ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI 2 ĐỂ TÀI NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG HOÀ GIẢI Thực hiện Mã sinh viên Mã lớp học phần BSL2002 3 Hà Nội – Tháng 42022 Mục lục MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 3 I Cơ sở lý luận về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải 3 1 Khái quát về tranh chấp thương mại 3 2 Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thương mại 4 II Cơ sở pháp lý đối với giải quyết tranh chấp thương mại.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-& -BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI 2
ĐỂ TÀI: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG HOÀ GIẢI
Thực hiện:
Mã sinh viên:
Mã lớp học phần: BSL2002 3
Hà Nội – Tháng 4/2022
Trang 2Mục lục
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I Cơ sở lý luận về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải: 3
1 Khái quát về tranh chấp thương mại: 3
2 Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thương mại: 4
II Cơ sở pháp lý đối với giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải: 8
III Một số vấn đề thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hoà giải: 10
3.1 Một số vấn đề thực tiễn: 10
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện: 12
KẾT LUẬN 13
Tài liệu tham khảo 13
Trang 3MỞ ĐẦU
Pháp luật Việt Nam công nhận các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bao gồm: thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án Theo đó khi xảy ra tranh chấp các bên có thể thương lượng với nhau để giải quyết, trường hợp không thương lượng được thì có thể thực hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua hòa giải, trọng tài hoặc tòa án Mỗi phương thức đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng nhưng nhìn chung đều hướng tới việc giải quyết xung đột giữa các bên, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của các bên khi tham gia vào hoạt động kinh doanh thương mại Trong các phương thức giải quyết tranh chấp, bên cạnh thương lượng và trọng tài thì phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải rất phổ biến trên thế giới, đặc biệt được ưa chuộng tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển do những ưu điểm vượt trội của phương thức này so với phương thức tố tụng
vì vậy, việc nghiên cứu nhằm thúc đẩy sự phát triển và áp dụng rộng rãi của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải tại Việt Nam là cần thiết Do đó, em xin
được trình bay về: “Những vẫn đề lý luận, pháp luật và thực tiễn về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hoà giải”
Trang 4NỘI DUNG
1 Khái quát về tranh chấp thương mại:
1.1 Khái niệm tranh chấp thương mại:
Ở Việt Nam, khái niệm tranh chấp thương mại trong từng giai đoạn là khác nhau cũng có nhiều cách hiểu khác nhau Lần đầu tiên khái niệm tranh chấp thương mại được ghi nhận trong Luật Thương mại năm 1997 Hiện nay, Luật Thương mại năm 2005 đã đưa ra một khái niệm về hoạt động thương mại theo đó khái niệm này mở rộng hoạt động thương mại bao gồm tất cả mọi hoạt động có mục đích sinh lợi
Theo đó, tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột về quyền
và nghĩa vụ giữa các chủ thể (có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân) trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại (các hoạt động có mục đích sinh lời)
1.2 Đặc điểm của tranh chấp thương mại:
Tranh chấp kinh doanh thương mại là tranh chấp phát sinh từ những quan hệ do ngành luật thương mại điều chỉnh, vì vậy nó có những đặc trưng khác biệt so với tranh chấp dân sự và tranh chấp lao động Về cơ bản tranh chấp kinh doanh thương mại có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (trạng thái xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ thương mại
- Thứ hai, những mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phải phát sinh từ hoạt động thương mại
- Thứ ba, về chủ thể, tranh chấp thương mại chủ yếu là những tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân (cá nhân, pháp nhân) kinh doanh với nhau
- Thứ tư, việc giải quyết tranh chấp thương mại là do các bên trong tranh chấp tự định đoạt
1.3 Khái niệm giải quyết tranh chấp thương mại:
Giải quyết tranh chấp thương mại có thể được hiểu là việc lựa chọn các hình thức, biện pháp thích hợp để giải tỏa các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lập lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên bị vi phạm Việc giải
Trang 5quyết tranh chấp thương mại là yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế đang ngày càng hội nhập của Việt Nam và nó cần phải đáp ứng những yêu cầu về đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể; giữ gìn bí mật kinh doanh và uy tín của các bên tranh chấp; không làm hạn chế hay cản trở hoạt động thương mại; nhanh chóng khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác và tín nhiệm của các bên trong hoạt động thương mại, đảm bảo chi phí giải quyết tranh chấp là ít tốn kém nhất
Tóm lại, giải quyết tranh chấp thương mại là quá trình các bên trong quan hệ tranh chấp tìm ra các phương thức, biện pháp để tháo bỏ những xung đột, mâu thuẫn về lợi ích của các bên
2 Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thương mại:
2.1 Khái niệm:
Theo định nghĩa của giáo trình luật thương mại thì “Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh”
Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP Nghị định về hòa giải thương mại định nghĩa “Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định của Nghị định này”
Qua đó, ta có thể rút ra khái niệm: “Hòa giải thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên cùng thỏa thuận chấp nhận hay chỉ định giữ vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên tìm kiếm giải pháp thích hợp giúp chấm dứt những mâu thuẫn, xung đột đang tồn tại giữa các bên”
2.2 Đặc điểm:
- Thứ nhất, việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải có sự hiện diện của bên thứ ba đóng vai trò là hòa giải viên để trợ giúp các bên tìm kiếm giải pháp tối ưu nhằm loại trừ tranh chấp, xung đột
- Thứ hai, giống như thương lượng, hòa giải là giải pháp tự nguyện, tùy thuộc vào sự tự nguyện và thiện ý của các bên tham gia tranh chấp
Trang 6- Thứ ba, văn bản về kết quả hòa giải thành được xem xét công nhận theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Tức là khi văn bản hòa giải thành được công nhân bởi Tòa
án thì nó có giá trị như một bản án, vì vậy nó có hiệu lực buộc phải thực hiện
Từ những đặc điểm trên có thể rút ra được bản chất của hòa giải thương mại như sau: Hòa giải là quá trình các bên đàm phán với nhau về việc giải quyết tranh chấp với sự trợ giúp của một bên thứ ba độc lập Hòa giải khác với thương lượng ở sự có mặt của bên thứ ba và cũng khác phương thức trọng tài ở chỗ, hòa giải viên không có quyền xét xử và
ra phán quyết như trọng tài viên Vai trò của hòa giải viên trong quá trình hòa giải chỉ dừng lại ở việc khuyến khích và trợ giúp các bên tìm ra một giải pháp mang tính thực tế
mà tất cả các bên liên quan đều có thể chấp nhận sau khi xem xét, nghiên cứu những lợi ích và nhu cầu của họ
2.3 Nguyên tắc hoà giải:
Hòa giải thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại độc lập với tố tụng tòa án và trọng tài và được tiến hành bởi một cơ quan có chức năng hòa giải độc lập Hòa giải thương mại được tiến hành theo nguyên tắc quy định tại Điều 4 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP như sau:
- Thứ nhất, hòa giải mang tính chất tự nguyện, thể hiện ở chỗ các bên tự nguyện đưa tranh chấp ra hòa giải, không bên nào ép buộc bên nào tham gia vào Sự tự nguyện được thể hiện bằng việc các bên có thể quyết định quy trình hòa giải, quyền tự do thỏa thuận về phương pháp, lựa chọn hòa giải viên, tự do ý chí về các giải pháp giải quyết tranh chấp, thỏa thuận lựa chọn phương án giải quyết thích hợp, quyền của các bên chấm dứt hòa giải khi không đạt được mục tiêu
- Thứ hai, nguyên tắc bảo vệ uy tín, các yếu tố bí mật, bí mật kinh doanh của các bên tranh chấp trong hòa giải tranh chấp kinh doanh thương mại Hòa giải là một quá trình giải quyết tranh chấp có tính tự nguyện, riêng tư mà ở đó các bên có thể trao đổi trực tiếp, thẳng thắn với nhau về các tài liệu, chứng cứ liên quan đến tranh chấp trong đó
có cả những vấn đề về bí mật kinh doanh
- Thứ ba, đảm bảo tính khách quan, phù hợp quy định của pháp luật và các tập quán thương mại quốc tế, không trái thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội, không xâm phạm đến quyền lợi ích của bên thứ ba Tính khách quan thể hiện ở chỗ bên thứ ba làm trung
Trang 7gian hòa giải phải đảm bảo sự tin cậy của các bên với những tư vấn, đề xuất phương án giải quyết của hòa giải viên Hòa giải viên không được thể hiện thái độ thiên vị đối với bất cứ bên tranh chấp nào trong việc điều khiển quá trình hòa giải cũng như trong việc đưa ra các nhận định hay ý kiến tư vấn Trong trường hợp một trong các bên thấy hòa giải viên thiên vị vi phạm nguyên tắc khách quan, bên đó có quyền yêu cầu thay đổi hòa giải viên hoặc yêu cầu chấm dứt và rút lui khỏi quá trình hòa giải
2.4 Các phương thức hoà giải:
Theo thông lệ chung thì hòa giải được tiến hành cả ngoài tố tụng và trong tố tụng của tòa án hoặc trọng tài:
- Hòa giải trong thủ tục tố tụng: là việc hòa giải được tiến hành tại Tòa án, trọng tài khi các cơ quan này tiến hành giải quyết tranh chấp theo đơn kiện của một bên Trường hợp hòa giải thành, thẩm phán hoặc trọng tài viên sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên, quyết định này có hiệu lực và được thi hành như một bản án của tòa án hay phán quyết của trọng tài Theo pháp luật Việt Nam, hoạt động hòa giải trong tố tụng tại Tòa án được ghi nhận và quy định trong BLTTDS 2015, từ các Điều
205 đến Điều 213 Hoạt động hòa giải trong tố tụng tại trọng tài được quy định cụ thể tại Điều 58 Luật Trọng tài thương mại năm 2010
- Hòa giải ngoài tố tụng là hình thức hòa giải qua bên thứ ba, được các bên tiến hành trước khi đưa vụ tranh chấp ra cơ quan tài phán như Tòa án hoặc Trọng tài hòa giải thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng
Ngoài ra, qua thực tiễn tổ chức, hoạt động hòa giải ở một số nước, căn cứ vào tổ chức đứng ra thực hiện việc hòa giải, hòa giải được chia ra thành hai hình thức là hòa giải công (public mediation) và hòa giải tư (private mediation) Hòa giải công do các cơ quan nhà nước, chủ yếu là do tòa án đứng ra thực hiện Hòa giải tư thường do các tổ chức trọng tài thương mại hoặc các tổ chức hòa giải thương mại chuyên nghiệp tiến hành, hay các bên cũng có thể yêu cầu các cá nhân đứng ra hòa giải (thường là chuyên gia về hòa giải hoặc lĩnh vực đang có tranh chấp)
2.5 Quy trình hoà giải:
Trên thực tế, không có một quy trình hòa giải mang tính thống nhất trên toàn thế giới mà mỗi trung tâm hòa giải và mỗi hòa giải viên sẽ áp dụng những quy trình riêng
Trang 8phù hợp với nội dung và tính chất của vụ tranh chấp Nhìn chung, quy trình hòa giải thường bắt đầu bằng việc hai bên tranh chấp cùng đề nghị hòa giải với hòa giải viên hoặc một tổ chức hòa giải; một bên cũng có thể đơn phương liên hệ với hòa giải viên hoặc với một tổ chức hòa giải để yêu cầu tiến hành hoà giải, khi đó hòa giải viên hoặc tổ chức hòa giải sẽ liên hệ và thuyết phục phía bên kia tham gia hòa giải Việc hòa giải chỉ được thực hiện sau khi có sự đồng ý của cả hai bên tranh chấp Trong quá trình hòa giải, hòa giải viên sẽ áp dụng các kỹ năng giải quyết tranh chấp của mình nhằm giúp các bên thảo luận
và thương lượng với nhau để tìm ra giải pháp cuối cùng cho vụ tranh chấp Trong trường hợp các bên đạt được thỏa thuận, hòa giải viên sẽ giúp các bên soạn thảo thỏa thuận hòa giải một cách chi tiết, bản thỏa thuận này có giá trị pháp lý như một hợp đồng Một trong các bên hoặc bản thân hòa giải viên có quyền chấm dứt hòa giải vào bất cứ giai đoạn nào của quá trình hòa giải khi thấy việc hòa giải sẽ không mang lại hiệu quả (ví dụ khi có bằng chứng để cho rằng một trong các bên thiếu thiện chí…)
2.6 Một số điểm khác biệt giữa hoà giải và trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại:
- Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận hòa giải so với hợp đồng: Khi trong hợp đồng có tồn tại thỏa thuận hòa giải hoặc thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận độc lập với hợp đồng Do vậy, nếu hợp đồng vi phạm điều cấm của luật thì hợp đồng sẽ bị vô hiệu, tuy nhiên thoả thuận trọng tài sẽ không bị ảnh hưởng mà thỏa thuận hòa giải sẽ bị vô hiệu theo hợp đồng
- Về vai trò và thẩm quyền của bên thứ ba, trong quá trình hòa giải, hòa giải viên sẽ giúp các bên tranh chấp hiểu được quan điểm của nhau chứ không quyết định tính đúng sai Kết quả sẽ phụ thuộc vào các bên còn khi giải quyết bằng trọng tài, người ra quyết định sẽ là trọng tài viên
- Về thông tin, chứng cứ đối với phương thức hòa giải, hòa giải viên sẽ khai thác thông tin dựa trên các bên cung cấp Đối với trọng tài, ngoài những tư liệu trên, trọng tài viên sẽ thu thập tài liệu, chứng cứ và lập luận của các bên, hội đồng trọng tài sẽ có thẩm quyền triệu tập người làm chứng nhằm đảm bảo việc giải quyết tranh chấp khách quan và đúng pháp luật
Trang 9- Về mặt kết quả giải quyết tranh chấp thương mại, nếu hòa giải thành công, chấm dứt thủ tục hòa giải sẽ là văn bản kết quả hòa giải thành mà khi đó một bên không thực hiện thì bên còn lại có quyền yêu cầu tòa án công nhận kết quả hòa giải ngoài tòa án Đối với tố tụng trọng tài, phán quyết sẽ có hiệu lực chung thẩm, nếu một bên không thi hành theo thì bên còn lại yêu cầu cơ quan thi hành dân sự cưỡng chế thi hành không cần qua thủ tục công nhận tại tòa
Đối với giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải (hòa giải thương mại), Việt Nam đã ban hành một số quy định nằm rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật như sau:
BLDS 2015 không có quy định cụ thể về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải, tuy nhiên tại khoản 2 Điều 7 về chính sách của Nhà nước đối với quan hệ dân sự quy định: “Trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với qui định của pháp luật được khuyến khích” Có thể thấy, hòa giải luôn là một phương thức giải quyết tranh chấp được khuyến khích sử dụng để giải quyết khúc mắc giữa cá bên do tính hiệu quả mà hòa giải mang lại
Trong các văn bản pháp luật có quy định về hòa giải thương mại phải kể đến một đạo luật quan trọng là Luật Thương mại 2005 Tại Điều 11 Luật Thương mại quy định về nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại: “các bên có quyền
tự do, tự nguyện thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại ” Đồng thời, Luật Thương mại 2005 đã dành riêng mục 2 chương VII với 3 điều để quy định về giải quyết tranh chấp trong thương mại, trong đó Điều 317 quy định
về hình thức giải quyết tranh chấp gồm: “1 Thương lượng giữa các bên 2 Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải 3 Giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án” Ngoài ra, Luật Thương mại 2005 còn đưa ra quy định về thời hạn khiếu nại và thời hiệu khởi kiện tại Điều 318 và Điều
319 bắt buộc các bên có quyền lợi bị vi phạm phải khiếu nại trong thời hạn nhất định
Trang 10Ngoài ra, Luật Đầu tư năm 2014 tại Điều 14 quy định: “Tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải Trường hợp không thương lượng, hòa giải được thì tranh chấp được giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này”
Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 tại Điều 55 quy định về hình thức giải quyết tranh chấp về chất lượng sản phẩm, hàng hóa gồm: “1 Thương lượng giữa các bên tranh chấp về chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2 Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thoả thuận chọn làm trung gian 3 Giải quyết tại trọng tài hoặc toà án Thủ tục giải quyết tranh chấp về chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại trọng tài hoặc toà án được tiến hành theo quy định của pháp luật về tố tụng trọng tài hoặc tố tụng dân sự”
Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 quy định tại khoản 1 Điều 30 quy định về phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cụ thể: “1 Tranh chấp phát sinh giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được giải quyết thông qua: a) Thương lượng; b) Hòa giải; c) Trọng tài; d) Tòa án”
Nghị định số 22/2017/NĐ-CP (Ngày 24/02/2017) Nghị định về hòa giải thương mại ra đời đã quy định khá cụ thể về trình tự, thủ tục, điều kiện,…để giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thương mại (hòa giải ngoài tố tụng)
Tựu chung lại, Việt Nam đã quy định phương thức hòa giải trong các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng trong lĩnh vực luật tư như BLDS 2015, Luật Thương mại 2005,… trước thời điểm Nghị định số 22/2017/NĐ-CP Nghị định về hòa giải thương mại được ban hành thì các quy định về hòa giải thương mại nằm rải rác trong các văn bản pháp luật Sự ra đời của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP đã quy định cụ thể trình tự, thủ tục, điều kiện,…tiến hành giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thương mại
Đó là bước đột phá của pháp luật Việt Nam để đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế thế giới ngày càng phát triển
thương mại bằng hoà giải: