1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TIỂU LUẬN KINH tế VI Mô

41 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 571,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế Vi Mô là 1 môn học thiết yếu với bất kỳ ai học Kinh tế . Bài tiểu luận này giúp giải quyết và hiểu sâu hơn 1 góc khía cạnh của môn học. Giúp đạt được những kết quả trong bài tiểu luận môn học

Trang 1

1 NHÓM 10 – Kinh tế vi mô

NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG XI MĂNG

VÀ ĐƯA RA GIẢI PHÁP CHO CÔNG TY XI MĂNG VICEM

( VICEM HẢI PHÒNG )GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

NHÓM 10

SINH VIÊN:

LỚP: KINH TẾ VI MÔ

HẢI PHÒNG

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .3

PHẦN 1: LÍ LUẬN CHUNG .4

1.Thị trường và vai trò của thị trường đối với sự tiêu thụ sản phẩm 4

1.1 Thị trường là gì ? 4

1.2 Khái quát chung về thị trường tiêu thụ sản phẩm 4

1.3 Khái niệm cung cầu 4

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới cung cầu 4

1.5 Các loại thị trường 5

1.6 Vai trò và chức năng của thị trường 7

1.7 Nghiên cứu thị trường 9

2.Các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả hoạt động của thị trường 10

2.1 Các nhân tố khách quan 10

2.2 Các nhân tố chủ quan 11

3.Các nhân tố ảnh hưởng tới việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty 12

4.Các chính sách điều tiết của Chính Phủ và ảnh hưởng của chính sách đến doanh nghiệp 13

PHẦN 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG MỘT SỐ NĂM .15

1 Thông tin, số liệu tổng quan về hình cung – cầu 15

2 Phân tích, đánh giá trạng thái thị trường 18

3 Tác động của thị trường 25

PHẦN 3: TÌNH HÌNH CÔNG TY 30

1 Giới thiệu về công ty 30

2 Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty 34

3 Các nhân tố tác động 36

PHẦN 4: CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ .40

1 Giải pháp 40

2 Kiến nghị 41

Trang 3

Trên thị trường có vô số mặt hàng xi măng của các công ty khác nhau từ nội địa đến phối hợp sản xuất với nước ngoài, nhiều tính năng, công dụng, giá cả, mặt hàng, chất lượng mỗi sản phẩm một khác nhau, bao bì, nhãn hiệu tạo lên nhiều sự khác biệt đặc trưng,…Tất cả những khia cạnh đó đã tạo

ra một thị trường xi măng đa dạng, nhiều tiềm năng phát triển,…

Thị trường xi măng vô cùng “béo bở”, đa dạng chính vì vậy mà nó thu hút rất nhiều các nhà đầu tư, công ty cổ phần đã lấn vào thị trường với nhiều sản phẩm khác nhau, có sức cạnh tranh cao,…Nhưng không phải cứ bất cứ công ty nào “nhảy vào” cũng có thể phát triển, trụ vững trong một thị trường tiềm năng dồi dào không ít thách thức này Để đứng vững và phát triển được đó phải là quá trình phấn đấu, sáng tạo và cải tiến lâu dài, bền bỉ Vì sao vậy ? Vì đây là một ngành công nghiệp quan trọng, đòi hỏi tính an toàn, thiết thực và ảnh hưởng rất lớn đến người sử dụng Qua quá trình tìm kiếm để hiểu rõ sự quan trọng đó, Nhóm 10 đã làm bài tiểu luận này để nghiên cứu thị trường xi măng nói chung và đưa ra giải pháp phát triển cho công ty xi măng Vicem Hải Phòng nói riêng Với

hi vọng mang đến cái nhìn cận cảnh và khác quan, toàn diện về thị trường xi măng Việt Nam và sự phát triển của công ty xi măng Vicem Hải Phòng.

Vicem Hải Phòng là một thành viên của Tổng công ty Vicem Việt Nam, với tinh thần không ngừng trau dồi, sáng tạo hướng đến một xứ mệnh to lớn Bên cạnh đó, Vicem Hải Phòng cũng xác định được mục tiêu phát triển theo hướng sản xuất xanh bền vững Giữ vững thương hiệu xi măng “Con Rồng” đã và đang được khẳng định bề dày theo công cuộc đổi mới đất nước Đồng thời là doanh nghiệp đi đầu trong thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn thành phố và các địa phương khác…trong việc đẩy mạnh chỉnh trang, hiện đại hóa đô thị xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu Mong rằng bài tiểu luận Nhóm 10 sẽ cung cấp được những thông tin thật sự hữu ích về thị trường xi măng nói chung và công ty xi măng Vicem Hải Phòng nói riêng !

Trang 4

Theo cách hiểu cổ điển thì thị trường là nơi diễn ra quy trình trao đổi mua và bán.Trong thuật nhữ kinh tế hiện đại, thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản

phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về mộtloại sản phẩm nhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá

cả cần thiết của sản phẩm, dịch vụ hay thị trường có thể được định nghĩa như là mộtnơi mà các loại giao dịch diễn ra

1.2 Khái quát trung về thị trường tiêu thụ sản phẩm

Trong cơ chế thị trường hiện nay để đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả trướctiên doanh nghiệp phải xây dựng chiến lược kinh doanh hợp lí, sản xuất phải gắn liềnvới thị trường, bởi thị trường quyết định doanh nghiệp sản xuất cái gì?, sản xuất nhưthế nào?, sản xuất cho ai? và với số lượng là bao nhiêu? … Thị trường quyết định quátrình sản xuất và tài sản sản xuất của doanh nghiệp

1.3 Khái niệm cung – cầu

Ta biết được rằng yếu tố hình thành thị trường là cung, cầu Vậy cung và cầu là gì?+ Cầu là khối lượng hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng cần mua trong một thời kìnhất định tương ứng với giá cả và thu nhập xác định

+ Cung là khối lượng hàng hóa, dịch vụ hiện có trên thị trường hay có thể đưa ra thịtrường trong một thời kì nhất định, tương ứng với mức giá cả, khả năng sản xuất vàchi phí sản xuất xác định

1.4 Các yếu tố tác động ảnh hưởng tới cung – cầu

+ Ảnh hưởng tới nguồn cầu:

 Thu nhập

 Giá cả hàng hoá liên quan

 Số lượng người tiêu dùng

 Thị hiếu

 Kỳ vọng của người tiêu dùng

Trang 5

+ Ảnh hưởng tới nguồn cung:

 Công nghệ

 Giá của các yếu tố đầu vào sản xuất

 Chính sách của Nhà nước

 Số lượng nhà sản xuất

 Các ảnh hưởng của tự nhiên

 Các kỳ vọng của người sản xuất

1.5 Phân loại thị trường

A, Căn cứ vào hình thái vật chất của đối tượng trao đổi ( theo quan điểm hệ thống ), thị trường được chia thành hai nhóm: thị trường hàng hóa và thị trường dịch vụ.

· Thị trường hàng hóa: là hình thái thị trường mà đối tượng trao đổi là các hàng hóa

tồn tại dưới dạng hiện vật, hữu hình Thị trường hàng hóa bao gồm 2 bộ phận là thịtrường các yếu tố sản xuất và thị trường hàng hóa tiêu dùng

+ Thị trường các yếu tố sản xuất: là loại thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu cho sảnxuất xã hội, cụ thể là cung cấp các yếu tố đầu vào cho mọi hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Ví dụ: thị trường nguyên vật liệu xây dựng

+ Thị trường hàng hóa tiêu dùng: là loại thị trường trao đổi các sản phẩm thông dụng,đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân toàn xã hội Người mua chủ yếu là cá nhân, hộ giađình, nhu cầu của họ rất đa dạng và phong phú, đòi hỏi các nhà sản xuất phải nắm bắtđược tâm lý, thị hiếu, khả năng thanh toán của họ để có thể kịp thời phục vụ họ.Người bán chủ yếu là các nhà sản xuất kinh doanh, số lượng nhiều nên tình hình cạnhtranh rất gay gắt

· Thị trường dịch vụ: là hình thái thị trường mà đối tượng trao đổi là các sản phẩm

không tồn tại dưới hình thái vật chất cụ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu phi vật chất củacon người Sự ra đời của các loại hình dịch vụ là do yêu cầu và đặc điểm tiêu dùng củatừng loại sản phẩm dịch vụ cụ thể Trên thị trường dịch vụ, thông thường quá trình sảnxuất và quá trình tiêu dùng diễn ra cùng một lúc vì thế tổ chức hệ thống phân phốidịch vụ thường sử dụng kênh phân phối trực tiếp, diễn ra theo phương thức bán lẻ Vídụ: Đối với các sản phẩm cho thuê phòng tại các khách sạn, nhà nghỉ khi đi du lịch thìquá trình sản xuất lúc này là cung cấp phòng cho khách hàng thực hiện quá trình tiêudùng tại khách sạn đó, hai quá trình này diễn ra trong cùng một lúc, chỉ kết thúc khingười tiêu dùng đó ngừng sử dụng dịch vụ

B, Căn cứ vào số lượng và vị trí của người mua, người bán ( theo quan điểm cạnh tranh ) thì thị trường được chia thành 3 hình thái cơ bản: thị trường cạnh tranh hoàn

hảo, thị trường độc quyền và thị trường cạnh tranh không hoàn hảo:

· Thị trường cạnh tranh hoàn hảo: là hình thái thị trường mà ở đó số lượng người

mua và người bán phải đông đảo, để đảm bảo cho mỗi người chỉ chiếm một vị trí rấtnhỏ trên thị trường Vì vậy, trên thị trường này giá cả của hàng hóa không chịu sự chi

Trang 6

phối của các chủ thể mà được hình thành do quan hệ cung cầu trong từng thời điểmquyết định.

Thị trường được coi là cạnh tranh hoàn hảo nếu như điều kiện gia nhập hoặc rút khỏithị trường phải dễ dàng Các sản phẩm tham gia vào thị trường này phải đảm bảo tínhđồng nhất để không tạo ra những cản trở trong cạnh tranh Vì vậy, con đường cơ bảnnhất để thực hiện mục tiêu lợi nhuận và các mục tiêu khác của kinh doanh ở hình tháithị trường này là các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để đẩy mạnh khối lượngsản phẩm bán ra

· Thị trường độc quyền: Bao gồm cả độc quyền mua và độc quyền bán, được sinh ra

khi mỗi bên chỉ có một người mua hoặc một người bán Khác với thị trườngcạnh tranh, trên thị trường độc quyền số lượng các chủ thể tham gia ít, vì vậymỗi người thường chiếm vị trí lớn trên thị trường, điều đó làm cho các nhà độc quyềnkiểm soát, chi phối và lũng đoạn thị trường Tại thị trường này, các nhà độc quyềnhướng tới mục tiêu lợi nhuận là tạo ra căng thẳng cung cầu trên thị trường làm đẩy giábán lên Phương thức đó đảm bảo cho các nhà độc quyền khả năng thu hồi vốn nhanh

và mang lại lợi nhuận siêu ngạch Ví dụ: Chỉ có một công ty bán điện duy nhất trên cảthị trường, công ty này sẽ có quyền được đưa ra mức giá, đẩy giá tăng cao để thu lợinhuận siêu ngạch trong khi người tiêu dùng không có lựa chọn nào khác là phải muasản phẩm đó Như vậy, ở thị trường độc quyền, các nhà kinh doanh thu được lợi nhuậncao, nhưng nó không khuyến khích sự phát triển lực lượng sản xuất, không thỏa mãnnhu cầu xã hội ở mức độ cao, kìm hãm việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới vàosản xuất kinh doanh, tạo ra sự bất bình đẳng trong việc phân phối nguồn lợi tức xã hội,

… Vì vậy, chính phủ các nước đều ban hành các điều luật chống điều tiết các hiệntượng độc quyền trong kinh doanh

· Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: là hình thái thị trường có sự đan xen giữa

cạnh tranh và độc quyền Tùy thuộc vào mức độ của 2 yếu tố đối lập này mà có thể làthị trường độc quyền - cạnh tranh hoặc thị trường cạnh tranh - độc quyền Sự khônghoàn hảo trong cạnh tranh có thể xuất phát từ những lợi thế chi phí sản xuất hoặc donhững yếu tố cản trở cạnh tranh khác như: uy tín nhãn hiệu hàng hóa, chế độ bảo hộmậu dịch, quy định của pháp luật,… tham gia hình thái thị trường này, một mặt cácnhà kinh doanh phải tuân theo những yêu cầu cạnh tranh thị trường quyết liệt, mặtkhác họ cũng luôn tìm kiếm cơ hội, yếu tố tạo ra sự độc quyền vươn lên chi phối thịtrường

C, Căn cứ vào cách biểu hiện của nhu cầu và khả năng biến nhu cầu thành hiện thực ( theo vị trí địa lý ) thị trường được chia thành 3 loại:

· Thị trường thực tế: là loại thị trường mà trong đó các khách hàng có nhu cầu đã

được đáp ứng thông qua hệ thống cung ứng hàng hóa dịch vụ của các nhà kinh doanh.Đây là bộ phận thị trường quan trọng nhất trong chiến lược thị trường của doanhnghiệp Mục tiêu hàng đầu của kinh doanh là giữ vững được thị trường và khách hàngthực tế Các nỗ lực marketing phải hướng tới việc đảm bảo cho khách hàng thực tế

Trang 7

trung thành với nhãn hiệu hàng hóa của nhà kinh doanh Từng bước tăng cường độtiêu dùng của nhóm khách hàng này để đẩy mạnh khối lượng bán ra.

· Thị trường tiềm năng: là bộ phận thị trường mà trong đó khách hàng có nhu cầu và

khả năng thanh toán nhưng chưa được đáp ứng hàng hóa và dịch vụ Đó là nhữngkhách hàng mà doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng phát triển trong tương lai Ví dụ:Những phụ nữ đang mang thai sẽ là khách hàng tiềm năng của các công ty kinh doanh

đồ dùng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

· Thị trường lý thuyết: là toàn bộ dân cư nằm trong vùng và thu hút khả năng phát

triển của kinh doanh Trong thị trường lý thuyết bao gồm cả khách hàng thực tế vàkhách hàng tiềm năng và các nhóm dân cư khác Ví dụ: toàn bộ người dân ở thị trường

Hà Nội đều có thể là khách hàng của cửa hàng bán đồ dùng trẻ sơ sinh, ta gọi thịtrường này là thị trường lý thuyết Chỉ những khách hàng nào đã mua sản phẩm đồdùng trẻ sơ sinh (phụ nữ đã sinh con, người chồng mua cho vợ mới sinh, …) thì lànhững khách hàng thực tế Những khách hàng sắp mua sản phẩm đó (phụ nữ đangmang thai, chồng những phụ nữ đang mang thai…) là khách hàng tiềm năng

1.6. Vai trò và chức năng của thị trường

1.6.1 Chức năng của thị trường đối với công ty

Thị trường là phạm trù trung tâm vì qua đó doanh nghiệp có thể nhận biết được sựphối hợp có nguồn lực thông qua hệ thống giá cả Trên thị trường hàng hóa và dịch vụgiá cả các yếu tố nguồn lực luôn luôn biến động, thị trường có vai trò cực kì quantrọng trong việc điều tiết Sản xuất và lưu thông hàng hóa thị trường khách quan Công

ty trên cơ sở nhận biết nhu cầu thị trường và xã hội cũng như kế hoạch của mình trongsản xuất kinh doanh để có chiến lược, kế hoạch và phương án kinh doanh để có chiếnlược Kế hoạch và phương án kinh doanh phải phù hợp với sự đòi hỏi thị trường và xãhội Chính vì vậy, thị trường có 4 chức năng chính sau: chức năng thừa nhận, thựchiện điều tiết, điều tiết kích thích sản xuất và chức năng thông tin Bốn chức năng này

có quan hệ mật thiết với nhau, mỗi hiện tượng kinh tế diễn ra thông qua các chức năngnày Trong nền kinh tế thị trường hầu hết các sản phẩm sản xuất ra đều được đem ratrao đổi, mua bán trên thị trường Việc hàng hóa tiêu thụ được có nghĩa là hàng hóa đãđược thị trường chấp nhận Nhìn vào đó, công ty sẽ biết được mình nên kinh doanhhàng hóa, dịch vụ gì ?

Song với chức năng thừa nhận thị trường có chức năng thực hiện, thị trường chính lànơi diễn ra các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ có ở đây giá trị hàng hóamới được thực hiện

Hơn nữa thị trường còn điều tiết, kích thích nền sản xuất xã hội, chức năng đó của thịtrường được thể hiện nhiều ở chỗ thông qua việc nghiên cứu và năm bắt nhu cầu thịtrường, công ty sẽ tăng cường đầu tư cải tiến sản phẩm nhằm thu được lợi nhuận cao,đồng thời bằng cách này công ty củng cố được địa vị của mình tăng sức cạnh tranh

Trang 8

Sự điều tiết kích thích của thị trường còn được thể hiện ở chỗ thị trường chỉ thừa nhậnnhững chi phí sản xuất lưu thông thấp hơn hoặc bằng mức trung bình, do vậy khuyếnkhích công ty cải tiến sản phẩm, giảm chi phí xuống mức thấp nhất.

Chức năng thông tin của thị trường là một trong những chức năng quan trọng Nhữngthông tin mà thị trường cung cấp cho người mua và người ban những thông tin rất cầnthiết và quan trọng Nó giúp doanh nghiệp nhìn ra lời giải đáp cho những câu hỏi vềthị trường như là mục tiêu, dung lượng, tình hình cạnh tranh

1.6.2 Vai trò cua thị trường đối với sản xuất

Thị trường định hướng cho sản xuất kinh doanh của công ty

Hiện nay có hai xu hướng đang tồn tại: sản xuất định hướng nhu cầu và sản xuất đáp ứng nhu cầu

Sản xuất định hướng nhu cầu: để tạo ra thị trường độc quyền, quyền lực lớn đối vớikhách hàng và khả năng cạnh tranh cao kèm với lợi thế về lợi nhuận, những loại hìnhsản xuất này đòi hỏi đầu tư lớn và độ rủi ro cao Sản xuất đáp ứng nhu cầu lại bám sátnhu cầu lại bám sát nhu cầu trên thị trường, mức độ bảo hiểm không cao nhưng cường

độ cạnh tranh cao Xét về bản chất cả 2 loại hình đều xoay quanh 3 vấn đề: sản xuấtcái gì?, sản xuất cho ai? Và sản xuất như thế nào ? Sản xuất định hướng nhu cầuchẳng qua là để đón bắt nhu cầu trong tương lai sẽ xuất hiện và nó không thể thoát lykhỏi thị trường

Thị trường là trung tâm của quá trình sản xuất

Sản xuất là sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức lao động theo một quan hệ tỉ lệ nhấtđịnh Quan hệ tỉ lệ này thay đổi phụ thuộc và trình độ kĩ thuật của sản xuất Nếu kĩthuật tiến bộ thì một lực lượng sức lao động sẽ vận hành được nhiều tư liệu sản xuấthơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm và ngược lại

Các nhà sản xuất hoạt động với nguồn lực hạn chế, các yếu tố sản xuất ngày một khanhiếm vì vậy và doanh nghiệp phải luôn luôn tối thiểu hóa chi phí sản xuất để tăng khảnăng cạnh tranh nhằm thu lại lợi nhuận cao cho công ty Trong môi trường cạnh tranhkinh tế thị trường công ty phải cạnh tranh với nhà cung cấp, với khách hàng và vớidoanh nghiệp khác cho mục đích phục vụ tốt nhất vói khách hàng Để thực hiện đượcđiều đó sản xuất phải luôn luôn đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực lao động từ đónâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành Tất cả những điều đó đều phải thực hiệnthông qua thị trường Và có thể nói thị trường giúp cho công ty sản xuất như thế nào

để đạt hiệu quả cao nhất

Thị trường đảm bảo cho sản xuất kinh doanh của công ty phát triển liên tục với quy

mô ngày càng mở rộng

Ở đây thị trường cung cấp các yếu tố đầu vào cho công ty từ vốn, lao động, máy mócthiết bị, thông tin,… để tiến hành quá trình sản xuất và nó lại tiếp nhận các sản phẩmđầu ra của công ty, giúp cho quá trình sản xuất của công ty được diễn ra liên tục Bất

Trang 9

kì một công ty nào chi có thể tồn tại được khi thị trường chấp nhận sản phẩm sảnphẩm đầu ra của mình.

Hàng hóa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, được người mua chấp nhận khi đócông ty tiêu thu được sản phẩm của mình và có doanh thu bán hàng Một phần củadoanh thu bán hàng bù đắp cho chi phí sản xuất và tiêu thụ, phần còn lại là lợi nhuậncủa công ty Khi hàng hóa tiêu thu được nhiều doanh thu tăng và lợi nhuận cũng tăng.Từ đó, công ty có điền kiện thực hiện quá trình tải sản xuất và quy mô sản xuất kinhdoanh của công ty ngày càng mở rộng

1.7 Nghiên cứu thị trường

Nghiên cứu khải quát thị trường cho công ty.

Nội dung của việc nghiên cứu khái quát thị trường là giải quyết một số vấn đề quan trọng sau:

- Đâu là thị trường triển vọng nhất đối với công ty ?

- Công ty cần có những chính sách như thế nào để tăng cường khả năng tiêu thụ sản phẩm?

Để trả lời những vấn đề trên công ty phải nắm bắt được những nhân tố ảnh hưởng đến thị trường:

- Nhịp độ phát triển của nền kinh tế là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến thịtrường tiêu thụ, sự phát triển của sản xuất là yếu tố tác động đến cung – cầuhàng hóa Khi nhu cầu thị trường càng được mở rộng

- Nhịp độ phát triển của khoa học kĩ thuật cũng tác động trực tiếp đến thị trường.Khi khoa học phát triển sẽ tạo ra những thiết bị khoa học công nghệ mới chấtlượng cao hạ giá thành từ đó hàng hóa sản xuất ra sẽ đáp ứng nhu cầu thị yếungày càng cao của khách hàng, khả năng thanh toán đáp ứng được diều này làmtăng sức mua trên thị trường từ đó quy mô thị trường ngày càng được mở rộng

- Mức độ cạnh tranh của các loại hàng hóa trên thị trường, thông qua cạnh tranhkhách hàng có được những sản phẩm có chất lượng cao giá thành hạ tương đối

- Nhịp độ phát triển dân số trong nước và thế giới, khi dân số tăng nhu cầu tăngtheo tạo nên một thị trường tiêu thụ rộng lớn về tất cả các loại hàng hóa nhất lànhu cầu về cơ sở hạ tầng

- Thu nhập bình quân đầu người theo từng thời kì của các tầng lớp dân cư cũng lànhân tố ảnh hưởng tới thị trường tiêu thụ của công ty

- Một nhân tố quan trọng nữa là chủ trương, chính sách điều tiết vĩ mô nền kinh

tế của nhà nước trong từng thời kì như: chính sách tiền tệ, tài chính, đối ngoại.Nếu những chính sách này phù hợp, hợp lí và kịp thời sẽ có vai trò to lớn choviệc mở rộng cho công ty trong và ngoài nước

Nghiên cứu chi tiết thị trường cho công ty.

Trang 10

Nội dung chủ yếu của nghiên cứu chi tiết thị trường là nghiên cứu thái độ thói quencủa người tiêu dùng Từ đó công ty tìm cách thích ứng, gây ảnh hưởng đến chúng,phát triển thị trường cho sản phẩm của mình.

- Nghiên cứu tập tính, thói quen của người tiêu dùng: Công ty phải nghiên cứuxem người tiêu dùng hay dùng loại sản phẩm gì, nhãn hiệu sản phẩm và với sốlượng là bao nhiêu, mua như thế nào hay mua ở đâu Từ đó, có kế hoạch sảnxuất và kinh doanh thiết lập kênh phân phối cho hợp lí hiệu quả

- Nghiên cứu tập tính tinh thần của khách hàng: đây là những vân đề mà họ suynghĩ và đa số các hành động của họ đều phụ thuộc và suy nghĩ đó vì thế có thểgây ảnh hưởng đến tập tính của người tiêu dùng sản phẩm Công ty cần bắt đầubằng việc nghiên cứu đến những nhu cầu và động cơ của họ, nghiên cứu cácphương diện nhận thức hình ảnh, phương diện cảm xúc cũng như thái độ của họđối với sản phẩm

2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của thị trường

2.1 Các nhân tố khách quan.

2.1.1 Sự quản lý vĩ mô của Nhà nước.

Mặc dù, chuyển sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp được quyền chủ động trongsản xuất kinh doanh, tự hạch toán lỗ lãi Nhưng Nhà nước lại quản lý trên cơ sở đề rađường lối chính sách và cơ chế quản lý kinh tế Đó là chính sách ưu tiên hoặc hạn chếxuất, nhập khẩu, chính sách thuế và các quy định về pháp luật Đây là việc tạo môitrường cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

Đặc biệt với công ty xi măng Hải Phòng là công ty trực thuộc Tổng công ty côngnghiệp xi măng Việt Nam Do Tổng công ty nắm giữ 100% vốn điều lệ nên sẽ chịuảnh hưởng ít nhiều đến sự quản lý vĩ mô của Nhà nước

Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX: "Doanh nghiệp nhà nước ( ) phảikhông ngừng được đôi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ vị trí then chốt trongnền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ

mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu đề kinh tế nhà nước thực hiện vai tròchủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hộinhập kinh tế quốc tế"

Nhận thấy rõ vị trí của một doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, xi măng Hải Phòngcần phát triển sản xuất đúng hướng, luôn tăng sản lượng sản phẩm sản xuất ra đề đảmbảo nguồn cung đáp ứng đủ nhu cầu thị trường thường xuyên tăng lên, trên cơ sở đó

đã thực hiện tốt nhiệm vụ bình ồn thị trường xi măng Nhà nước giao

2.1.2 Khách hàng

Khách hàng là đối tượng phục vụ của doanh nghiệp, là người quyết định số phận củasản phẩm trên thị trường Khái niệm khách hàng có thể là người tiêu dùng cá nhân, có

Trang 11

thể là các cơ quan, đơn vị, các nhà sản xuất hoặc các nhà phân phối Số lượng kháchhàng là nhân tố ảnh hưởng cùng chiều với số lượng tiêu thụ: nếu trên thị trường đôngđảo khách hàng thì khối lượng sản

phẩm luân chuyển lớn và ngược lại

Khách hàng là người tiêu dùng cá nhân thường chịu tác động của nhiều nhân tố nhưvăn hoá, chính trị, phong tục tập quán, tâm lý Tuy nhiên, khi đề cập đến khái niệmcầu thì phải hội tụ đủ hai yếu tố : có khả năng mua (thu nhập) và sẵn sàng mua (mức

độ thoả mãn nhu cầu) Vì vậy yếu tố quyết định ở đây là thu nhập của dân cư và chấtlượng sản phẩm

Khách hàng và sức ép từ phía khách hàng có tác động hết sức mạnh mẽ tới hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Khách hàng và nhu cầu của khách hàng quyết định đếnquy mô và cơ cấu nhu cầu thị trường của doanh nghiệp Đó là yếu tố quan trọng nhấtkhi tiến hành kế hoạch và hoạch định sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đề nângcao hiểu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm thì doanh nghiệp nên duy trì và phát triểncác mối quan hệ với khách hàng cũ và lôi cuốn tạo niềm tin với khách hàng mới Nóicách khác là doanh nghiệp phải luôn luôn giữ được “chữ tín” với khách hàng củamình Vì vậy, muốn làm được việc đó thì chẳng có cách nào khác là đoanh nghiệpphải quan tâm chăm sóc, phân tích sự biến động của nhu cầu tiêu thụ sản phẩm củakhách hàng và tìm cách đáp ứng những nhu cầu đó Doanh nghiệp phải luôn đặt kháchhàng vào vị trí trung tâm trong “bộ ba chiến lược”

Việc định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh hướng vào nhu cầu của khách hàng sẽđem lại kết quả khả quan cho doanh nghiệp và tạo thói quen và tổ chức các dịch vụphục vụ khách hàng, đánh đúng vào tâm lý tiêu dùng của khách là biện pháp hữu hiệunâng cao hiệu quả của hoạt động tiêu thụ sản phẩm Một nhân tố đặc biệt quan trọng

đó là mức thu nhập và khả năng thanh toán của khách hàng có tính quyết định đếnlượng hàng hóa tiêu thụ của doanh nghiệp Khi thu nhập tăng thì nhu cầu tăng và khithu nhập giảm thì nhu cầu giảm, do vậy doanh nghiệp cần có những chính sách giá vàsản phẩm hợp lý

Đề có thể giảm thiểu sức ép của khách hàng, công ty cần phục vụ khách hàng tốt hơn.Muốn có căn cứ xác định đề tạo ra ưu thế trong việc xây dựng chiến lược phục vụkhách hàng các đoanh nghiệp cần phải lập hồ sơ theo dõi và quản lý khách hàng, thiếtlập hệ thống Marketing quan hệ bền vững Những năm trước cũng như trong nhữngnăm gần đây, công ty xi măng Hải Phòng luôn tạo được niềm tin đối với khách hàng “

Xi măng Hải Phòng ” gắn liền với người dân thành phố Hải Phòng

2.2 Các nhân tố chủ quan.

Các nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc bên trong doanh nghiệp hoặc nằm trongvòng kiểm soát của doanh nghiệp Các yếu tố này bao gồm những điểm mạnh, điểmyếu ảnh hưởng trực tiếp tới việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Dovậy doanh nghiệp cần phải phân tích cặn kẽ những ưu, nhược điểm của mình đề tìm ra

Trang 12

những đối sách hợp lý nhằm phát huy điểm mạnh, hạn chế điểm yếu của mình Hoạtđộng tiêu thụ sản phẩm thường chịu ảnh hưởng của nhiều khâu từ khâu nghiên cứu thịtrường, khâu kế hoạch hoá tiêu thụ, khâu dự trữ, khâu lựa chọn kênh tiêu thụ, khâu tổchức các hoạt động bán hàng và dịch vụ sau bán hàng như đã phân tích trong phần nộidung.

3. Các nhân tố ảnh hưởng tới việc phát triển thị trường tiêu thụ của sản phẩm công ty

3.1 Nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm

Công ty chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi phải nắm bắt được nhu cầu của thịtrường cần, phải biết được thị trường muốn gì, số lượng bao nhiêu, đối tượng mua là

ai, có như vậy mới có thể đầu tư phát triển có hiệu quả

Đối tượng phục vụ của công ty : nắm bắt được đối tượng phục vụ của công ty là mộttrong những yếu tố quan trọng quyết định đến quy mô sản xuất của công ty và phươngthức sản xuất của công ty Chính vì vậy phải tăng cường công tác nghiên cứu phục vụkhách hàng của công ty một cách tốt nhất

Hiện nay, đối tượng phục vụ của công ty là các công trình xây dựng, các nhà thầu xâydựng, và các dây chuyền sản xuất Đây là những khách hàng truyền thống của công ty,tuy nhiên công ty phải luôn luôn quan tâm đến đối tượng của mình thông qua chấtlượng sản phẩm của mình phục vụ cho họ, có như vậy mới tạo ra sự gắn kết giữa công

ty với khách hàng Phải biết được xu hướng vận động của thị trường để thông qua thịtrường công ty nắm bắt được nhu cầu của khách hàng, hiểu rõ được khách hàng hơn

để phục vụ tốt hơn Đây là nhân tố quyết định sức sản xuất của công ty, nó định hướngcho sức sản xuất của công ty

Xu hướng tiêu dùng sản phẩm của công ty:

- Sức mua trên thị trường ảnh hưởng lớn đến xu hướng tiêu dùng sản phẩm củacông ty Sức mua trên thị trường có tăng thì quy mô sản xuất của công ty mớiđược mở rộng và ngược lại Chính vì vậy, công ty phải chú trọng đến công tácđiều tra nghiên cứu thị trường, hiểu rõ được thị trường, từng đoạn thị trường đểcông ty định hướng phát triển sản phẩm

- Giá cả sản phẩm là yếu tố quyết định trong sự thành công của công ty về cạnhtranh trong cơ chế thị trường hiện nay Nó ảnh hưởng trực tiếp đến xu thế tiêuthụ sản phẩm của công ty Khi giá cả tăng xu thế tiêu thụ sản phẩm của công ty

sẽ giảm và ngược lại, do đó công ty cần phải có những chính sách về giá cả đốivới từng sản phẩm của công ty, để có được sự ưu ái của khách hàng tăng nhucầu tiêu thụ Muốn vậy công ty phải có sự nghiên cứu trong sản xuất tìm mọicách để giảm thiểu chi phí sản xuất và vận chuyển lưu thông hạ giá thành sảnphẩm, tăng sức cạnh tranh về giá cả cho sản phẩm đó tăng nhu cầu tiêu dùngsản phẩm

- Xu hướng tiêu dùng sản phẩm của công ty còn phụ thuộc vào thị hiếu của kháchhàng, Đối với từng đoạn thị trường cụ thể công ty phải nắm bắt được thị hiếucủa khách hàng Đặc biệt với sản phẩm xây dựng, vật liệu xây dựng thì thị hiếu

Trang 13

của khách hàng có ảnh hưởng rất lớn, đòi hỏi chất lượng sản phẩm, công trìnhphải đạt chất lượng cao đáp ứng được sự đa dạng của khách hàng trong từngcông trình, sản phẩm, nó ảnh hưởng đến tâm lí của khách hàng.

3.2 Khả năng cung ứng sản phẩm trên thị trường

Hiện nay với công suất hiện có công ty luôn đáp ứng được nhu cầu của thị trường Dovậy, đây là nhân tố quan trọng đối với việc phát triển và mở rộng thị trường, nó phảnánh được quy mô sản xuất của công ty, nó định hướng cho việc khai thác, nghiên cứucủa thị trường Công ty cần có những chính sách thúc đẩy sản xuất và tăng năng suấtlao động cho công ty có như vậy khả năng cung ứng sản phẩm mới tăng

4. Các chính sách điều tiết của chính phủ và ảnh hưởng của chính sách đến doanh nghiệp

Trong một hệ thống kinh tế thị trường tự do, về mặt lý thuyết chính phủ không có vaitrò gì trong kinh doanh Trong thực tế, chính phủ can thiệp vào kinh doanh liên tụcthông qua thuế, trợ cấp, giảm thuế và các quy định pháp lý Nếu không có quy địnhkinh doanh của chính phủ, những người chơi nhỏ hơn sẽ bị ép ra khỏi thị trường, dẫnđến sự độc quyền có thể khai thác người mua

Kinh doanh và chính phủ

Sự tương tác của chính phủ và doanh nghiệp có một lịch sử lâu dài và phức tạp Trongkhi nhiều doanh nghiệp lớn nỗ lực hết sức để thoát khỏi các quy định khác nhau củachính phủ, họ cũng cung cấp một tỷ lệ đáng kể của cơ sở thuế điều hành chính phủ.Mặc dù chính phủ được sở hữu công khai, nhưng trong một số cách, nó cũng là mộtdoanh nghiệp

Thuế

Tất cả các doanh nghiệp được pháp luật yêu cầu phải trả thuế cho thu nhập của họ.Đây là cách chính mà chính phủ can thiệp vào kinh doanh Để đổi lấy các loại thuếnày, cả doanh nghiệp và cá nhân đều được cung cấp các mặt hàng thuộc sở hữu côngcộng khác nhau như đường xá, tiện ích, cảnh sát và phòng cháy chữa cháy và các lợithế công dân khác Thuế kinh doanh dựa trên số tiền lãi mà doanh nghiệp phải chịu.Tuy nhiên, sự phức tạp của luật thuế cho phép các doanh nghiệp lớn tận dụng vô sốcác khoản giảm thuế và sửa đổi luật thuế

Trợ cấp

Nhiều loại thuế được chính phủ thu hồi từ các doanh nghiệp sau đó được trả lại chocác doanh nghiệp dưới dạng trợ cấp Trợ cấp được trao cho các doanh nghiệp dựa trênmột số yếu tố, bao gồm tầm quan trọng của dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp cho xãhội với các mối đe dọa kinh tế lớn đối với doanh nghiệp và các khía cạnh khác nhaucủa thương mại và bảo hộ quốc tế Một số ví dụ về các ngành công nghiệp thườngxuyên nhận trợ cấp của chính phủ là ngành hàng không dưới dạng nhiên liệu máy bay

Trang 14

miễn thuế và ngành nông nghiệp dưới hình thức thanh toán cho nông dân được thiết kế

để ngăn chặn các nhà sản xuất thực phẩm không kinh doanh

Thực thi pháp luật

Chính phủ đôi khi can thiệp khá mạnh mẽ vào các doanh nghiệp đang tham gia vàohoạt động bất hợp pháp Một số doanh nghiệp, chẳng hạn như những doanh nghiệpkhông đóng thuế hoặc tuân thủ các quy định về sức khỏe, đang làm việc trong các lĩnhvực pháp lý theo cách bất hợp pháp Những người khác, chẳng hạn như những kẻbuôn bán ma túy hoặc các đường dây mại dâm, tham gia vào các hoạt động bất hợppháp theo định nghĩa Trong cả hai trường hợp này, chính phủ can thiệp vào nỗ lựcthực thi luật pháp của mình và duy trì cơ sở hạ tầng kinh tế hợp pháp

Trích “Ba cách mà Chính phủ có thể can thiệp vào một doanh nghiệp - Kinh Doanh” – 2021 BUSINESSMT- Lời khuyên kinh doanh.

Trang 15

PHẦN 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG

1. Thông tin, số liệu tổng quan về cung cầu.

- Cung về một loại hàng hóa (tiếng Anh: Supply) cho ta biết số lượng hàng hoá mà

người sản xuất sẵn sàng cung ứng và bán ra tương ứng với các mức giá khác nhau

- Cầu là nhu cầu cộng với khả năng thanh toán cho nhu cầu đó; là sự cần thiết của một

cá thể về một hàng hóa hay dịch vụ nào đó mà cá thể sẵn sàng có khả năng thanh toán

cho hàng hóa hay dịch vụ đó Khi cầu của toàn thể các cá thể đối với một mặt hàng

trong một nền kinh tế gộp lại, ta có cầu thị trường Khi cầu của toàn thể các cá thể

đối với tất cả các mặt hàng gộp lại, ta có tổng cầu

Thực chất, cầu là một thuật ngữ dùng để diễn đạt thái độ của người mua và khả năng

mua về một loại hàng hóa

Vậy nên tình hình cung-cầu tác động lẫn nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế

Ngành xi măng Thế giới đang đối diện với áp lực bão hòa về nhu cầu tiêu thụ và tìnhtrạng dư thừa lớn về công suất sản xuất Năm 2019, sản lượng sản xuất và tiêu thụ ximăng toàn cầu đạt 4,1 tỷ tấn, trong khi tổng công suất thiết kế của các nhà máy trênthế giới lên tới 5,3 tỷ tấn/năm nên công suất huy động toàn ngành chỉ ở mức 78%.Diễn biến cung - cầu xi măng Thế giới trong giai đoạn 2010 – 2019:

Trang 16

Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lượng cung - cầu trong nước Ví dụ điển hình là xi măng VICEM Hải Phòng.

Trích “http://www.fpts.com.vn/VN/newsletter/images/fia/CementReport20201012.pdf ” - Chuyên viên Phân tích Nguyễn Lý Thanh Lương – T9/2020

Về Cầu:

Tổng sản phẩm tiêu thụ năm 2019 sau sát nhập đạt 2.348.897 tấn, tăng 30,4% so vớicùng kỳ, và là sản lượng tiêu thụ cao nhất từ trước tới nay; trong đó, sản lượng xuất tạiHải Phòng: 1.828.016 tấn; sản lượng gia công Sông Thao là 524.215 tấn Nếu tính sảnlượng tiêu thụ gộp 2 nhà máy cả năm 2019 đạt 3.076.110 tấn, tăng 3% so với 2018 sảnlượng tiêu thụ tăng -> cầu tăng cao

tổng sản lượng xi măng tiêu thụ theo thương hiệu Vicem Hải Phòng tăng 18% so vớicùng kỳ năm 2019

Sản xuất và tiêu thụ xi măng tập trung chính ở khu vực châu Á Tổng sản lượng năm

2019 của khu vực châu Á chiếm 73% tỷ trọng sản xuất và 81% tỷ trọng tiêu thụ toànthế giới Trong đó, thị trường Trung Quốc dẫn đầu với sản lượng tiêu thụ và sản xuấtchiếm hơn 50% tổng sản lượng xi măng toàn cầu

Tăng trưởng xuất khẩu bù đắp cho mức giảm của nhu cầu trong nước: Tổng sảnlượng tiêu thụ xi măng và clinker trong 11T2020 ước tính đạt 91,5 triệu tấn, tăngnhẹ 1% so với cùng kỳ Chúng tôi ước tính tổng sản lượng tiêu thụ trong năm 2020

sẽ đạt 101,5 triệu tấn, tăng 1,5% so với năm trước

Số liệu từ Vụ Vật liệu xây dựng - Bộ Xây dựng cho thấy, trong 8 tháng năm 2021,ước tiêu thụ sản phẩm xi măng đạt khoảng 70,77 triệu tấn, tăng 4% so với cùng kỳnăm 2020; trong đó, tiêu thụ tại thị trường nội địa đạt khoảng 43,54 triệu tấn, giảmkhoảng 5% so với cùng kỳ năm 2020 Tuy nhiên, sản lượng xuất khẩu ước đạt khoảng27,23 triệu tấn, tăng tới 12% so với cùng kỳ

Xét theo địa bàn tiêu thụ nội địa năm 2021 thì khu vực miền Nam có mức tiêu thụtăng mạnh nhất cả nước với tốc độ tăng trưởng 12,2% so với năm trước và đang caohơn mức trung bình cả nước 4,4% Bởi vậy, việc giãn cách kéo dài tại nhiều địaphương thuộc khu vực phía Nam sẽ tiếp tục ảnh hưởng đáng kể đến tiêu thụ xi măngnội địa

Nhu cầu trong nước bị ảnh hưởng đáng kể bởi dịch Covid-19, đặc biệt là trong nhữngtháng đầu năm: Theo thống kê của Hiệp hội Xi măng Việt Nam, sản lượng tiêu thụ ximăng toàn ngành tại thị trường nội địa trong 11T2020 giảm -5% so với cùng kỳ đạt

Trang 17

56,1 triệu tấn do hoạt động xây dựng chững lại Điều này đặc biệt xảy ra trong 4 thángđầu năm do dịch Covid-19, với mức giảm -10% so với cùng kỳ.

Riêng trong tháng 8, lượng xi măng tiêu thụ khoảng 8,09 triệu tấn, giảm khoảng 8%

so với cùng kỳ năm trước; trong đó, tiêu thụ trong nước khoảng 4,97 triệu tấn, xuấtkhẩu đạt 3,12 triệu tấn

Đánh giá về thị trường xuất khẩu, Tiến sỹ Lương Đức Long - Tổng Thư ký Hiệp hội

Xi măng Việt Nam (VNCA) chia sẻ, sản lượng xuất khẩu xi măng tăng 12% là tín hiệuđáng mừng do tại nhiều thị trường xuất khẩu lớn như EU, Canada, Mỹ, Trung Quốc đãtrở lại hoạt động bình thường Nhu cầu sử dụng sản phẩm xi măng tăng cao và giá ximăng tại các thị trường này cũng đang được điều chỉnh theo xu hướng tăng

Tuy nhiên, nhu cầu trong những tháng tiếp theo đã có dấu hiệu phục hồi, với mứcgiảm thấp hơn chỉ giảm -2,3% từ tháng 5 đến tháng , 11, trong đó sản lượng tiêu thụtrong tháng 11 cho thấy tín hiệu phục hồi, với mức tăng 7% so với cùng kỳ và 19% sovới tháng trước đó Nhu cầu xi măng phục hồi có thể là do nhu cầu bị dồn nén từnhững tháng đầu năm, sự phục hồi của xây dựng dân dụng và đặc biệt là việc đẩynhanh xây dựng cơ sở hạ tầng

Về Cung:

Từ 2020 đến nay, chỉ có thêm 2 dây chuyền mới đi vào vận hành là dự án nhà máy

Xi măng Tân Thắng (Nghệ An) và dây chuyền 3 nhà máy Xi măng Long Sơn tạiThanh Hóa Đến cuối năm nay, dự kiến sẽ có thêm một dự án dây chuyền 4 của Ximăng Long Sơn đi vào vận hành

Đáng chú ý, trong 2 quý đầu của năm 2021, sản lượng sản xuất xi măng toàn ngànhđạt 51.1 triệu tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2020 Đây là mức sản lượng sản xuấtcao nhất trong vòng 5 năm gần đây và đã thực hiện được xấp xỉ 50% so với kế hoạchsản xuất cả năm là 104 - 107 triêu tấn

Tính chung toàn ngành, đến thời điểm này, cả nước có 24 dây chuyền được Thủtướng Chính phủ cho phép đầu tư đến năm 2030 với tổng công suất 36,31 triệu tấn.Như vậy, dự kiến đến năm 2030, cả nước có 109 dây chuyền sản xuất xi măng vớitổng công suất 140,35 triệu tấn/năm

Cụ thể, trong năm 2020 thực hiện thành công sát nhập thương hiệu Vicem Sông Thaovào Vicem Hải Phòng đã mang lại hiệu quả cho cả hai đơn vị, nâng cao thị phần, tổngsản lượng xi măng tiêu thụ theo thương hiệu Vicem Hải Phòng tăng 18% so với cùng

kỳ năm 2019 Đặc biệt hơn cả là độ phủ và thị phần của Vicem Hải Phòng tại TâyBắc được tăng lên Công tác điều hành sản xuất cũng được thay đổi nâng năng suất lònung bình quân năm đạt 3.519 tấn Clinker/ ngày đêm, tăng 2,5% so với năm 2019.Trong năm 2020, công ty thực hiện 4 dự án với giá trị thực hiện gần 24,164 tỷ đồngbằng 48% KH năm Công tác đoàn thể có nhiều hoạt động thiết thực, phong trào thiđua đi vào chiều sâu, có nhiều đổi mới, xây dựng nhiều điển hình có sức lan tỏa Côngtác an sinh xã hội trong năm qua của công ty đã hoạt động trên 9 tỷ đồng Trong đó,công ty tiếp tục tham gia chương trình của thành phố về cung ứng xi măng xây dựngNông thôi mới và chỉnh trang đô thị theo NQ05, hỗ trợ xi măng cho người có côngtheo NQ32, hỗ trợ xi măng cho người nghèo theo NQ 52 của HĐND thành phố…

Trang 18

Năm 2021, Công ty Xi măng Vicem Hải Phòng đặt ra mục tiêu đổi mới, sáng tạo,nâng cao năng lực sản xuất theo hướng xanh, bền vững về kinh tế, tiết kiệm tài nguyên

và bảo vệ môi trường, xử lý “nút thắt” công đoạn sản xuất clinker, nâng công suất lònung 3.800-4.000 tấn clinker/ngày, phấn đấu sản xuất hơn 1,2 triệu tấn clinker; tổngsản phẩm tiêu thụ đạt 2,9 triệu tấn; nộp ngân sách Nhà nước 60 tỷ đồng; giảm phátthải NOx dưới 60mg/Nm3 theo mục tiêu Vicem xanh tại “Tuyên bố Hà Nội” ngày9/2/2020; giảm tiêu hao năng lượng, tận dụng nhiệt khí thải để phát điện…

Sản lượng clinker sản xuất trong 6 tháng đầu năm của Công ty Xi măng Vicem HảiPhòng đạt 545.714 tấn, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2017 Công ty đạt tổng sảnlượng tiêu thụ 891.681 tấn xi măng và clinker, tăng 18,3% Công ty cung ứng xi măngcho nhiều công trình, dự án, trong đó có chương trình xây dựng các công trình theotiêu chí nông thôn mới ở các xã; cải tạo ngõ ngách đô thị…; làm việc với các ban quản

lý dự án, nhà thầu tại địa bàn Hải Phòng để cung cấp xi măng rời cho các công trình,

dự án; đẩy mạnh tiết kiệm chi phí để giảm giá thành sản phẩm

Đồng thời, tiếp tục tái cấu trúc, tái cơ cấu, mở rộng quy mô thị trường, hoàn thiện thểchế nội bộ, sắp xếp, xử lý, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm kỷcương kỷ luật an toàn lao động; nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học củacuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong các lĩnh vực sản xuất, tiêu thụ và quản lý đểnâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợp với định hướng chiến lược của Tổng công ty Xi măng Việt Nam.

Trích “

https://baoxaydung.com.vn/san-luong-tieu-thu-xi-mang-vicem-hai-phong- tang-304-273233.html ” - Mỹ Hạnh - 14/02/2020

2 Phân tích, đánh giá trạng thái thị trường.

“Đại dịch Covid-19 đặt ra thách thức lớn đối với ngành xi măng Việt Nam Không chỉ

là sự kiện làm gián đoạn tới các hoạt động của ngành trong một tháng hoặc quý, dịchCovid-19 còn tác động trực tiếp đến quá trình thoái trào về nhu cầu tiêu thụ về thịtrường xi măng đã diễn ra trong nhiều năm trở lại đây Điều này đồng nghĩa với việc,tiêu thụ xi măng trên các thị trường hiện tại sẽ có thể giảm mạnh trong năm 2020, đặt

áp lực lên khả năng cạnh tranh và duy trì hoạt động của các doanh nghiệp xi măngViệt Nam trong thời gian tới.”

 Đại dịch Covid–19 thật sự có ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất kinh doanh củanhiều doanh nghiệp, trong đó có Tổng Công ty xi măng Việt Nam Xi măng đượccoi là “bánh mỳ” của ngành Xây dựng, khi các công trình xây dựng phải tạm dừngthi công để phòng chống dịch thì tiêu thụ xi măng giảm sâu

 cho lái xe…

 Điều đáng nói là đợt dịch này ảnh hưởng trên phạm vi rộng, từ Hà Nội đến Thànhphố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam bộ Thủ đô Hà Nội phải thực hiện giãn

Trang 19

cách xã hội theo Chỉ thị số 16 của Thủ tướng Chính phủ từ ngày 24/7 - 21/9 nêncác công trình xây dựng phải ngừng thi công Ví dụ như là doanh nghiệp có thịtrường tiêu thụ cốt lõi là Hà Nội, tiêu thụ xi măng của Công ty xi măng VICEMBút Sơn bị ảnh hưởng nặng nề Ngay cả những thị trường lân cận Thủ đô như VĩnhPhúc, Hưng Yên, Bắc Ninh… thì sản lượng tiêu thụ xi măng cùng giảm do khókhăn trong vận chuyển xi măng, ảnh hưởng bởi việc kiểm soát phương tiện vận tải,tăng chi phí xét nghiệm Covid -19Thị trường xi măng trở nên biến động, vấn đềcung cầu xảy ra và dẫn đến cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp xi măng trên

+ Trong cuộc cạnh tranh này, theo Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam NguyễnQuang Cung, các doanh nghiệp xi măng cần chủ động nâng cao sức cạnh tranh, đồngthời xác định áp lực cạnh tranh sẽ không có điểm dừng, mỗi thời điểm ngành Ximăng cần giải quyết thách thức riêng Nhưng cạnh tranh chính là động lực giúp doanhnghiệp xi măng phát triển Cạnh tranh ở nhiều góc độ nhưng hướng đi duy nhất giúpcác doanh nghiệp xi măng tồn tại và phát triển bền vững, đó là hướng đến nền sản xuấtxanh, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, giảm phát thải và bảo vệ môi trường trong bốicảnh nguồn tài nguyên đang ngày càng cạn kiệt và nhu cầu xi măng để phục vụ xâydựng cơ sở hạ tầng cho đất nước sẽ ngày càng tăng

 Cụ thể về bức tranh thị trường Xi măng nửa đầu năm 2021 như sau:

+ Sản lượng sản xuất xi măng toàn ngành trong 6 tháng đầu năm 2021 đạt 51.1 triệutấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2020 Đây là mức sản lượng sản xuất cao nhất trong

5 năm gần đây và đã thực hiện được xấp xỉ 50% so với kế hoạch sản xuất cả năm (104

- 107 triêu tấn) Cụ thể là những đơn vị thuộc Tổng Công ty Vicem có sản lượng tăng8.5% so với cùng kỳ, trong đó Vicem Hà Tiên chiếm tỷ trọng lượng sản xuất lớn nhấttăng 9.6% Ngược lại các doanh nghiệp xi măng thuộc khối liên doanh ghi nhận mứcgiảm 4.6% so với cùng kỳ

Trang 20

Tính đến thời điểm hiện tại có 24 dây chuyền được Thủ tướng Chính phủ cho phépđầu tư đến năm 2030 với tổng công suất 36,31 triệu tấn Như vậy, dự kiến đến năm

2030, cả nước có 109 dây chuyền sản xuất xi măng với tổng công suất 140,35 triệu tấnmột năm

Từ 2020 đến nay, chỉ có thêm 2 dây chuyền mới đi vào vận hành: dự án nhà máy Ximăng Tân Thắng (Nghệ An) và dây chuyền 3 nhà máy Xi măng Long Sơn - tại ThanhHóa Và đến cuối năm nay, dự kiến cũng chỉ có 1 dự án dây chuyền 4 của Xi măngLong Sơn đi vào vận hành Ngoài ra, có 1 số dự án trong Quy hoạch ngành đã khởicông và dự kiến đi vào sau 2022 là:

Theo Hiệp Hội Xi măng, tổng sản lượng tiêu thụ 5 tháng đầu năm 2021 toàn ngànhkhoảng 45,83 triệu tấn, tăng 16% so với năm 2020 Trong đó, riêng sản lượng xuất

Ngày đăng: 15/03/2022, 10:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w