1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI TẠI VIỆT NAM – SO SÁNH VỚI TOÀ ÁN

12 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 705,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này dẫn đến nhiều xung đột về pháp luật trong hệ thống pháp luật, giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, trong đó có cả những Công ước quốc tế quan trọng mà Việt Nam là thành

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI TẠI VIỆT NAM – SO SÁNH VỚI TOÀ ÁN

NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC

MSV: 19061250 GVHD: TS HỒ NGỌC HIỂN THS: NGUYỄN ĐĂNG DUY

Hà Nội, 2022

Trang 2

1 Khái quát về tranh chấp thương mại

1.1 Khái niệm tranh chấp thương mại

Tranh chấp thương mại là một trong những hệ quả của hoạt động thương mại Tranh chấp thương mại thường có các yếu tố: có quan hệ thương mại tồn tại giữa các bên tranh chấp; có sự

vi phạm từ một bên làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của bên còn lại; và có sự bất đồng quan điểm giữa các bên về sự vi phạm hoặc việc xử lý hậu quả phát sinh từ vi phạm Đây là một hệ quả xảy ra thường xuyên cũng như mang lại hậu quả cho cho chủ thể tham gia tranh chấp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung, pháp luật Việt Nam cũng đã sớm có những quan tâm nhất định đến hoạt động này Lần đầu tiên khái niệm tranh chấp thương mại được ghi nhận trong Luật Thương mại 1997 tại Điều 238: “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại” Theo đó, nội hàm hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại 1997 khá hẹp so với quan niệm quốc

tế về thương mại Điều này dẫn đến nhiều xung đột về pháp luật trong hệ thống pháp luật, giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, trong đó có cả những Công ước quốc tế quan trọng mà Việt Nam là thành viên (Công ước New York 1958), gây không ít những trở ngại, rắc rối trong thực tiễn áp dụng.1 Bộ Luật TTDS 2015 đã liệt kê các tranh chấp về kinh doanh thương mại, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.2 Tuy sử dụng thuật ngữ các tranh chấp kinh doanh, thương mại so về nội hạm thì tương đồng với các tranh chấp thương mại theo Luật Thương mại 2005

Vây, tranh chấp trong hoạt động thương mại là những mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại

1.2 Đặc điểm của tranh chấp thương mại

Thứ nhất, tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và

nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ thương mại

Thứ hai, những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát

sinh từ hoạt động thương mại Căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật

1 PGS.TS Lê Hồng Hạnh (2000),”Khái niệm thương mại trong pháp luật Việt Nam và những bất cập dưới góc độ thực tiễn

áp dụng và chính sách hội nhập”, Tạp chí Luật học, số 02/2000

2 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Trang 3

Thứ ba, về chủ thể, tranh chấp thương mại chủ yếu là những tranh chấp giữa các thương

nhân với nhau Trong những trường hợp nhất định, các cá nhân, tổ chức khác (không phải thương nhân) cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại khi trong các giao dịch bên không có mục đích sinh lợi chọn áp dụng luật thương mại.3

Thứ tư, việc giải quyết tranh chấp thương mại là do các bên trong tranh chấp tự định đoạt

Các bên trong tranh chấp có quyền lựa chọn giải pháp giải quyết tranh chấp phù hợp trong các phương thức giải quyết tranh chấp được pháp luật quy định như thương lượng, hoà giải, trọng tài, Toà án

2 Khái quát chung về giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức ngoài toà án

2.1 Khái niệm về giải quyết tranh chấp hương mại ngoài toà án

Xu hướng sử dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng (Alternative Dispute Resolutions - ADR), hay còn được gọi là phương thức giải quyết tranh chấp thay thế, ngày càng được coi trọng Ở Việt Nam, Nghị quyết 49-NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định chủ trương nỗ lực cải cách hoạt động xét xử

và giải quyết cách tranh chấp, trong đó “Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hoà giải, trọng tài; toà án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”

Vậy, giải quyết tranh chấp thương mại ngoài toà án có thể được hiểu là: việc các chủ thể tham gia hoạt động thương mại hoặc có thể liên quan đến hoạt động thương mại không đưa những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ do không thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng hợp đồng thương mại ra giải quyết tại Toà án bằng thủ tục tố tụng tài Toà án mà áp dụng các cách thức khác để giải quyết tranh chấp đó

Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại ngoài toà án bao gồm: thương lượng, hoà giải thương mại, trọng tài

2.2 Vai trò của giải quyết tranh chấp thương mại ngoài toà án

3 Khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại 2005

Trang 4

Thứ nhất, góp phần nâng cao mực độ đảm bảo quyền tự do định đoạt, tự do kinh doanh

cho các thương nhân từ việc các bên chủ động lựa chọn phương thức đến thủ tục và thống nhất giải quyết phương án cuối cùng

Thứ hai, là giải pháp thay thế cho việc giải quyết tranh chấp bằng toàn án Việc giải quyết

tranh chấp bằng phương thức ngoài toà án đã vượt qua rào cản về văn hoá và quyền tài phán, chúng được coi là con đường để giải quyết tranh chấp xuyên biên giới

Thứ ba, góp phần giảm tải gánh nặng cho hệ thống toà án Điều này cũng nhằm tiết kiệm thời gian cho thương nhân, tránh lãng phí tài sản và công sức cho chính thương nhân và Nhà nước

3 Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hoà giải

3.1 Khái niệm

Theo từ điển Luật học Black’s Law định nghĩa “Hoà giải là sự can thiệp, sự làm trung guan hoà giải, hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ, việc giải quyết tranh chấp thông qua người trung gian hoà giải (bên trung lập).4

Theo Nghị định số 22/2017/NĐ-CP Nghị định về hoà giải thương mại, Khoản 1 Điều 3 quy định “Hoà giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thoả thuận, và được hoà giải viên thương mại làm trung gian hoà giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định của Nghị định này”

Vây, có thể hiểu, hoà giải thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài toà

án, có sự tham gia của bên thứ ba trung lập (hoà giải viên) tham gia nỗ lực hỗ trợ các bên nhằm giải quyết các mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại, phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống và đạo đức xã hội

3.2 Đặc điểm

Thứ nhất, việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng hoà giải có sự hiện diện của bên thứ

ba đóng vai trò hoà giải viên để trợ giúp các bên tìm kiếm giải pháp tối ưu nhằm loại trừ tranh

4 Vũ Ánh Dương (2014), Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, “Phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả”, tr.307

Trang 5

chấp, xung đột Hoà giải viên không có quyền quyết định hay áp đặt bất cứ vấn đề gì nhằm rằng buộc các bên tranh chấp.5

Thứ hai, văn bản về kết quả hoà giải thành được xem xét công nhận theo quy định của pháp

luật tố tụng dân sự Việc giải quyết yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài tòa án trong lĩnh vực thương mại được quy định tại Chương XXXIII Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015), từ Điều 416 đến Điều 419 của Bộ luật này Thỏa thuận hòa giải thành được công nhận có hiệu lực thi như bản án của Tòa án (Khoản 9 Điều 419 BLTTDS 2015) Việc không công nhận kết quả hòa giải thành không làm ảnh hưởng đến nội dung và giá trị của thỏa thuận giải quyết tranh chấp và nó vẫn có hiệu lực bắt buộc thi hành như một hợp đồng (Khoản 6 Điều

419 BLTTDS 2015)

Thứ ba, hoà giải là giải pháp tự nguyện, tuỳ thuộc vào ý chí của các bên tranh chấp Quá

trình hoà giải hoàn toàn độc lập, tuy nhiên, quá trình hoà giải vẫn phải chịu sự chi phối tất yếu trong khuôn khổ điều lệ của Trung tâm hoà giải, các quy định cơ bản của pháp luật về thủ tục hoà giải Hoà giải là một cơ chế linh hoạt, thân thiện với mục đích cuối cùng là đi tìm giải pháp tối ưu mang lại lợi ích tốt nhất cho các bên

4 Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài

4.1 Khái niệm

Theo từ điển Black’s Law : “Trọng tài là quá trình giải quyết tranh chấp theo đó bên thứ ba trung lập (trọng tài viên) ra phán quyết sau khi tất cả các bên tranh chấp đã trình bày ý kiến, quan điểm của mình về vụ việc Trong trường hợp trọng tài tự nguyện, các bên tranh chấp là người chọn lựa trọng tài viên và trọng tài viên này là người có quyền ra phán quyết Phán quyết có hiệu lực bắt buộc thi hành dối với các bên tranh chấp.”

Trong luật Việt Nam, theo quy định của khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục do Pháp lệnh này quy định” Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật trọng tại thương mại năm 2010 “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật trọng tài thương mại”

4.2 Bản chất của trọng tài thương mại

5 Nguyễn Viết Tý (chủ biên), Giáo trình Luật thương mại, Tập 2, NXB Công an nhân dân, tr.145

Trang 6

4.2.1 Trọng tài thương mại là một cơ quan giải quyết tranh chấp

TTTM là một cơ quan giải quyết tranh chấp hay cơ quan tài phán trong hoạt động thương mại Ở một số quốc gia, toà trọng tài thương mại tồn tại độc lập song song với Toà án tư pháp 4.2.2 Trong tài thương mại là một phương thúc giải quyết tranh chấp

TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán phi chính phủ do các đương sự thoả thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp thương mại Trọng tài được các bên tranh chấp ủy thác giải quyết tranh chấp, phán quyết cuối cùng của trọng tài mang tính quyết định và

có giá trị bắt buộc với các bên

4.3 Đặc điểm

Thứ nhất, TTTM chỉ giải quyết tranh chấp khi có yêu cầu của các bên xảy ra tranh chấp,

tranh chấp đó phải thuộc thẩm quyền xử lý của TTTM Điều này thể hiện quyền tự do đỉnh đoạt của các bên khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp thương mại

Thứ hai, chủ thể giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại là trọng tài viên, thông qua hội

đồng trọng tài gồm một hoặc nhiều thành viên

Thứ ba, giải quyết tranh chấp thương mại mang tính thoả thuận và phán quyết Phương thức

này giúp mối quan hệ của các bên hài hoà, cũng như tính bắt buộc thi hành của phán quyết Các bên tranh chấp không chỉ có quyền lựa chọn TTTM giải quyết tranh chấp phát sinh hoặc có thể phát sinh,6 mà còn có thể lựa chọn TTTM, số lượng TTV, địa điểm giải quyết, hoặc luật áp dụng Khi đã lựa chọn TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp, thì phán quyết của trọng tài là chung thẩm, có hiệu lực kể từ ngày ban hành.7

Thứ tư, giải quyết tranh chấp thương mại thường là xử kín (trừ khi có thoả thuận khác) ,

mang tính bảo mật cao Nguyên tắc thể hiện ưu thế của TTTM trong việc bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ uy tín của các bên liên quan trong giải quyết tranh chấp

5 So sánh giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài và bằng toà án

5.1 Những điểm tương đồng

5.1.1.Trọng tài và tàn án đều là phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

6 Khoản 2, Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010

7 Khoản 5, Điều 61 Luật Trọng tài thương mại năm 2010

Trang 7

Trọng tài và toà án đều là phương thức giải quyết tranh chấp để các bên có thể lựa chọn khi tranh chấp xảy ra Trọng tài và Toà án đề có các đặc điểm chung của Tài phán kinh tế:

Thứ nhất, về mặt bản chất, tài phán là hoạt động xét xử, phân định phải trái

Thứ hai, về mặt xã hội, tài phán là hiện tượng xã hội trong đó các chỉ thể tài phán thực

hiện quyền tài phán nhằm phân định tính đúng đắn trong hành vi của các bên tranh chấp

Thứ ba, về mặt hành vi, tài phán là hoạt động phán quyết theo thẩm quyền luật định của

một chủ thể nhất định nhằm phân định về tính đúng đắn và hợp pháp của một vụ việc xaye ra trong xã hội theo yêu cầu của các bên

Thứ tư, về khía cạnh thể chế, tài phán được hiểu là tổng hợp các quy định của pháp luật

về tổ chuéc và hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phán quyết các vụ tranh chấp hoặc các vụ việc khác

Thứ năm, tài phán còn được nhìn nhận dưới góc độ là một quan hệ pháp lý giữa một bên

là các bên tranh chấp, một bên là các chủ thể thực hiện quyền tài phán nhằm phân định tính hợp pháp và đúng đẵn trong hành vi của các bên tranh chấp

5.1.2 Quyền tự do lựa chọn, định đoạt tồn tại trong cả hai phương thức giải quyết tranh chấp của các bên có tranh chấp

Quyền tự do kinh doanh được ghi nhận là một trong những quyền cơ bản của công dân thể hiện qua Điều 33 Hiến pháp năm 2013, theo đó mọi người đều có quyền tự do kinh doanh với bất kể ngành nghề nào, chỉ cần là trong khuôn khổ những ngành nghề mà pháp luật không cấm Tuy phạm vi thực hiện quyền tự do lựa chọn, định đoạt trong hai phương thức trọng tài và toà án có khác nhau nhưng nhìn chung khi có tranh chấp kinh doanh , thương mại, các bên có thể lựa chọn hình thức trọng tài hay toà án để giải quyết Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết phụ thuộc vào thoả thuận của các bên

Đối với giải quyết tranh chấp bằng toà án, điều này được thể hiện thông qua hành động khởi kiện ra toà án kinh tế để yêu cầu toà án giải quyết những tranh chấp thương mại Quyền khởi kiện thuộc về các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật kinh tế Các chủ thể bình đẳng về địa

vị pháp lý, có quyền tự do định đoạt Theo Điều 161 Bộ luật TTDH=S: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện và vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.” Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự la một nguyên tắc quan

Trang 8

trọng trong Bộ luật TTDS, sự xác lập các quan hệ kinh tế hoàn toàn do các bên tự quyết định và được Nhà nước bảo đảm nếu không trái với xác quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Việc thực hiện quyền này của đương sự không chỉ dừng lại việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm mà còn được thực hiện cả trong các giai đoạn của quá trình thi hành bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật

Đối với phương thức giải quyết tranh chấp bằng TTTM, không phải mọi tranh chấp đều được trọng tài giải quyết, chỉ những tranh chấp mà trong hợp đồng các bên có thoả thuận trọng tài Điều này thể hiện ý chí các các bên được thiết lập ngay từ khi chưa xảy ra tranh chấp, hoặc

dù trong hợp đồng các bên không thoả thuận nhưng trong tiến trình giải quyết tranh chấp các bên

có thống nhất thoả thuận trong tài giải quyết thì khi đó cơ quan trọng tài có thẩm quyền giải quyết

và yêu cầu đặt ra đối với các thoả thuận trọng tài là phải hợp lệ, đúng theo pháp luật Các bên có quyền lựa chọn trọng tài viên, lựa chọn quy tắc trọng tài, luật áp dụng để giải quyết tranh chấp Tranh chấp được giải quyết không công khai trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác

5.2 Những điểm khác nhau

Hoạt động trọng tài có khác biệt khá đối với hoạt động của toà án Thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Toà án bao gồm: thẩm quyền, nguyên tắc cũng như trình tự giải quyết tranh chấp được pháp luật định cụ thể thì tổ chức hoạt động của trung thâm TTTM được chi phối bởi nhiều yếu tố như: ý chí của các bên thông qua thoả thuận trọng tài và sự lựa chọn của trọng tài viên; sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế

5.2.1 Thẩm quyền của Trọng tài thương mại và Toà án

* Đối với trọng tài thương mại, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài là thẩm quyền do các bên trao cho Hội đồng

Thẩm quyền của trọng tài được ghi nhận trong nhiều loại văn bản khác nhau: thoả thuận trọng tài, quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài, Luật TTTM,… Luật TTTM 2010 xác định thẩm quyền mà hội đồng có được do các bên tranh chấp trao trực tiếp cho hội đồng Một trong những loại thẩm quyền đặc thù của HĐTT là thẩm quyền tự xem xét về năng lực pháp lý của mình trong những vụ việc cụ thể Điều 44 Luật TTTM năm 2010 quy định: Trước khi xem xét nội dung tranh chấp, HĐTT phải xem xét về hiệu lực của thoả thuận: thoả thuận có thuộc trường hợp không thể thực hiện được hay không và xem xét thẩm quyền của mình Trường hợp vụ việc không thuộc thẩm quyền của mình hoặc xác định rõ là thoả thuận trọng tài không thể thực hiện

Trang 9

được thì HĐTT quyết định đình chỉ việc tranh chấp thể bị toà án bác bỏ theo đơn khiếu nại của các bên 8 và thồn báo cho các bên liên quan đến tranh chấp

* Thẩm quyền của Toà án theo quy định của pháp luật bao gồm thẩm quyền theo cấp, theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn

Thẩm quyền của toà án được ghi nhận trong BLTTDS

Thứ nhất, thẩm quyền theo cấp toà án

Theo Điều 33 BLTTDS năm 2004, TAND cấp huyện vẫn được trao thẩm quyền sơ thẩm một số tranh chấp kinh doanh, thương mại quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, g, i khaonr 1 Điều 29 BLTTDS Tuy việc quy định thẩm quyền cho toà án cấp Huyện được mở rộng nhưng trong pháp luật hiện hành của Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung thẩm quyền sơ thẩm các tranh chấp về kinh doanh, thương mại không thuộc thẩm quyền giải quyết cỉa toàn án cấp huyện gồm có:

- Tranh chấp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h và i khoản 1 Điều 29 BLTTDS

mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho toà án nước ngoài

- Tranh chấp về vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm

dò, khai thác

- Tranh chấp về quyền SHTT, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau đều có mục đích lợi nhuận

- Tranh chấp giữa công ty và các thành viên công ty, giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại và pháp luật có quy định

Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại của TAND cấp tỉnh thuộc về tòa kinh tế và uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh

Ngoài quyền sơ thẩm, toà kinh tế TAND cấp tỉnh có thẩm quyền phúc thẩm đối với những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của toà án cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị

8 Điều 45 Luật Trọng tài thương mại 2010

Trang 10

Thứ hai, thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ

Theo Điều 35 BTTDS 2004 toà án có thẩm quyền sơ thẩm tranh chấp kinh doanh, thương mại là toà án nơi bị đơ cư trú, làm việc (đối với bị đơn là cá nhân), nơi bị đơn có trụ sở (đối với

bị đơn là cơ quan tổ chức) Toà án nơi có bất động sản giải quyết những tranh chấp về bất động sản Tố tụng trọng tài không bị ràng buộc về mặt lãnh thổ, các bên muốn chọn TTTT nào cũng được, không phụ thuộc vào địa chỉ của họ

Thứ ba, thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn

Để thuận lợi cho nguyên đơn trong việc giải quyết vụ tranh cháp cũng như xác định thẩm quyền của toà án cụ thể, pháp luật dành cho nguyên được dược quyền chọn toà án để giải quyết

vụ tranh chấp Theo Điều 36 BLTTDS, nguyên đơn được quyền lựa chọn toà án để giải quyết vụ tranh chấp về kinh doanh, thương mại trong các trường hợp luật quy định Tuy nhiên khi áp dụng quy định này vào thực tiẽn, các toà án còn lúng túng, chưa xác định được thứ tự ưu tiên

5.2.2 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng trọng tài và toà

án

Về bản chất, toà án là một cơ quan nhà nước tỏng khi đó trong tài là một tổ chức phi chính phủ Về vai trò, trọng tài được thành lập nhằm bảo vệ lợi ích của các bên, toà án không chỉ bảo vệ lợi ích của các bên mà còn bảo vệ lợi ích của nhà nước, bảo vệ trật tự quản lý kinh tế,…

* Đối với cấp xét xử

Với việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng toà án thì nguyên tác toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm) và xem xét lại vụ án theo theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm là nguyên tắc quan trọng.9

Khi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thì việc xét xử diễn ra một lần bằng phiên họp giải quyết tranh chấp và phán quyết có giá trị chung thẩm.10 Đièu 61 luật này cũng quy định “Phán quyết trọng tài được ban hành ngay tại phiên họp hoặc chậm nhất là 30 ngày, kể

từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng

Phán quyết trọng tài phải được gửi cho các bên ngay sau ngày ban hành Các bên có quyền yêu cầu Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài vụ việc cấp bản sao phán quyết trọng tài

9 Theo điều 17 Bộ luật tố tụng dân sự 2004

10 Điều 4 Luật Thương mại trọng tài 2010

Ngày đăng: 10/05/2022, 15:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. .Quốc hội (2011), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011, Hà Nội Khác
2. Bộ chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác
3. Phan Thị Thanh Thủy, Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thương mại bằng các biện pháp thay thế, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 4/2015 Khác
4. Quốc hội (2003), Pháp lệnh Trọng tài Thương mại, Hà Nội Khác
5. Q uốc hội (2010), Luật Trọng tài thương mại, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w