Khoản 1 Điều 3 Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại đã đưa ra khái niệm như sau: “Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thoả thuận và đ
Trang 1KHOA LUẬT - -
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI 2
Đề tài:
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng biện pháp hòa giải
Họ và tên : Nguyễn Anh Tú
MSV : 19061322
Lớp : K64D
Khóa : QHL - 2019
Chuyên ngành : Luật học
Hà Nội – 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI 3
1 Khái quát về tranh chấp thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại 3
1.1 Khái niệm về tranh chấp thương mại 3
1.2 Khái quát về giải quyết tranh chấp thương mại 3
2 Khái quát về hòa giải thương mại 4
2.1 Khái niệm và vai trò của hòa giải thương mại 4
2.2 Những nguyên tắc cơ bản của hòa giải thương mại 4
II PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH HÒA GIẢI TẠI VIỆT NAM 5
1 Pháp luật về hòa giải tranh chấp thương mại tại Việt Nam 5
1.1 Quy định của pháp luật về hòa giải thương mại 5
1.2 Nguyên tắc hòa giải theo quy định của pháp luật Việt Nam 6
1.3 Phạm vi giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại 7
1.4 Trình tự, thủ tục hòa giải thương mại 7
1.5 Ưu, nhược điểm của hòa giải thương mại 8
2 Thực tiễn thi hành phương thức hòa giải thương mại tại Việt Nam 9
2.1 Các kết quả đạt được 9
2.2 Một số khó khăn, vướng mắc trong thực thi pháp luật về hòa giải thương mại 9 III BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TỪ VIỆC THAM KHẢO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VỀ HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI 10
1 Bài học rút ra từ kinh nghiệm giải quyết tranh chấp tại Singapore về trình tự hòa giải 10 2 Bài học rút ra từ kinh nghiệm giải quyết trang chấp tại Nhật Bản 10
KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3MỞ ĐẦU
Hòa giải thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp rất phổ biến trên thế giới, nhất là ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển Nền kinh tế nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ, môi trường đầu tư kinh doanh cũng ngày càng mở rộng vì thế mà các tranh chấp kinh tế, thương mại cũng diễn ra ngày càng nhiều với các mức độ phức tạp, đòi hỏi phải có những cơ chế giải quyết tranh chấp linh hoạt, bên cạnh Tòa án, Trọng tài và phù hợp với thực tiễn Việt Nam Tuy nhiên phương thức này hiện nay vẫn chưa được sử dụng rộng rãi vì phần lớn các cá nhân, tổ chức chưa hiểu hết những quy định của pháp luật, những mặt có lợi mà hòa giải thương mại mang lại Do đó để có thể hiểu rõ hơn về phương thức này, thì em xin được chọn đề tài nghiên cứu: “ Quy định pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng hoà giải thương mại.”
Trang 4NỘI DUNG
I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI
1 Khái quát về tranh chấp thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại
Tranh chấp thương mại là một hiện tượng phổ biến và thường diễn ra trong hoạt động của nền kinh tế thị trường cho nên pháp luật Việt Nam đã sớm có những quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật về hoạt động này cũng như các phương thức giải quyết hoạt động này Dựa trên khái niệm được đưa ra về hoạtđộng thương mại dựa trên khoản 1 Điều 3 LTM 2005 thì có thể hiểu việc tranh chấp thương mại là
“những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại”
Giải quyết tranh chấp thương mại là hoạt động của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành các thủ tục giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại Nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, góp phần ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, bảo đảm trật tự pháp luật, xã hội thì việc giải quyết tranh chấp thương mại phải minh bạch, hiệu quả, đáp ứng được các yêu cầu sau: Nhanh chóng, thuận lợi, không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh, thương mại; Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh, thương mại; Giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên; Ít tốn kém nhất (kinh tế nhất)
Hiện nay, tranh chấp thương mại được giải quyết bằng 4 phương thức chính bao gồm: Thương lượng; Hòa giải; Tòa án; Trọng tài thương mại Các bên tranh chấp có quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp, phù thuộc vào lợi thế mà mỗi phương thức mang lại, mức độ phù hợp của nó so với nội dung tranh chấp
và thiện chí của các bên
Trang 52 Khái quát về hòa giải thương mại
Về khái niệm, hòa giải là một trong 4 phương thức chính dùng đề giải quyết tranh chấp thương mại, khác với thương lượng, hòa giải sẽ có sự tham gia của bên thứ
ba làm trung gian để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh Khoản 1 Điều 3 Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại đã đưa ra khái niệm như sau: “Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thoả thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định của Nghị định này”
Về vai trò, việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải đề cao và đảm bảo yếu tố tự quyết, nó còn có thể duy trì, cải thiện mối quan hệ giữa các bên nhờ việc xem xét đến lợi ích của các bên bởi phương thức này ít phụ thuộc vào nguyên tắc, quy tắc mà chủ yếu dựa vào con người Vì thủ tục linh hoạt, không cứng nhắc, có thể được thỏa thuận, điều chỉnh cho phù hợp với các bên nên hòa giải là phương thức hữu dụng thường xuyên được áp dụng để giải quyết ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam
Các bên tham gia vào quy trình hòa giải và quyết định hoàn toàn quá trình hòa giải dựa trên sự tự nguyện, không bên nào có thể ép buộc tham gia vào phương thức này Ở phương thức này, hòa giải viên không có quyền xét xử và ra phán quyết mà chỉ đưa ra gợi ý, hướng dẫn các bên về quy trình thủ tục hòa giải và đưa ra ý kiến tư vấn
về cách thức giải quyết vụ việc Các bên sẽ tự quyết định xem có đi đến thỏa thuận hòa giải hay không và nội dung của thỏa thuận đó
2.2.2 Hòa giải mang tí nh bí mật
Khi tham gia vào quá trình hòa giải, các bên phải cam kết không tiết lộ những thông tin có được từ quá trình hòa giải Những thông tin thu được trong quá trình hòa giải sẽ không thể trở thành bằng chứng để chống lại các bên trong trường hợp hòa giải không thành và các bên sử dụng Trọng tài hoặc Tòa án để tiếp tục giải quyết vụ việc Tương tự thì hòa giải viên cũng vậy, khi tham gia vào quá trình hòa giải thì hòa giải
Trang 6viên cũng phải cam kết giữ bí mật những thông tin do các bên cung cấp và các bên cũng không được yêu cầu triệu tập hòa giải viên với tư cách nhân chứng trong trường hợp sử dụng Trọng tài hay Tòa án để giải quyết vụ việc
2.2.3 Hòa giải viên phải độc lập và mang tí nh khách quan trong quá trì nh giải quyết tranh chấp, và không làm ảnh hưởng đến việc các bên sử dụng phương thức khác
Sự công minh, khách quan, vô tư của người hòa giải sẽ là yếu tố để các bên tranh chấp đặt lòng tin và cùng giải quyết vụ việc Vì vậy để giải quyết tranh chấp một cách công bằng, bình đẳng, quan tâm đến lợi ích các bên thì hòa giả viên khi thực hiện hòa giải phải đảm bảo được nguyên tắc khách quan, công minh, không có thái độ thiên vị với bất cứ bên nào Các bên có quyền yêu cầu thay đổi, chấm dứt hòa giải viên hoặc rút lui khỏi quá trình hòa giải trong trường hợp cảm thấy hòa giải viên có thái độ thiên
vị, vi phạm nguyên tắc khách quan, độc lập
II PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH HÒA GIẢI TẠI VIỆT NAM
1 Pháp luật về hòa giải tranh chấp thương mại tại Việt Nam
Dựa trên tinh thần của Luật mẫu UNCITRAL về hòa giả thương mại quốc tế là hài hòa hóa luật pháp toàn cầu về hòa giải, khuyến khích thực hiện quyền tự do tự nguyện thỏa thuận của các bên và tính chung thẩm của hòa giải, đồng thời hạn chế sự can thiệp của Tòa án thì hiện nay hàng lang pháp lý của Việt Nam cho phương thức hòa giải thương mại khá đầy đủ, bao gồm các nguồn sau:
- Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại;
- Chương XXXIII quy định về Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
- Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12, được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự số64/2014/QH13 Việc tạo ra hàng lang pháp lý đầy đủ như vậy sẽ giúp nâng cao và phát huy tối đa ưu thế của phương thức này, góp phần giảm tải hoạt động xét xử của Tòa án
Trang 71.2 Nguyên tắc hòa giải theo quy định của pháp luật Việt Nam
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại được chia thành 2 loại: hòa giải theo thỏa thuận của các bên và hòa giải bắt buộc theo thủ tục tố tụng của Tòa án tại Điều 205 BLTTDS 2015 Theo nguyên tắc được quy định tại khoản 2 Điều
205 BLTTDS 2015 này thì các bên có thể tự do thỏa thuận nhưng nội dung thỏa thuận
đó vẫn phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật, không được thỏa thuận về các điều
mà pháp luật cấm hay trái với đạo đức xã hội và đồng thời phải tôn trọng thỏa thuận của các bên đương sự, không được có những hành động dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, bắt ép thỏa thuận không phù hợp với ý chí của các bên Có thể thấy nguyên tắc này phù hợp với nguyên tắc của pháp luật dân sự, hướng đến tự do hóa các quan hệ dân sự nhưng không được trái với nguyên tắc quản lý nhà nước
Còn nguyên tắc hòa giải theo thỏa thuận của các bên được quy định tại Điều 4 Luật Trọng tài thương mại 2010 (nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài) và tại Điều 4 Nghị định 22/2017/NĐ-CP (nguyên tắc hòa giải thương mại ngoài tố tụng) Nguyên tắc giải quyết trang chấp bằng Trọng tài thương mại tương tự như Tòa án nhưng khác với Tòa án thì hòa giải không phải là thủ tục bắt buộc và việc giải quyết tranh chấp có thể bị đình chỉ bất cứ thời điểm nào nếu các bên yêu cầu Hội đồng trọng tài hòa giải đình chỉ hoặc các bên thỏa thuận được với nhau và đề nghị Chủ tịch trung tâm hòa giải đình chỉ
Đối với nguyên tắc hòa giải ngoài tố tụng thì Nghị định 22/2017/NĐ-CP có 3 nguyên tắc chính: Thứ nhất, các bên tranh chấp tham gia hòa giải hoàn toàn tự nguyện
cũng như bình đẳng về quyền, nghĩa vụ bởi nếu ép buộc sẽ làm mất đi bản chất của
việc hòa giải Thứ hai, các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải phải được giữ bí
mật nhằm đáp ứng một trong các yêu cầu của giải quyết tranh chấp thương mại là giữ
bí mật kinh doanh, uy tín của các bên và mọi chủ thể liên quan đều phải tuân thủ nguyên tắc này, gồm cả hòa giải viên Tuy nhiên trong trường hợp các bên có thỏa thuận bằng băn bản hoặc pháp luật có yêu cầu thì các thông tin vẫn có thể được yêu
cầu tiết lộ và phải tiết lộ như trường hợp liên quan đến an ninh Thứ ba, nội dung thỏa
thuận hòa giải của các bên không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, xâm phạm đến quyền của bên thứ ba
Trang 81.3 Phạm vi giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại
Về cơ bản thì phạm vi giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải cũng tương tự như phạm vi giải quyết bằng Trọng tài thương mại (quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010) đều phải thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 2 Nghị định 22/2017/NĐ-CP:
- Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại, các hoạt động thương mại ở đây bao gồn mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động khác theo quy định của Luật Thương mại, các chủ thể ở đây phải là các thương nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh;
- Tranh chấp giữa các bên mà trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại, trong trường hợp này thì chỉ yêu cầu một bên là thương nhân còn bên còn lại không yêu cầu là thương nhân và có giao dịch với thương nhân;
- Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại, khác với 2 trường hợp còn lại, việc phát sinh tranh chấp không bắt buộc phải là tranh chấp từ hoạt động thương mại và một trong các bên (cả hai bên) không nhất thiết phải là thương nhân
Về thỏa thuận hòa giải, theo Điều 11 Nghị định 22/2017/NĐ-CP thì việc thỏa thuận có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản hòa giải trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng và thỏa thuận được xác lập bằng văn bản
Về lựa chọn hòa giải viên, vì nguyên tắc cơ bản của hòa giải là tôn trọng quyền
tự định đoạt các bên nên hòa giải viên được lựa chọn trực tiếp hoặc qua nhà cung cấp dịch vụ dựa theo thỏa thuận chung của các bên (Điều 12 Nghị định 22/2017/NĐ-CP) Trong trường hợp lựa chọn hòa giải viên thì các bên có thể lựa chọn trên danh sách ở
Sở Tư pháp hoặc ở tổ chức hòa giải thương mại rồi liên hệ với hòa giải viên được thống nhất lựa chọn để tiến hành vụ việc, và ngược lại, nếu các bên không có thỏa thuận thì việc chỉ định hòa giải viên thông qua tổ chức hòa giải thương mại sẽ được thực hiện theo Quy tắc hòa giải của tổ chức hòa giải đó
So với tố tụng thì phương thức hòa giải linh hoạt hơn cả về mặt thủ tục lẫn kết quả giải quyết vụ việc Các bên hoàn toàn làm chủ quy trình hòa giải cũng như quyết
Trang 9định nội dung thỏa thuận về vụ việc giải quyết tranh chấp Quyền và nghĩa vụ của các bên được quy định đầy đủ tại Điều 13 Nghị định 22/2017/NĐ-CP như quyền đồng ý,
từ chối hòa giải, yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hòa giải,… Các bên có quyền thỏa thuận, lựa chọn trình tự, thủ tục, thời gian, địa điểm để tiến hành hòa giải Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về trình tự, thủ tục thì hòa giải viên tiến hành hòa giải theo trình tự, thủ tục mà hòa giải viên thấy phù hợp với vụ việc, nguyện vọng của các bên và được các bên chấp thuận Khác với tính chất đối kháng của tố tụng như Trọng tài hoặc Tòa án, việc hòa giải viên tạo ra bầu không khí hợp tác, khuyến khích
và cùng các bên trao đổi thảo luận để cùng nhau tìm ra giải pháp là rất quan trọng Điều này sẽ giúp duy trì mối quan hệ kinh doanh giữa các bên, theo khoản 3 Điều 14 Nghị định 22/2017/NĐ-CP thì hòa giải viên vào bất cứ thời điểm nào có thể cùng các bên đề xuất nhằm giải quyết tranh chấp
Và cuối cùng khi hòa giải thành thì các bên lập văn bản về kết quả hòa giải thành, phải có chữ ký của các bên và của hòa giải viên Theo quy định của pháp luật dân sự thì văn bản này sẽ có hiệu lực thi hành đối với các bên, và các bên có nghĩa vụ thi hành kết quả hòa giải thành theo điểm b Khoản 2 Điều 1 Nghị định
22/2017/NĐ-CP Trường hợp không đạt được kết quả hòa giải thành, các bên có quyền tiếp tục hòa giải hoặc yêu cầu Trọng tài hoặc Tòa án giải quyết tranh chấp
Đối với hòa giải thương mại tại Tòa án, việc hòa giải diễn ra theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định, giúp hoạt động hòa giải chặt chẽ, mang tính chuyên nghiệp cao Song dù Tòa án chỉ đóng vai trò trung gian nhưng vì được tiến hành tại Tòa án nên quá trình phải tiến hành theo một quy trình cụ thể do luật định
Đối với hòa giải thương mại ngoài Tòa án, thủ tục hòa giải áp dụng mềm dẻo, linh hoạt hơn, các bên có thể chủ động về thời gian, địa điểm giải quyết cũng như hạn chế tốn kém về thời gian, tiền bạc cho các doanh nghiệp do không phải trải qua nhiều cấp xét xử, văn bản về kết quả hòa giải thành được xem xét công nhận theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Hơn thế, việc hòa giải ngoài Tòa án còn có ưu điểm là giúp giữ được mối quan hệ giữa các bên sau này và giữ bí mật kinh doanh không làm
Trang 10ảnh hưởng đến uy tín của các bên tranh chấp vì đặc điểm vì phương thức này mang
tính thân mật cao và bảo đảm bí mật của vụ việc
Bên cạnh những ưu điểm thì các quy định về hòa giải thương mại ngoài Tòa án còn có những nhược điểm cần phải sửa đổi, khắc phục như: Nếu hòa giải viên không tuân thủ các nguyên tắc về nghề nghiệp, đạo đức của hòa giải viên thì có thể sẽ gây bất lợi cho một bên; Vụ việc tranh chấp có thể bị một bên cố ý kéo dài hoặc làm phức tạp thêm quá trình hòa giải do hòa giải viên không được đưa ra quyết định ràng buộc hay
áp đặt các bên khi giải quyết vụ việc; Việc chọn lựa hòa giải viên có thể chọn lựa một bên trung gian hoàn toàn theo ý chủ quan của một bên dẫn đến việc hòa giải không được diễn ra khách quan;…
2 Thực tiễn thi hành phương thức hòa giải thương mại tại Việt Nam
Với phương thức hòa giải thương mại tại Tòa án, dựa trên báo cáo về công tác của Tòa án nhân dân các cấp năm 2017 cho thấy số lượng án tăng 28.993 vụ so với cùng kỳ năm 2016, hầu hết các vụ án đều được giải quyết trong thời hạn quy định của pháp luật Tỷ lệ hòa giải thành tăng 1% so với cùng kỳ năm 2016
Còn với phương thức hòa giải thương mại ngoài Tòa án, với sự ra đời của Nghị định 22/2017/NĐ-CP thì VIAC đã thành lập Trung tâm hòa giải Việt Nam (VMC), và
là trung tâm hòa giải đầu tiên tại Việt Nam được thành lập hợp pháp theo quy định của Nghị định 22/2017/NĐ-CP Tính đến năm 2019 thì VMC đã giải quyết được 5 vụ việc tranh chấp với tổng giá trị tranh chấp lên đến 934,5 tỷ đồng
mại
Dù Nghị định 22/2017/NĐ-CP đã ra đời được một thời gian nhưng nhận thức đầy đủ của các cá nhân, tổ chức về vai trò của hòa giải còn hạn chế Các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa hiểu biết đầy đủ và chính xác về phương thức hòa giải, vẫn còn chịu ảnh hưởng của Tòa án
Thêm vào đó thì quy định pháp luật vẫn còn lỏng lẻo, cần phải được hoàn thiện hơn như quy định về tiêu chuẩn của hòa giải viên chưa thật sự chặt chẽ, cần yêu cầu cao hơn và có những quy định chặt chẽ hơn; Việc đào tạo, bồi dưỡng năng lực của hòa