1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại ở việt nam

27 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 153,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thương lượng, hòa giải và trọng tài thương mại là các phương thức giảiquyêt tranh chấp thương mại không mang chí quyền lực nhà nước mà chủ yếu nó được giải quyết trên nền tảng chí tự địn

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT:

PHẦN A: MỞ ĐẦU

Trong thời đại kinh tế thị trường hiện nay, khi các doanh nghiệp ngàycàng có điều kiện được thành lập với nhiều hình thức khác nhau và trong nhiềungành nghề khác nhau thì việc liên kết, hợp tác hay thậm chí là cạnh tranh nhauđang ngày càng trở nên phổ biến Bên cạnh những hợp đồng hợp tác, những giaokết “thuận buồm xuôi gió” vẫn còn tồn tại khá nhiều những mâu thuẫn, bất đồngthậm chí vi phạm quyền lợi lẫn nhau giữa các doanh nghiệp Từ đó gây ra nhữngthiệt hại cho các bên và cho cả nền kinh tế thị trường Chính vì vậy, thuật ngữ

“tranh chấp thương mại” hay “tranh chấp kinh doanh” đã là thuật ngữ quenthuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước trên thế giới và mới được sửdụng rộng rãi, phổ biến ở nước ta trong mấy năm gần đây

Tranh chấp thương mại là một hiện tượng phổ biến và thường xuyên diễn

ra trong hoạt động của nền kinh tế thị trường Do tính chất thường xuyên cũngnhư hậu quả của nó gây ra cho các chủ thể tham gia tranh chấp nói riêng và cho

cả nền kinh tế nói chung, pháp luật Việt Nam cũng đã sớm có những quan tâmnhất định đến hoạt động này, cũng như các phương thức giải quyết nó thể hiệnthông qua các quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam tồn tại bốn phương thức giải quyếttranh chấp thương mại đó là: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại, tòa

án Thương lượng, hòa giải và trọng tài thương mại là các phương thức giảiquyêt tranh chấp thương mại không mang chí quyền lực nhà nước mà chủ yếu

nó được giải quyết trên nền tảng chí tự định đơạt của các bên tranh chấp hoặcphán quyết của bên thứ 3 độc lập theo thủ tục linh hoạt mềm dẻo Trong khi đótòa án là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại mang y chí quyền lựcnhà nước được tòa án tiến hành theo thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ

Trọng tài thương mại là phương thức gải quyết tranh chấp phát sinh tronghoạt động thương mại tiến hành theo trình tự thủ tục do các bên tự thỏa thuận

Trang 2

hoặc theo qui định của pháp luật Đảm bảo tối đa uy tín cũng như bí mật của cácbên tranh chấp góp phần củng cố và duy trì mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa cácbên Việc giải quyết theo phương thức này sẽ giúp cho các bên tranh chấp cóquyền định đoạt mà không bị ràng buộc nghiêm ngặt chặt chẽ bởi thủ tục tốtụng như thủ tục giải quyết tranh chấp tại tòa Chính vì vậy em đã lựa chon đềtài “ giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam”

để làm bài tiểu luận Khi tìm hiểu đề tài này em rất cố gắng nỗ lực để hoàn thànhtốt đề tài, cảm thấy rất hứng thú và say mê Tuy nhiên do sự hiểu biết còn hạnchế, em chỉ đóng góp một phần nhỏ suy nghĩ của mình Bài viết còn có rất nhiềusai sót, em kính mong thầy, cô giáo giúp đỡ em hoàn thành bài viết tốt hơn

Trang 3

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Xuất phát từ vị trí, vai trò và y nghĩa của việc giải quyết tranh chấp kinhdoanh, thương mại bằng trọng tài thương mại Và thông qua đề tài này em cómột cái nhìn tổng quát, toàn diện hơn việc giải quyết tranh chấp kinh doanh,thương mại bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam, nâng cao được trình độ lýluận của mình, bồi dưỡng quan điểm thực tiễn nâng cao lập trường tư tưởng chobản thân

II ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng :

Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng trọng tàithương mại

II.2 Phạm vi nghiên cứu :

Thực tiễn việc giải quyết tranh chấp khinh doanh thương mại tại ViệtNam

III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ở đây, em đã sử dụng những phương pháp đó là :

- Phương pháp đọc, nghiên cứu, thu thập, xử lý thông tin tài liệu

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa vấn đề

IV Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Việc đi sâu nghiên cứu đề tài này sẽ làm giàu lên kiến thức, làm sâu thêm

lý luận và sẽ sáng tỏ thêm thực tiễn việc giải quyết tranh chấp kinh doanh,thương mại bằng trọng tài thương mại ở nước ta hiện nay Từ đó chỉ ra nhữngtồn tại và hướng giải quyết, góp phần nhỏ đưa luật pháp Việt Nam tiến bộ hơn,xây dựng một đất nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giàu và đẹp

Trang 4

PHẦN B: NỘI DUNG

I LÍ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM.

I.1 Khái quát chung về giải quyết tranh chấp thương mại

1.1.1 Khái niệm về tranh chấp thương mại và giải quyết tranh chấp

1.1.1.1 Khái niệm tranh chấp thương mại

Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn ( bất đồng hay xung đột ) vềquyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thươngmại

Tranh chấp thương mại có 3 yếu tố:

- Thứ nhất, tranh chấp thương mại trước hết là những mâu thuẫn về quyền

và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thể

- Thứ hai, những mâu thuẫn đó phải phát sinh từ hoạt động thương mại

- Thứ ba, những mâu thuẫn đó phát sinh chủ yếu giũa các thương nhân

1.1.1.2 Khái niệm giải quyết tranh chấp thương mại

Giải quyết tranh chấp thương mại là việc cac bên tranh chấp thông quacác hình thức, thủ tục thích hợp tiến hành giải quyết mâu thuẫn, xung đột, bấtđồng về lợi ích nhằm bảm vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của họ

1.1.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại

1.1.2.1 Thương lượng

- Khái niệm: Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thôngqua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bấtđồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phánquyết của bất kì bên thứ ba nào

- Bản chất:

+ Thứ nhất: phương thức giải quyết tranh chấp này được thực hiện bởi cơchế tự giải quyết thông qua việc các bên tranh chấp bàn bạc, thỏa thuận để tựgiải quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của bên thứ

ba để trợ giúp hay ra phán quyết

Trang 5

+ Thứ hai: quá trình thương lượng giữa các bên cũng không chịu sự ràngbuộc của bất kì nguyên tắc pháp lí hay những qui định mang tính khuôn mẫunào của pháp luật về thủ tục giải quyêt tranh chấp.

+ Thứ ba: việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự

tự nguyện của các bên tranh chấp không có bất kì cơ chế pháp lí nào đảm bảo sựthực thi đối với thỏa thuận của các bên trong quá trình thương lượng

- Cách thức:

+ thương lượng trực tiếp

+thương lượng gián tiếp

1.1.2.2 Hòa giải

- Khái niệm: Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự thamgia của bên thứ ba làm trung gian hào giải để hỗ trợ thuyết phục các bên tranhchấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh

- Bản chất:

+ Thứ nhất: việc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hào giải đã có

sự hiện diện của bên thứ ba làm trung gian để trợ giúp các bên tìm kiếm giảipháp tối ưu nhằm loại trừ tranh chấp

+ Thứ hai: quá trình hòa giải các bên tranh chấp cũng không chịu sự chiphối bởi các qui định có tính khuôn mẫu, bắt buộc của pháp luật về thủ tục hòagiải

+ Thứ ba: kết quả hào giải thành được thực thi cũng hoàn toàn phụ thuộcvào sự tư nguyện của các bên tranh chấp mà không có bất kì cơ chế pháp lí nàobảo đảm thi hành những cam kết của các bên trong quá trình hào giải

- Các bước tiến hành hòa giải:

+ các bên tranh chấp trao đổi thông tin tài liệu

+các bên có thể xác định một thủ tục tiến hành hòa giải qua trung gian+ các bên trình bày kiến quan điểm của mình

+ người trung gian xem xét, phân tích, đánh giá các tình tiết vụ việc

+ kiến nghị những giải pháp cần lựa chọn để gaiir quyết tranh chấp

Trang 6

1.1.2.3 Trọng tài

- Khái niệm: Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấpthôn qua hoạt động của các trọng tài viên, với tư cách là bên thứ ba độc lậpnhằm chấm dứt mâu thuẫn, xung đột bằng việc đưa ra phán quyết buộc các bêntranh chấp phải thi hành

- Thứ năm: trọng tài khi giải quyết tranh chấp nhân danh chí của các bên,

Trang 7

không nhân danh quyền lực tư pháp của nhà nước, nên rất phù hợp để gaiirquyết các tranh chấp có nhân tố nước ngoài1.2 Khái quát về Trọng tài thươngmại

1.2.1 Khái quát lịch sử hình thành Trọng tài thương mại Việt Nam

Về mặt lịch sử, Trọng tài thương mại ra đời và phát triển sớm, qua nhiều thế kỉtrên thế giới Thậm chí ở nhiều nước phát triển thì phần lớn các tranh chấp phátsinh trong hoạt động thương mại thường được giải quyết thông qua phương thứctrọng tài Hiện nay có một số Trung tâm trọng tài nổi tiếng thế giới và khu vựcnhư Tòa án trọng tài của Phòng thương mại quốc tế (ICC), Tòa án trọng tài quốc

tế Luân Đôn (LCIA), Trung tâm quốc tế giải quyết tranh chấp đầu tư(ICSID),Trung tâm trọng tài quốc tế Hông Kong (HKIAC),

Ở Việt Nam, trước ngày 01/07/1994, trong cơ chế kinh tế tập trung quanliêu bao cấp đã từng tồn tại tổ chức Trọng tài kinh tế Nhà nước với chức năngchủ yếu là giải quyết những tranh chấp hợp đồn kinh tế giữa các doanh nghiệpnhà nước Ngoài ra còn có Hội đồng Trọng tài Ngoại thương( thành lập ngày30/04/1963 ) và Hội đồng trọng tài Hàng hải( thành lập ngày 05/10/1964) cóchức năng giải quyết tranh chấp thương mại và hàng hải có yếu tố nước ngoài

Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, cùng với hội nhập quốc tế

và khu vực ngày 28.04.1993 Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết định số204/TTg về việc thành lập Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam trên cơ sở hợpnhất Hội đồng trọng tài Hàng hải và Hội đồng Trọng tài Ngoại thương với chứcnăng là giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế quốc tế Trướcnăm 2003 ban hành Nghị định 116/CP do chính phủ ban hành qui định về tổchức và hoạt động của trọng tài kinh tế Ngày 25/02/2003 Ủy ban Thường vụQuốc hội Việt Nam đã ban hành pháp lệnh trọng tài thương mại để thay thế chonhững văn bản trước đó Và đã ban hành một số nghị định hướng daanc thi hànhquyết định này

Trang 8

1.2.2 Tiêu chuẩn và điều kiện trở thành trọng tài viên

Theo điều 12 pháp lệnh Trọng tài thương mại thì bất kì công dân ViệtNam có đủ các điều kiện sau thì có thể trở thành trọng tài viên trọng tài thươngmại:

- có năng lực hành vi dan sự đầy đủ

- có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, vô tư, khách quan

- có bằng đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ nămnăm trở lên

II GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

2.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài 2.1.1 Nguyên tắc thỏa thuận Trọng tài

- Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằngtrọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt độngthương mại

Như vậy các bên co stheer thảo thuận trọng tài trước khi có tranh chấphoặc sau khi có tranh chấp

- Nguyên tắc: không có thỏa thuận giải quyết bằng phương thức trọng tài,không có tố tụng trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể là thỏa thuận riêng hoặc

là thỏa thuận trong hợp đồng và phải được lập thành văn bản ( Điều 9 pháp lệnhtrọng tài thương mại )

Điều 10 của pháp lệnh trọng tài thương mại, thỏa thuận trọng tài thươngmại vô hiệu trong những trường hợp sau:

+ Tranh chấp pahts sinh không thuộc haotj động thương mại được quiđịnh tại khoản 3 điều 2 pháp lệnh trọng tài thương mại;

+ Người kí thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;+

Tranh chấp thương mại chỉ đươch giải quyết tại trọng tài nếu các bên cóthỏa thuận trọng tài và thảo thuận trọng tài đó có hiệu lực Nếu không có thỏa

Trang 9

thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu mà hội đồng trọng tài vẫn giảiquyết thì quyết định của hội đồng sẽ bị hủy bỏ ( Điều 54 pháp lệnh trọng tàithương mại).

2.1.2 Nguyên tắc Trọng tài viên độc lập, vô tư, khách quan

Việc giải quyết tranh chấp một cách công bằng, tính độc lập của các trọngtài viên đối với các bên là vấn đề cần được đăc biệt quan tâm

Trọng tài viên phải có đủ điều kiện nhất định để đảm bảo rằng họ độc lập,

vô tư, khách quan trong việc giải quyết tranh chấp

Điều 12 pháp lệnh trọng tài thương mại, công dân Việt Nam có đủ cácđiều kiện sau có thể làm trọng tài viên:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

- Có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, vô tư, khách quan;

- Có bằng đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 5 nămtrở lên

Người đang bị quản chế hành chính, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sựhoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích không đượclàm trọng tài viên

Thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, chấp hành viên, công chức đangcông tác tại tào án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quanthi hành án không được làm trọng tài viên

Khi tham gia giải quyết tranh chấp thương mại, trọng tài viên phải thực sự

là người thứ ba độc lập, vô tư, không liên quan đến các bên có tranh chấp cũngnhư không có bất kì lợi ích nào dính dáng đến vụ tranh chấp đó

Nếu trọng tài viên không vô tư, không khách quan trong viêc giải quyếttranh chấp, vi phạm nghĩa vụ của trọng tài viên thì quyết định của hội đồngtrọng tài có trọng tài viên này sẽ bị hủy ( điều 54 pháp lệnh trọng tài thươngmạị)

2.1.3 Nguyên tắc trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật

Đây là một nguyên tắc rất quan trọng trong mọi thủ tục tố tụng cúng nhưgiải quyết mọi vấn đề của đời sống xã hội trong điều kiện nhà nước pháp quyền

Trang 10

Mọi người phải sống và làm việc theo pháp luật Pháp luật bản thân nó chứađựng yếu tố công bằng và văn minh Pháp luật và khế ước chung của toàn xãhội, nó công bằng với tất cả mọi người không thiên vị ai.

Khi giải quyết tranh chấp thương mại theo thủ tục trọng tài, trọng tài viênpahir có căn cứ pháp luật, nhận hối lộ hoặc có hành vi vi phạm đạo đức trọng tàiviên thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi trọng tài Tư tưởng chỉ đạo đối vớitrọng tài viên là pháp luật, chỉ có căn cứ vào pháp luật, trọng tài viên mới giảiquyết được các tranh chấp một cáh vô tư khách quan

21.4 Nguyên tắc Trọng tài viên phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên

Việc giải quyế tranh chấp thương mại theo thủ tục trọng tài là các bêntranh chấp được đảm bảo tối đa quyền định đoạt trên nhiều phương diện trongquá trình giải quyết Các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận với nhau về nhiềuvấn đề liên quan đến thủ tục giải quyết như: lựa chọn trọng tài viên, địa điểmgiiar quyết, trọng tài viên phải tôn trọng, nếu không sẽ dẫn đến hậu quả làquyết định của hội đồng trọng tài sẽ bị tòa án hủy theo yêu cầu của các bên

Chỉ trong tố tụng trọng tài _ hình thức giải quyết các tranh chấp do cácbên lựa chọn, các bên mới có quyền thỏa thuận nhiều vấn đề như vậy và trọngtài viên bắt buộc phải tuân theo Còn trong tố tụng tòa án, các bên có tranh chấp

và thẩm phán giải quyết phải tuân theo quyết định nghiêm ngặt của pháp luật tốtụng

2.1.5 Nguyên tắc giải quyết một lần

Yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp thương mại là nhanh chóng, dứtđiểm, tránh dây dưa kéo dài, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh

Để các tranh chấp thương mại giữa các nhà kinh doanh có thể được giảiquyết nhanh chóng và dứt điểm, các tổ chức trọng tài phi chính phủ đã ra đời đểđáp ứng yêu cầu đó của nhà kinh doanh

Thủ tục trọng tài rất đơn giản, ngắn gọn, không có nhiều giai đợn xét xửnhư tố tụng tòa án Vì với tư cách là tổ chức phi chính phủ, trọng tài thương mạikhông có cơ quan cấp trên nên phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm,

Trang 11

không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Tố tụngtrọng tài chỉ có một trình tự giải quyết tức là các tranh chấp thương mại chỉ đượcgiải quyết một lần taị trọng tài.

2.2 Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại

Một tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mạikhi có hai điều kiện sau:

- Thứ nhất, tranh chấp được gửi đến trọng tài thương mại phải là tranhchấp thương mại;

- Thứ hai, giữa các bên tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài

2.3 Thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài.

2.3.1 Đơn kiện và thụ lí đơn kiện

- Đơn kiện phải có các nội dung chủ yếu như:

+ ngày, tháng, năm viết đơn;

+ tên và địa chỉ của các bên;

+ tóm tắt nội dung vụ tranh chấp;

+ các yêu cầu của nguyên đơn;

+ trị giá tài sản mà nguyên đơn yêu cầu;

+ trọng tài viên của trung tâm của trọng tài mà nguyên đơn lựa chọn

- Đơn kiện phải được gửi đến trọng tài trong thời hiệu mà pháp luật quiđịnh đối với từng loại tranh chấp

- Kèm theo đơn kiện, nguyên đơn pahir gửi bản chính hoặc bản sao thảothuận trọng tài, bản chính hoặc bản sao các tài liệu chứng cứ Bản sao có chứngthực hợp lệ Đồng thời nguyên đơn phải nộp tạm ứng phí trọng tài nếu các bên

có thỏa thuận khác

- Khi nhận đơn kiện, trung tâm trọng tài phải xem xét xem vụ kiện cóthuộc thẩm quyền giải quyết của mình không, đặc biệt là thỏa thuận trọng tài củacác bên có chọn đích danh trung tâm trọng tài mà nguyên đơ gửi đến hay không,tranh chấp có phát sinh từ hoạt động thương mại hay không Nếu thỏa thuậntrọng tài chọn đích danh trung tâm trọng tài và tranh chấp pahts sinh từ hoạt

Trang 12

động thương mại, nguyên đơn và bị đơn đều là tổ chức, cá nhân kinh doanh,trung tâm trọng tài sẽ thụ lí đơn kiện và bắt đầu có trách nhiệm giải quyết.

2.3.2 Bản tự bảo vệ

- Nếu các bên không có thỏa thuận khác, trong thời hạn ba mươi ngày kể

từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu kèm theo của nguyên đơn do trungtâm trọng tài gửi đến, bị đơn phải gửi cho trung tâm trọng tài bản tự bảo vệ Bản

tự bảo vệ gồm các nội dung sau:

+ Ngày, tháng, năm viết bản tự bảo vệ;

+ Tên và địa chỉ của bi đơn;

+ Lí lẽ chứng cứ để tự bảo vệ, phản bác một phần hay toàn bộ nội dungđơn kiện của nguyên đơn;

+ Trọng tài viên mà bị đơn chọn trong danh sách trọng tài viên của trungtâm

- Theo yêu cầu của bị đơn, thời hạn bị đơn phải gửi bản tự bảo vệ kèmtheo chứng cứ, có thể dài hơn ba mươi ngày nhưng phải trước ngày hội đồngtrọng tài mở phiên tòa

- Nguyên đơn phải có bản trả lời đơn kiện lại trong thời hạn ba mươingày, kể từ ngày nhận được đơn kiện lại

2.3.3 Thành lập Hội đồng trọng tài

.3.3.1 Thành lập Hội đồng trọng tài tại Trung tâm trọng tài

Việc giải quyết tranh chấp thương mại theo thủ tục trọng tài, do một hộiđồng trọng tài gồm ba trọng tài viên giải quyết Mỗi bên có quyền lực chọn chomình một trọng tài viên Hai trọng tài viên này sẽ cùng chọn một trọng tài viênlàm chủ tịch hội đồng

2.3.3.2 Hội đồng trọng tài do các bên thành lập

Nếu việc thành lập hội đồng trọng tài tại trung tâm trọng tài là do các bênthành lập với sự giúp đỡ của trung tâm thì việc thành lập hội đồng trọng tài vụviệc là do các bên thành lập với sự giúp đỡ của tòa án

Trong thời hạn ba mươi nagyf kể từ ngày nhận được đơn kiện của nguyên

Trang 13

đơn, bị đơn phải gửi cho nguyên đơn bản tự bảo vệ và thông báo cho nguyênđơn biết trọng tài viên mà bị đơn lựa chọn Nếu bị đơn không chọn trọng tài viên

và thông báo cho nguyên đơn trong thowidf hạn qui định, bị đơn sẽ mất điquyền lựa chọn trọng tài viên của mình

Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày hai trọng tài viên được lựachọn hoặc được tòa án chỉ định, các trọng tài viên phải thống nhất chọn trọng tàiviên thiws ba làm chủ tịch hội đồng trọng tài

Trọng tài viên do tòa án chỉ định có thể là trọng tài viên trong danh sáchhoặc ngoài danh sách trọng tài viên của các trung tâm trọng tài Việt Nam

2.3.4 Lựa chọn và thay đổi Trọng tài viên

- Việc lựa chọn trọng tài viên phải đáp ứng được các điều kiện được quiđịnh tại Điều 12 pháp lệnh trọng tài thương mại:

+ Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

+ Có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, vô tư, khách quan;

+ Có bằng đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 5 nămtrở lên

- Việc thay đổi trọng tài viên trong các trường hợp sau:

+ Trọng tài viên là người thân thích của một bên hoặc đại diện của bênđó;

+ Trọng tài viên có lợi ích trong vụ tranh chấp;

+ Có căn cứ rõ ràng cho thấy trọng tài viên không vô tư, khách quan trongkhi làm nhiệm vụ

2.3.5 Chuẩn bị giải quyết

Để tiến hành giải quyết tranh chấp các trọng tài viên phải tiến hành cáccông việc câm thiết cho việc giải quyết như sau:

- Thứ nhất, nghiên cứu hồ sơ, xác minh sự việc;

- Thứ hai, thu thập chứng cứ

2.3.6 Hòa giải

- Hòa giải là các bên tự thương lượng giải quyết tranh chấp với nhau mà

Ngày đăng: 26/08/2021, 18:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w