Trong dài hạn, do có rào cản gia nhập thị trường cho nên doanh nghiệp độc quyền bán thuần túy vẫn giữ được lợi nhuận kinh tế dương Tuy nhiên doanh nghiệp sẽ tìm cách thay đổi quy mô về mức quy mô có chi phí thấp nhất ứng với mức sản lượng tối ưu trong dài hạn
Để tối đa hóa lợi nhuận trong dài hạn, hãng độc quyền lựa chọn mức sản lượng thỏa mãn điều kiện doanh thu cận biên trong dài hạn bằng chi phí cận biên trong dài hạn(MR
= LMC) và sản xuất mức sản lượng Q*
Hãng còn sản xuất nếu doanh thu biên lớn hơn hoặc bằng chi phí bình quân trong dài hạn (P ≥ LAC)
Hãng ra khỏi ngành nếu doanh thu biên nhỏ hơn chi phí cận biên trong dài hạn (P < LAC)
Trong độc quyền dài hạn, hãng độc quyền sẽ điều chỉnh quy mô về mức tối ưu: Quy mô tối ưu là quy mô mà