Mục tiêu nghiên cứu của đề tài của tiểu luận Qua tìm hiểu và tổng hợp các nghiên cứu thực tiễn tình hình hoạt động của các phương pháp giải quyết tranh chấp thương mại ngoài Tòa án tại V
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-
-BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN HỌC: LUẬT THƯƠNG MẠI 2 GIẢNG VIÊN: TS HỒ NGỌC HIỀN
MÃ HỌC PHẦN: BSL 2002
ĐỀ TÀI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
BẰNG CÁC BIỆN PHÁP NGOÀI TÒA ÁN TẠI VIỆT NAM
Người thực hiện: Lê Thị Linh Chi
Mã sinh viên: 19061044
Đơn vị: Khoa luật - ĐHQGHN
Hà Nội - Tháng 1, Năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tiểu luận 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
Chương 1 Cơ sở lý luận về các phương pháp giải quyết tranh chấp thương mại
1 Hình thức giải quyết bằng thương lượng 3
2 Hình thức giải quyết bằng hòa giải 3
3 Hình thức giải quyết thông qua trọng tài thương mại 4
Chương 2 Thực tế hiệu quả áp dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài tòa
án trong giải quyết tranh chấp thương mại 5
1 Vướng mắc trong lựa chọn biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án 5
2 Hạn chế trên thực tế của các biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án tại Việt Nam
7
Chương 3 Kiến nghị một số phương án bảo đảm hiệu quả trong áp dụng các biện pháp tranh chấp thương mại ngoài tòa án 9
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển thương mại là một trong những lĩnh vực có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nhưng song hành với sự phát triển ấy, không thể tránh khỏi những mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích Khi tranh chấp xảy ra, để đảm bảo tốt nhất về quyền và lợi ích cũng như mối quan hệ giữa các bên, biện pháp giải quyết tranh chấp phù hợp, tiết kiệm tối đa thời gian và tiền bạc cần được cân nhắc để lựa chọn Ngoài việc tìm tới Tòa
án, các doanh nghiệp còn có thể cân nhắc thêm tới các phương pháp giải quyết mâu thuẫn khác như thương lượng, hòa giải hay trọng tài
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài của tiểu luận
Qua tìm hiểu và tổng hợp các nghiên cứu thực tiễn tình hình hoạt động của các phương pháp giải quyết tranh chấp thương mại ngoài Tòa án tại Việt Nam để đưa ra đánh giá nhất định về sự hiệu quả cũng như đề xuất một số phương án phát triển những phương pháp này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận
- Pháp luật Việt Nam về Thương mại và Giải quyết tranh chấp thương mại
- Thực tế việc sử dụng các phương pháp giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án tại Việt Nam và việc áp dụng các quy định pháp luật đối với các phương pháp này
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận phân tích kết hợp so sánh và tổng hợp
5 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết cấu, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung tiểu luận được cấu tạo thành ba chương:
- Chương I Cơ sở lý luận về các phương pháp giải quyết tranh chấp thương mại ngoài tòa án tại Việt Nam
- Chương II Thực tế hiệu quả áp dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài tòa
án trong giải quyết tranh chấp thương mại
- Chương III Kiến nghị một số phương án bảo đảm hiệu quả trong áp dụng các biện pháp tranh chấp thương mại ngoài tòa án cho Việt Nam
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NGOÀI TÒA ÁN TẠI VIỆT NAM
Tranh chấp thương mại là một hiện tượng phổ biến và thường xuyên diễn ra ương hoạt động của nền kinh tế thị trường Do tính chất thường xuyên cũng như hậu quả của
nó gây ra cho các chủ thể tham gia tranh chấp nói riêng và cho cả nền kinh tế nói chung, pháp luật Việt Nam đã sớm có những quan tâm nhất định đến hoạt động này cũng như các phương thức giải quyết nó thể hiện thông qua các quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật Từ các cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam, có thế hiểu: Tranh chấp thương mại là những tránh mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan
hệ cụ thể, phát sinh từ hoạt động thương mại mà chủ yếu là giữa các thương nhân
Hiện nay, các tranh chấp trong lĩnh vực thương mại được giải quyết theo 4 hình thức, mỗi hình thức sẽ có những đặc điểm khác nhau tạo nên các ưu điểm và nhược điểm riêng của từng hình thức Bài tiểu luận này trọng tâm khai thác các vấn đề xoay quanh những hình thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, gồm: thương lượng, hòa giải và trọng tài
1 Hình thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng
1.1 Khái niệm thương lượng
Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng để loại bỏ tranh chấp mà không cần sự trợ giúp hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào
1.2 Bản chất của phương pháp thương lượng
Hình thức thương lượng được thực hiện bởi cơ chế tự giải quyết thông qua sự bàn bạc, thỏa thuận giữa các bên mà không cần sự hiện diện của bên thứ ba để trợ giúp hay đưa ra phán quyết Quá trình này không chịu sự ràng buộc bởi bất kỳ nguyên tắc pháp lý hay quy định của pháp luật về thủ tục và việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của mỗi bên mà không có bất kỳ cơ chế pháp lý bảo đảm việc thực thi đối với thỏa thuận Chính bởi vậy mà thực chất, kết quả của quá trình thương lượng được thực hiện bởi cơ chế giải quyết nội bộ Thể hiện quyền tự do thỏa thuận, định đoạt của các bên tranh chấp
1.3 Căn cứ pháp lý
Hiện tại pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể nào về phương pháp giải quyết tranh chấp bằng thương lượng
2 Hình thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại
2.1 Khái niệm hoà giải thương mại
Hoà giải thương mại hay hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba là những hòa giải viên làm trung gian hoà giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tìm kiếm các giải pháp thích hợp trong quá trình cùng nhau bàn bạc, dàn xếp nhằm loại trừ tranh chấp
Trang 52.2 Bản chất của phương pháp hoà giải thương mại
Về bản chất, phương pháp hoà giải có sự hiện diên của bên thứ ba (do các bên tự lựa chọn để trợ giúp tìm kiếm giải pháp tối ưu) Khác với thương lượng thì phương pháp này luôn có sự xuất hiện của người thứ ba, nhưng bên thứ ba này không có quyền quyết định hay áp đặt bất cứ vấn đề gì nhằm ràng buộc các bên tranh chấp Quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về các bên
Quá trình giải quyết tranh chấp không chịu sự chi phối bởi các quy định có tính khuôn mẫu, bắt buộc của pháp luật về thủ tục hòa giải và kết quả được thực thi không mang tính ràng buộc hay bắt buộc thi hành mà hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện, tự giác của các bên giống như thương lượng
2.3 Căn cứ pháp lý
Hiện tại, các quy định về hoà giải thương mại được ghi rõ trong Nghị định 22/2017/NĐ-CP và mới đây là Luật hòa giải đối thoại tại Toà án 2020 đối với công tác hòa giải của những vụ tranh chấp được giải quyết tại Tòa án
3 Hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
3.1 Khái niệm trọng tài thương mại
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại năm 2010 “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật trọng tài thương mại”
3.2 Bản chất của phương pháp trọng tài thương mại
Về hình thức pháp lý, trọng tài thương mại là một tổ chức phi Chính phủ, hoạt động theo pháp luật và quy chế về trọng tài thương mại Nhà nước không can thiệp sâu vào các hoạt động của cơ quan trọng tài, nhưng sẽ thực hiện vai trò quản lý của mình thông qua
hệ thống các quy định pháp luật, cũng như những tác động khác như tham gia điều ước quốc tế, đào tạo, hỗ trợ kinh phí và cơ sở vật chất…
Về nguyên tắc, trọng tài là sự kết hợp của hai yếu tố thỏa thuận và tài phán Một trong những nguyên tắc cơ bản của trọng tài đó là thẩm quyền được hình thành từ ý chí thỏa thuận của các bên tranh chấp
Về hình thức, trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức cơ bản đó là trọng tài vụ việc - ad hoc (được lập ra theo yêu cầu của các bên để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và tự giải thể khi tranh chấp đã được giải quyết) và trọng tài quy chế (được thành lập dưới dạng các trung tâm, tổ chức hoặc hiệp hội, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có trụ sở cố định)
Về giá trị của phán quyết, phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trước bất kỳ cơ quan, hay tổ chức nào Trọng tài chỉ xét xử một lần, phán quyết có giá trị chung thẩm, và nếu không bị hủy thì phán quyết sẽ được chuyển sang Cơ quan thi hành án
Và pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng như pháp luật của Việt Nam cũng đều ghi nhận sự hỗ trợ của Tòa án đối với việc tổ chức và hoạt động của trọng tài
3.3 Căn cứ pháp lý
Trang 6Hiện các quy định pháp luật về trọng tài thương mại được nêu tại Luật trọng tài thương mại 2010 (TTTM)
CHƯƠNG II THỰC TẾ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRANH CHẤP NGOÀI TÒA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
1 Vướng mắc trong lựa chọn biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án
Nhìn chung, đối với các biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án thì tính linh hoạt, mềm dẻo trong thủ tục, bảo đảm quyền định đoạt của các bên mà không bị ràng buộc bởi thủ tục tố tụng so với biện pháp giải quyết tranh chấp sử dụng Toà án Nhưng để mâu thuẫn có thể được giải quyết tốt nhất, các doanh nghiệp cũng cần nắm có sự lựa chọn tốt nhất phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp của mình
1.1 Ưu nhược điểm của các biện pháp tranh chấp ngoài Tòa án so với Toà án
Tiêu
chí Thương lượng Hoà giải Trọng tài Toà án
Ưu
điểm - Thuận tiện,nhanh chóng,
đơn giản, linh hoạt, hiệu quả
và ít tốn kém;
- Bảo vệ được
uy tín của các bên và bí mật kinh doanh;
- Không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý
- Thuận tiện, nhanh chóng, đơn giản, linh hoạt, ít tốn kém và hiệu quả với sự hỗ trợ của hoà giải viên cho cả hai bên;
- Kết quả được chứng kiến và ghi nhận bởi hoà giải viên;
- Không bị ràng buộc nhiều bởi các thủ tục pháp lý
- Linh hoat, nhanh chóng, thường không mất nhiều thời gian;
- Giải quyết tranh chấp không công khai, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác => Bảo đảm uy tín và bí mật kinh doanh;
- Phán quyết mang tính chung thẩm, các bên đều có nghĩa vụ thực hiện
- Mang tính chất cưỡng chế cao, bắt buộc các bên phải thi hành;
- Phán quyết chính xác, công bằng, khách quan và tuân theo pháp luật;
- Chi phí thấp hơn so với các
tổ chức trọng tài
Trang 7điểm - Kết quả giảiquyết phụ
thuộc vào thiện chí, thái
độ của các bên;
- Chưa có pháp luật điều chỉnh rõ ràng
=> Việc thực thi kết quả không được đảm bảo và
dễ bị lợi dụng
- Kết quả giải quyết phụ thuộc vào thiện chí, thái
độ của các bên và trình độ của hoà giải viên;
- Thiếu cơ sở pháp
lý liên quan đến thủ tục, hiệu lực
và trách nhiệm, của hoà giải viên
=> Dễ bị lợi dụng;
- Tốn kém chi phí hơn thương lượng
- Phán quyết vẫn còn phụ thuộc nhiều vào
sự tự nguyện của các bên và trong một số trường hợp có thể bị ảnh hưởng bởi quyết định của Toà án;
- Bắt buộc phải có sự thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài của các bên;
- Thời gian tranh chấp càng kéo dài, càng tốn kém chi phí
- Thủ tục thiếu linh hoạt, thời gian giải quyết kéo dài do tuân theo quy định pháp luật về thủ tục;
- Xét xử công khai => Không bảo mật được
uy tín, bí mật kinh doanh của các bên tranh chấp
_ Bảng số 1 _
1.2 Khác biệt trong vai trò của người thứ ba hiện diện trong quá trình giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án
Sự khác biệt cơ bản giữa trọng tài và hòa giải viên là trọng tài là quá trình mà các bên lựa chọn một người độc lập ngoài việc hòa giải, còn phải giải quyết tranh chấp phát sinh
và phán quyết của trọng tài có sự áp đặt đối với các bên Ngược lại, hòa giải cố gắng làm cho các bên đi đến một thỏa thuận về vấn đề đang xảy ra và chỉ mang tính chất trung gian, thuyết phục các bên tránh việc tranh chấp chứ không có quyền áp đặt Cụ thể:
- Trọng tài đề cập đến một phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó ban quản lý và lao động trình bày quan điểm tương ứng của họ cho bên thứ ba trung lập, người đưa
ra quyết định và áp đặt nó Hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp, trong
đó một cá nhân độc lập, người gặp gỡ các bên cùng nhau và riêng lẻ và giúp họ đi đến thỏa thuận thương lượng hoặc giải quyết những khác biệt của họ
- Quyết định của trọng tài được các bên liên quan chấp nhận Mặt khác, hòa giải viên không có quyền thi hành quyết định của mình
- Mỗi hoà giải viên thương mại chỉ cần 02 năm kinh nghiệm công tác chuyên môn đào tạo đại học Trong khi đó, trọng tài viên phải có 05 năm kinh nghiệm công tác chuyên môn đào tạo đại học
So với phán quyết của trọng tài, hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp khá cởi mở Hiện nay, tại Việt Nam, phương thức hòa giải thường được tiến hành kết hợp với phương thức tố tụng trọng tài hay Tòa án, theo đó, việc hòa giải giữa các bên tranh chấp chủ yếu do các thẩm phán hoặc trọng tài viên tiến hành trong quá trình tố tụng Không chỉ vậy, tại thời điểm hiện tại, hầu hết các tổ chức trọng tài thương mại lớn trên thế giới đều có quy tắc hòa giải và tổ chức việc hòa giải nhằm giúp các tổ chức, cá nhân kinh doanh giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và hiệu quả Hoạt động hòa giải cũng bắt đầu diễn ra nhộn nhịp tại các nước trong khu vực với sự xuất hiện của nhiều
Trang 8trung tâm hòa giải và đã thể hiện được những ưu điểm rõ rệt về thời gian, chi phí và hiệu quả, thu hút được sự chú ý của đông đảo giới luật sư và doanh nghiệp
1.3 Trọng tài thương mại hay Tòa án?
Tiêu chí Trọng tài thương mại Tòa án
Tính chất
pháp lý
Tổ chức phi chính phủ, phán quyết không bị ảnh hưởng bởi quyền lực nhà nước
Cơ quan quyền lực của nhà nước
Bảo đảm
thi hành
phán
quyết
Không có một thể chế bảo đảm thực hiện quyết định của trọng tài mà là sự lựa chọn của các bên Việc trốn tránh thực hiện phán quyết trọng tài có thể làm ảnh hưởng đến uy tín kinh doanh của các bên tranh chấp Bên cạnh
đó, phán quyết trọng tài cũng có thể được yêu cầu tòa án công nhận và thực thi
Phát quyết của Tòa án, một
cơ quan quyền lực nhà nước được bảo đảm thi hành bởi các cơ quan thi hành án
_ Bảng số 2_
Với cùng một đích đến là phán quyết hay quyết định có hiệu lực của cơ quan giải quyết tranh chấp, việc lựa chọn cơ chế trọng tài hay tòa án luôn là băn khoăn của các doanh nghiệp đối với giải quyết tranh chấp thương mại Lý do thứ nhất là bởi so với các hình thức còn lại, cả hai đều dựa trên nguyên tắc chung: vừa tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, vừa đảm bảo sự độc lập của người tài phán Lý do thứ hai, chính là từ những điểm khác nhau giữa hai hình thức này (Bảng trên bổ sung những đặc điểm so sánh hai hình thức giải quyết tranh chấp của bảng số 1)
2 Hạn chế trên thực tế các biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án ở Việt Nam
Thương lượng, với bản chất là một phương pháp tuân theo nguyên tắc tôn trọng quyền tự do giao kết, thỏa thuận của các bên trong kinh doanh có rất nhiều bất cập và rủi
ro xoay quanh Với những doanh nghiệp lựa chọn phương thức này mà không xác định rõ mâu thuẫn hay không đưa ra được điều khoản thỏa thuận hợp lý trong quá trình chuẩn bị, thì sẽ là một thách thức lớn trong quá trình giải quyết tranh chấp
Với ưu thế so với thương lượng, cũng như là một công đoạn trong quá trình giải quyết bằng trọng tài và toà án, hoà giải thương mại được các thương nhân coi như là biện pháp
“đôi bên cùng thắng” Nhưng để trở thành lựa chọn cuối cùng của các doanh nghiệp, hình thức này phải giải quyết được những vấn đề như:
- Vấn đề thực thi điều khoản hòa giải: Vấn đề đặt ra là khi các bên đã có điều khoản
hòa giải và một bên đơn phương khởi kiện tới Tòa án thì Tòa án sẽ thụ lý vụ án hay
sẽ tạm dừng việc thụ lý vụ án và yêu cầu các bên tiến hành hòa giải trước? Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì việc các bên có thỏa thuận hòa giải không phải là một căn cứ để Tòa án từ chối thụ lý vụ án Như vậy, việc các bên có thỏa thuận hòa giải trở nên vô nghĩa hoặc cùng lắm cũng chỉ có ý nghĩa khuyến khích các
Trang 9bên giải quyết tranh chấp bằng phương thức này, mà không hề có ý nghĩa ràng buộc của một quy định trong hợp đồng
- Vấn đề đảm bảo tính bí mật của quá trình hòa giải: Thực tiễn phát triển của
phương thức hòa giải trên thế giới cho thấy, chìa khóa thành công của phương thức này phụ thuộc rất nhiều vào sự cởi mở của các bên trong việc chia sẻ các thông tin liên quan đến vụ tranh chấp Vấn đề đặt ra là liệu các bên có “dám” trao đổi thẳng thắn và cởi mở với nhau không nếu như pháp luật không có cơ chế nào để đảm bảo tính bí mật của các thông tin và tài liệu được trao đổi trong quá trình hòa giải? Tiếc rằng pháp luật tố tụng dân sự hiện hành của Việt Nam còn bỏ ngỏ vấn đề này
Qua những năm áp dụng Luật TTTM đã góp phần thúc đẩy hoạt động trọng tài phát triển và hoạt động này ngày càng được quan tâm và đón nhận nhiều hơn Tuy nhiên, thực
tế áp dụng đạo luật này cho thấy đã bộc lộ một số hạn chế cần được tiếp tục hoàn thiện,
cụ thể:
- Việc Luật TTTM chỉ giới hạn thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Hội đồng trọng tài ra phán quyết mới có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài là không hợp lý và không tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tranh chấp, vì trong rất nhiều trường hợp tại nơi Hội đồng Trọng tài ra phán quyết thì người phải thi hành án lại không có địa chỉ cư trú, tài sản nên cơ quan thi hành án dân sự phải ủy thác thi hành án dẫn đến tốn kém thời gian và lãng phí cho cơ quan thi hành án dân sự và bên phải thi hành
- Quy định về mất quyền phản đối rất có ý nghĩa, tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng đã cách hiểu khác nhau về quy định này liên quan đến việc một bên có hay không tham gia tố tụng trọng tài có mất quyền phản đối hay không
- Quyền của Hội đồng trọng tài về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bộc lộ một số điểm chưa thực sự hợp lý, cụ thể là về quyền yêu cầu áp dụng, thủ tục áp dụng phức tạp và sự linh hoạt bị giới hạn trong hoạt động của hội đồng trọng tài
- Phán quyết trọng tài cần kéo dài thời hạn ban hành hoặc cho phép gia hạn thời hạn ban hành thay cho quy định tại Điều 61, Khoản 3 Trên thực tế, nhiều vụ có nội dung phức tạp, nhiều trường hợp không thể ban hành phán quyết trong thời hạn 30 ngày
- Theo quy định tại Điều 71 khoản 10 Luật TTTM, Quyết định của Toà án về việc hủy phán quyết trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành Cần nghiên cứu
và có giải pháp để xem xét việc phán quyết trọng tài gây tranh cãi
- Cần quy định mô hình Hội đồng Trọng tài mặc định là một trọng tài viên, thay cho quy định Hội đồng Trọng tài gồm ba trọng tài viên Với mô hình Hội đồng trọng tài gồm một trọng tài duy nhất sẽ đảm bảo rút ngắn thời gian giải quyết, tiết kiệm chi phí cho các bên tranh chấp
- Dù luật hiện hành được đánh giá khá cao về việc xây dựng cơ chế Tòa án hỗ trợ Hội đồng trọng tài trong quá trình làm việc nhưng vẫn còn cần khắc phục: Sự hỗ trợ của Tòa án chỉ dừng lại ở mức có văn bản gửi các cá nhân, tổ chức có liên quan mà chưa quy định chế tài đối với cá nhân, tổ chức này nếu không thực hiện yêu cầu của Tòa
án Trong Bộ luật tố tụng dân sự cũng không có quy định về “thủ tục giải quyết các yêu cầu liên quan đến hoạt động trọng tài thương mại Việt Nam”
Trang 10- Ngoài ra, trước sự phát triển của công nghệ thông tin và trên thế giới đã có các quy định về tố tụng điện tử, cũng như các phiên họp trực tuyến, tuy nhiên các hình thức này chưa được cập nhật trong Luật TTTM
- Ngoài việc thuê các trung tâm trọng tài, các bên tham gia tranh chấp còn có thể thỏa thuận để đưa ra lựa chọn một trọng tài vụ việc để giải quyết tranh chấp của mình Thế nhưng các doanh nghiệp Việt Nam thì còn ít dùng đến phương thức này bởi nhiều lý
do, hầu hết các doanh nghiệp nước ta bị thụ động khi phía doanh nghiệp nước ngoài
ép phải lựa chọn, và vì muốn thực hiện được hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ nên phía Việt Nam phải chấp nhận thỏa thuận điều khoản trọng tài vụ việc
Cuối cùng, tranh chấp thương mại quốc tế đang là một trong số các vấn đề nổi cộm
lên trên thị trường kinh tế Việt Nam Để xử lý thực trạng tranh chấp thương mại quốc tế
ở Việt Nam, hình thức trọng tài đang là phương pháp được chú trọng cả trong nước và trên toàn thế giới Tuy nhiên TTTM trong nước vẫn còn chưa khởi sắc so với các nước trong khu vực và trên thế giới Nguyên nhân chính vẫn là do các quy định pháp luật còn đang chồng chéo và thiếu sót Chưa kể do phần lớn tập quán người Việt còn coi trọng tòa
án hơn trọng tài Một số trọng tài còn chưa đáp ứng được yêu cầu khi tranh chấp thương mại diễn ra ngày càng phức tạp và mang yếu tố nước ngoài.
CHƯƠNG III KIẾN NGHỊ MỘT SỐ PHƯƠNG ÁN BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ TRONG
ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
NGOÀI TÒA ÁN CHO VIỆT NAM
Với những bất cập được trình bày ở trên, thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại
ở Việt Nam đang đòi hỏi chúng ta phải có những thay đổi những gì còn chưa hợp lý và phát huy những gì đã đạt được Trước nhu cầu lựa chọn các biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án trong lĩnh vực thương mại hiện nay, nhân đây, xin có một số ý kiến đề xuất chung như sau:
1 Hoàn thiện, sửa đổi và bổ sung khuôn khổ pháp lý, các quy định liên quan tới các biện pháp giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam Cùng với đó, thiết lập một cơ chế quản lý chặt chẽ hơn đối với hoạt động này
- Củng cố các chế định bảo đảm bí mật trong quá trình giải quyết tranh chấp;
- Đối với hoà giải thương mại, tuy Luật Hòa giải đối thoại tại Toà án 2020 đã được Quốc hội thông qua, đây là bước tiến lớn trong công tác nghiên cứu
và áp dụng hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam Thế nhưng, chúng ta cần phát huy và hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật về phương pháp giải quyết tranh chấp này đối với cả công tác hòa giải ngoài tòa án
- Đối với trọng tài thương mại, Kiến nghị xem xét việc sửa đổi, bổ sung và
có hướng dẫn chi tiết Luật TTTM vì vẫn bộc lộ một số hạn chế, vướng mắc trong quá trình áp dụng như quy định về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay các quy định về trọng tài vụ việc, Hơn hết, Nhà nước