ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ( BÀI TẬP TIỂU LUẬN MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI 2 ĐỀ BÀI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG CÁC BIỆN PHÁP NGOÀI TÒA ÁN HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI Thực hiện Tên sinh viên Mã sinh viên Ngày sinh Mã lớp học phần BSL2002 3 Hà Nội Năm 2022 MỤC LỤC 1LỜI MỞ ĐẦU 1NỘI DUNG 1I KHÁI QUÁT VỀ HOÀ GIẢI THƯƠNG MẠI 11 1 Khái niệm và đặc điểm của hòa giải thương mại 31 2 Vai trò của hòa giải thương mại 4II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI 8III BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TỪ.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
- -BÀI TẬP TIỂU LUẬN MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI 2
ĐỀ BÀI: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG CÁC BIỆN PHÁP NGOÀI TÒA ÁN HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI
Thực hiện:
Tên sinh viên:
Mã sinh viên:
Ngày sinh:
Mã lớp học phần: BSL2002 3
Hà Nội - Năm 2022
Trang 2M C L C Ụ Ụ
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I KHÁI QUÁT VỀ HOÀ GIẢI THƯƠNG MẠI 1
1.1 Khái niệm và đặc điểm của hòa giải thương mại 1
1.2 Vai trò của hòa giải thương mại 3
II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI 4
III BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TỪ VIỆC THAM KHẢO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VỀ HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI 8
KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Hòa vào sự phát triển kinh tế chung trên toàn thế giới, kinh tế Việt Nam chúng ta cũng từng bước phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ Với sự gia tăng các hoạt động hợp tác kinh tế như vậy điều tất yếu đi kèm là việc xảy ra các xung đột, tranh chấp thương mại giữa các doanh nghiệp sẽ diễn ra nhiều hơn
và diễn biến phức tạp hơn Thông thường khi có tranh chấp thương mại xảy ra các bên sẽ tiến hành đàm phán, thương lượng, hòa giải với nhau trước khi buộc phải mang ra Trọng tài, Tòa án để giải quyết tranh chấp Mỗi phương thức đều có những đặc điểm phù hợp riêng với từng vụ việc cần giải quyết Trong các phương thức trên thì phương thức hòa giải rất được ưa chuộng đối với những nền kinh tế phát triển trên thế giới vì những lợi ích, ưu điểm mà nó đem lại như tiết kiệm thời gian, chi phí, giảm sự căng thẳng, đối đầu nhau giữa các bên… Đặc biệt để phù hợp với thông lệ quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh các tranh chấp thương mại, kinh tế ngày càng gia tăng,
Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS 2015) đã có quy định mới về công nhận kết quả hoà giải thành ngoài Toà án và gần đây nhất, ngày 24/02/2017 Chính phủ đã ban hành Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hoạt động hòa giải
thương mại Với ý nghĩa đó, em xin lựa chọn chủ đề 9: “Giải quyết tranh
chấp thương mại bằng các biện pháp ngoài tòa án” Tuy nhiên, trong phạm
vi chủ đề này, em xin giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài về nghiên cứu quy định pháp luật về hoà giải thương mại
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT VỀ HOÀ GIẢI THƯƠNG MẠI
I.1 Khái niệm và đặc điểm của hòa giải thương mại
Dưới góc độ học thuật, khái niệm hòa giải đã được sử dụng lâu đời để phản ánh việc giải quyết tranh chấp giữa các bên với tinh thần thiện chí, có sự tham gia của bên thứ ba, là quá trình mà tại đó hòa giải viên tạo điều kiện giao tiếp và đàm phán giữa các bên để hỗ trợ các bên đó trong việc cố gắng đạt được một thỏa thuận tự nguyện về việc giải quyết tranh chấp của họ.1
1 Lê Thị Hoàng Thanh (2012), Chuyên đề “Hoàn thiện cơ chế hòa giải ở Việt Nam, bài học từ kinh nghiệm các nước”, Thông tin Khoa học pháp lý, Viện khoa học pháp lý, Bộ tư pháp, số 9 và 10/2012 , tr.4
Trang 4Theo pháp luật Việt Nam, tại Khoản 2 Điều 317 Luật thương mại năm
2005 quy định về hình thức giải quyết tranh chấp thương mại đã chỉ rõ: “Hòa
giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đượ các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải” Khoản 1 Điều 3 Nghị định
22/2017/NĐ-CP về hoà giải thương mại quy định: “Hòa giải thương mại là phương thức
giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định của Nghị định này”.
Như vậy, có thể định nghĩa về hoà giải thương mại là một trong các
phương thức giải quyết tranh chấp thương mại, theo đó, nội dung tranh chấp chủ yếu liên quan đến hoạt động có mục đích sinh lợi Việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại được diễn ra theo một trình tự, thủ tục tự nguyện, bảo mật với sự tham gia của các bên tranh chấp và bên thứ ba trung lập (gọi là hòa giải viên thương mại) do các bên lựa chọn Hòa giải viên thương mại trợ giúp các bên tranh chấp đạt được một sự đồng thuận trên cơ sở
tự quyết
Từ quy định của pháp luật và định nghĩa trên, có thể thấy hòa giải thương mại có đặc điểm như sau:
Thứ nhất, hoạt động hòa giải luôn có sự tham gia của bên thứ ba – bên
trung lập để giúp các bên tranh chấp giải quyết xung đột của họ Bên thứ ba được gọi là hòa giải viên, là người độc lập, khách quan trong khi tiến hành hòa giải
Thứ hai, hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất lựa
chọn và phi tố tụng Mặc dù cùng thuộc phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, nhưng hòa giải khác trọng tài ở chỗ đây là phương thức phi tố tụng, giải quyết tranh chấp không thông qua một cơ quan tài phán nào Với ý nghĩa đó, hòa giải phản ánh đầy đủ quyền tự chủ, tự định đoạt của các bên trong quan hệ kinh doanh, thương mại Hòa giải thương mại không phải một phương thức có tính chất bắt buộc hay cưỡng chế đối với các bên
Trang 5Thứ ba, các bên tranh chấp tham dự quá trình hòa giải để đạt được một
thỏa thuận cho việc giải quyết tranh chấp và xây dựng quyết định của chính mình Quan hệ kinh doanh, thương mại là một bộ phận của quan hệ tư với bản chất là sự tự định đoạt của các bên, không ai có quyền quyết định thay cho các bên về lợi ích của chính họ Do đó, các bên chủ thể được quyền tự nguyện bước vào một mối quan hệ, tự thỏa thuận các vấn đề trong mối quan hệ ấy mà không trái với quy định pháp luật và đạo đức xã hội
Thứ tư, hòa giải thiết lập một môi trường giao tiếp an toàn, thân thiện
giữa các bên tranh chấp Đây là phương thức giải quyết tranh chấp theo quy trình do các bên thỏa thuận hoặc theo quy tắc của một tổ chức hóa giải, hoặc theo quy định pháp luật Theo đó, thủ tục hòa giải có tính linh hoạt, không cứng nhắc như các thủ tục giải quyết tranh chấp mà bên giải quyết tranh chấp đưa ra phán quyết như ở Trọng tài và Tòa án Bên cạnh đó, hòa giải thương mại không phải một quy trình tranh tụng có tính xét xử, nên mô hình này đáp ứng được nhu cầu về việc giải quyết tranh chấp một cách thân thiện Bởi khi quyết định lựa chọn hòa giải, các bên không nhằm tối đa hóa lợi ích của mình
mà tìm ra một giải pháp đôi bên cùng có lợi
Thứ năm, hòa giải có thể là một quá trình độc lập hoặc một phần của
thủ tục tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài Ngoài ra, hòa giải không làm ảnh hưởng đến việc các bên sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp khác
I.2 Vai trò của hòa giải thương mại
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, hòa giải thương mại có những vai trò cơ bản như sau:
Thứ nhất, hòa giải thương mại đề cao và đảm bảo yếu tố tự quyết.
Trong hòa giải, các bên tranh chấp có thể nói chuyện, trao đổi, đàm phán và thảo luận về các giải pháp trong toàn bộ quá trình Các bên có quyền tự do bày
tỏ, thể hiện và bảo vệ cho quan điểm của minh Đây là một vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp của hòa giải Hòa giải đem lại cơ hội cho các bên trình bày, giải thích và đưa ra lời xin lỗi với nhau Các bên
Trang 6trực tiếp tham gia vào giải quyết chính tranh chấp của mình, có quyền quyết định với toàn bộ nội dung, kết quả hoà giải
Thứ hai, giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại có thể duy trì
hoặc cải thiện mối quan hệ giữa các bên nhờ việc xem xét đến lợi ích và quan tâm thực tế của các bên Hoà giải ít phụ thuộc vào các quy tắc, nguyên tắc, mà chủ yếu dựa vào con người
Thứ ba, hòa giải thương mại góp phần giảm tải gánh nặng cho hệ thống
tòa án Khi hòa giải thương mại phát triển, tạo thêm một sự lựa chọn cho thương nhân khi có tranh chấp xảy ra, hạn chế các vụ kiện tranh chấp thương mại tại Tòa án, tránh lãng phí thời gian, công sức và tài chính cho cả thương nhân và Nhà nước Do đó, việc nghiên cứu và phát triển hòa giải ngoài Tòa án
sẽ hạn chế được những nhược điểm như hạn chế việc kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp tại cơ quan tố tụng và giúp được các bên đạt được thỏa thuận một cách triệt để
II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI
Hoà giải có thể nói là một bước tiến cao hơn của thương lượng, bởi theo quá trình phát triển tự nhiên, khi bản thân hai bên tranh chấp mặc dù đã đưa ra lựa chọn tốt nhất có thể của mình nhằm giải quyết bất đồng nhưng vẫn không thể làm hài hoà mối quan hệ, việc tìm đến một bên thứ ba để có cái nhìn khách quan hơn là một điều tất yếu xảy ra Tại Việt Nam, theo các quy định của pháp luật hiện hành, hòa giải thương mại có các quy định như sau:
Thứ nhất, quy định về điều kiện hành nghề hòa giải viên thương mại.
Hòa giải viên thương mại là cá nhân trực tiếp thực hiện việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương pháp hòa giải Theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP thì hòa giải viên thương mại bao gồm hòa giải viên thương mại vụ việc và hòa giải viên thương mại của tổ chức hòa giải thương mại được các bên lựa chọn hoặc được tổ chức hòa giải thương mại chỉ định theo đề nghị của các bên để hỗ trợ các bên giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật
Trang 7Như vậy, tại Việt Nam, hòa giải viên thương mại có thể thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ hòa giải dưới tư cách độc lập hoặc với tư cách hòa giải viên của một tổ chức hòa giải Để thực hiện hoạt động hòa giải hợp pháp, hòa giải viên thương mại cần đáp ứng 2 yếu tố, đó là: đáp ứng các tiêu chuẩn của hòa giải viên theo quy định của pháp luật và được công nhận bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc một tổ chức hòa giải
Trước đây, hoạt động hoà giải thương mại ngoài tố tụng không chịu sự điều chỉnh của pháp luật Do vậy, thoả thuận giữa các bên cũng không có cơ chế bảo đảm thi hành về mặt pháp lý Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hoà giải thương mại ra đời đã luật hoá hoạt động hoà giải thương mại nhưng vẫn giữ đúng tinh thần của phương thửc hoà giải, hoà giải viên chỉ có vai trò hỗ trợ các bên đạt được thoả thuận
Như vậy, kể từ khi Nghị định 22/2017/NĐ-CP có hiệu lực, các bên có thể hoà giải theo phương thức truyền thống là tự hoà giải với nhau hoặc có thể lựa chọn hoà giải theo Nghị định 22/2017/NĐ-CP Trường hợp các bên lựa chọn tự hoà giải với nhau mà không thông qua các tổ chức có chức năng hoà giải theo quy định pháp luật, thoả thuận đạt được, nếu có, giữa các bên, sẽ không chịu bất kỳ ràng buộc nào về mặt pháp lý Việc thực hiện thoả thuận phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí, sự tự nguyện của các bên
Thứ hai, quy định pháp luật về tổ chức hòa giải thương mại
Hoà giải là một phương thức giải quyết tranh chấp thay thế rất phổ biến trên thế giới và cũng đã xuất hiện từ rất lâu, tuy nhiên trước năm 2017 tại Việt Nam hoạt động này chưa được điều chỉnh bởi bất kỳ thiết chế pháp luật nào Trong bối cảnh ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn phương thức trọng tài để giải quyết tranh chấp trước khi lựa chọn tòa án, điển hình là theo Báo cáo Đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2016, có đến 47% doanh nghiệp Việt Nam sử dụng trọng tài để giải quyết tranh chấp thay cho phương thức tòa án truyền thống, đồng thời việc lựa chọn phương thức dùng tòa án để giải quyết tranh chấp của doanh nghiệp hiện nay đang giảm dần từ 60% (năm 2013) xuống 36% (năm 2016), thì sự ra đời của Nghị định
Trang 822/2017/NĐ-CP hứa hẹn sẽ là xu hướng giải quyết tranh chấp mới được ưa chuộng và dần thay thế cho Trọng tài và Toà án.2
Theo pháp luật hiện hành, hiện nay ở Việt Nam tổ chức hòa giải thương mại bao gồm: Trung tâm hòa giải thương mại và trung tâm trọng tài thương mại thực hiện hoạt đọng hòa giải thương mại Các tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài chỉ được hoạt động ở Việt Nam dưới tư cách chi nhánh và văn phòng đại diện Sau khi Nghị định 22/2017/NĐ-CP ra đời, ngày 28/04/2018, VIAC đã thành lập Trung tâm hoà giải Việt Nam VMC, như vậy, VMC chính thức trở thành trung tâm hoà giải đầu tiên tại Việt Nam được thành lập họp pháp theo quy định của Nghị định 22/2017/NĐ-CP và có chức năng cung cấp dịch vụ hoà giải, VMC đã ban hành Quy tắc hoà giải mới bắt đầu áp dụng từ 01/07/2018 Đến thời điểm hiện tại, mới chỉ có một Trung tâm hoà giải duy nhất theo Nghị định 22/2017/NĐ-CP được thành lập là VMC, đồng thời cũng chưa ghi nhận vụ tranh chấp nào được đưa đến hoà giải tại Trung tâm trọng tài này theo trình tự, thủ tục của Nghị định 22/2017/NĐ-CP Kéo theo đó, cũng chưa có yêu cầu nào yêu cầu công nhận kết quả hoà giải thành ngoài Toà án được ghi nhận
Một số đặc trung chung của tổ chức hòa giải thương mại có thể kể đến như: tổ chức hòa giải thương mại là một tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại; đây là một tổ chức tư, không có chức năng kinh doanh, không hoạt động dưới tư cách doanh nghiệp; tổ chức hòa giải thương mại là tổ chức có chức năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ các bên (chủ yếu là thương nhân trong quá trình giải quyết tranh chấp)
Thứ ba, quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại.
Về nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại theo quy định tại Điều 4 Nghị định 22/2017/NĐ-CP, bao gồm: các bên tranh chấp tham gia hòa giải hoàn toàn tự nguyên và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải phải được giữ bí mật, trừ trường hợp
Trang 9có thỏa thuận bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; nội dung thỏa thuận hòa giải không vi phạm điều cấm của pháp luật, đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, không xâm phạm đến bên thứ ba
Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại có 2 yếu
tố để xác định là: thẩm quyền do Nhà nước trao cho (dựa trên phạm vi giải quyết tranh chấp theo quy định pháp luật) và thẩm quyền do các bên trao cho (dựa trên thỏa thuận hòa giải)
Theo Điều 2 Nghị định 22/2017/NĐ-CP quy định phạm vi giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại bao gồm: Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; Tranh chấp giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại Như vậy, có thể hiểu phạm vi thẩm quyền của hòa giải thương mại không chỉ bao gồm các tranh chấp thương mại, mà còn có thể mở rộng ra các loại tranh chấp khác với điều kiện pháp luật chuyên ngành quy định về việc sử dụng phương thức hòa giải thương mại
Đối với nền tảng của hòa giải thương mại là việc các bên thỏa thuận về việc sử dụng phương thức hòa giải trong tranh chấp thương mại thì thỏa thuận
đó cần có tính chất: tính tự nguyện, tính lựa chọn, tính độc lập Theo quy định hiện hành thì các bên vừa có thể giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, vừa có thể kết hợp giải quyết mâu thuẫn bất đồng bằng các phương thức như trọng tài, tòa án Điều này khác biệt với trọng tài thương mại, theo đó thỏa thuận trọng tài thương mại sẽ loại trừ việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án Đặc tính này của thỏa thuận trong hòa giải thương mại ngoài Tòa án dựa trên đặc trưng
“hòa giải không làm ảnh hướng để việc sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp khác”…
Thứ tư, quy định về vai trò của Nhà nước đối với hoạt động hòa giải thương mại
Chính phủ giao thẩm quyền quản lý thống nhất về hòa giải thương mại cho Bộ tư pháp Bộ tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện thống nhất
Trang 10quản lý nhà nước về hòa giải thương mại trong phạm vi cả nước, có những nhóm nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Nghị định 22/2017/NĐ-CP Đồng thời, Chính phủ phân cấp thẩm quyền cho UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý hòa giải tại địa phương
Quy định hiện hành tại Nghị định 22/2017/NĐ-CP không phản ánh vai trò hỗ trợ của Nhà nước trong hoạt động thương mại ở cơ quan quản lý Nhà nước cấp địa phương mà chỉ thực hiện ở cấp Trung ương là Bộ tư pháp Do
đó, hiện nay các quy định về vai trò của Nhà nước đối với hoạt động hòa giải cho thấy việc quản lý hành chính vẫn còn nặng nề, chưa chú trọng vào các biện pháp hỗ trợ và thúc đẩy Quy định hiện hành còn chưa có quy định về các
tổ chức xã hội – nghề nghiệp trong lĩnh vực hòa giải thương mại
III MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TỪ VIỆC THAM KHẢO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VỀ HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI
Hiện nay, xu thế chung của thế giới là khuyến khích giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, đặc biệt là trọng tài và hòa giải Do đó, để hòa giải thương mại thực sự hiệu quả, cần có các giải pháp như sau:
Thứ nhất, xây dựng Luật về hòa giải.
Dễ thấy một xu hướng chung trên thế giới hiện nay là việc khuyến khích giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, đặc biệt là trọng tài và hòa giải Các quốc gia, đặc biệt ở khu vực Châu Âu và Châu Á đã ngày càng chú ý đến phương thức này và lần lượt ban hành các văn bản pháp luật riêng biệt để điều chỉnh phương thức hòa giải một cách độc lập Ví dụ điển hình ở Châu Âu là Cộng hòa Liên bang Đức, một quốc gia với một truyền thống phát triển hệ thống Tòa án khá mạnh mẽ, phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn đã không thể hiện nhiều vai trò trong một khoảng thời gian dài.3 Việc sử dụng phương thức hòa giải cũng chưa phải là một cách thức ưa thích của thương nhân Công hòa liên bang Đức Trong khi đó, hòa giải ngoài Tòa án vẫn tỏ ra yếu thế hơn
so với hòa giải tại Tòa án Dường như đây là một thực trạng chung đối với cá