ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN VÀ ƯU ĐIỂM KHI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI SO VỚI TÒA ÁN CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM LUẬT THƯƠNG MẠI 2 Sinh viên thực hiện Lớp Mã sinh viên Cán bộ hướng dẫn TS Hồ Ngọc Hiển Hà Nội, 2022 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TA Tòa án TTTM Trọng tài thương mại LTTTM Luật Trọng tài thương mại GQTC Giải quyết tranh chấp TT Trọng tài TCTM Tranh chấp thương mại MỤC LỤC I ĐẶT VẤN ĐỀ 4 II ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 4 1 1 Khái niệm, bản chất ph.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN VÀ ƯU ĐIỂM KHI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI SO VỚI TÒA ÁN CỦA
TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬT THƯƠNG MẠI 2
Sinh viên thực hiện:
Lớp:
Mã sinh viên:
Cán bộ hướng dẫn: TS Hồ Ngọc Hiển
Hà Nội, 2022.
1
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TTTM Trọng tài thương mại
LTTTM Luật Trọng tài thương mại
GQTC Giải quyết tranh chấp
TCTM Tranh chấp thương mại
2
Trang 3MỤC LỤC
I ĐẶT VẤN ĐỀ 4
II ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 4
1.1 Khái niệm, bản chất pháp lý 4
1.2 Đặc điểm 5
1.3 Ưu thế khi giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại 6
III NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 7
3
Trang 4I ĐẶT VẤN ĐỀ
TA và TTTM là các thiết chế tài phán độc lập và đều có chức năng là GQTC thương mại Tuy nhiên mỗi thiết chế lại có những đặc trưng riêng Nếu như TA là cơ quan xét xử của quốc gia, thực hiện quyền tài phán thì TTTM lại là tổ chức xã hội – nghề nghiệp, một loại
“tòa án tư” 1 TTTM được đánh giá là một bước tiến tích cực nhằm xây dựng cơ chế trọng tài thương mại tiệm cận với các tiêu chuẩn quốc tế, hoạt động trọng tài thương mại đã từng bước được củng cố và phát triển Số lượng vụ, việc được giải quyết bằng trọng tài đang có
xu hướng tăng, loại tranh chấp được trọng tài giải quyết cũng đa dạng hơn 2 , đồng thời, chất lượng giải quyết tranh chấp ngày càng được nâng cao, hoạt động trọng tài đang dần đi theo hướng chuyên nghiệp Hoạt động trọng tài trong thời gian qua góp phần giải quyết các tranh chấp thương mại nhanh chóng, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, giảm tải cho hoạt động xét xử của Tòa án, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam
Do đó, trong khuôn khổ tiểu luận này, tác giả sẽ làm rõ bản chất của TTTM, đồng thời chỉ
ra ưu điểm khi sử dụng TTTM khi GQTC thương mại cũng như đưa ra một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật về TTTM của VN.
II ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
1.1.Khái niệm, bản chất pháp lý
a) Khái quát chung
Trọng tài thương mại có thể được nghiên cứu ở các bình diện khác nhau như là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại hoặc là thiết chế giải quyết tranh chấp thương mại
Ở bình diện là phương thức giải quyết tranh chấp, trọng tài thương mại được nghiên cứu như một thủ tục tố tụng đặc thù (so với toà án), theo đó khi có tranh chấp, các bên có thể thoả thuận mời một trọng tài viên duy nhất hoặc một hội đồng trọng tài để xem xét (giải quyết), đưa ra phán quyết và phán quyết đó có ý nghĩa chung thẩm, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên
vụ việc tranh chấp tại VIAC là 734 việc, tăng 487 việc so với giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2009, số vụ việc năm sau tăng cao hơn năm trước Tham khảo thêm tại http://viac.vn/thong-ke/thong-ke-tinh-hinh-giai-quyet-tranh-chap-tai-viac-nam-2017-a1141.html.
4
Trang 5Là thiết chế giải quyết tranh chấp kinh doanh, trọng tài thương mại được hiểu là tổ chức xã hội-nghề nghiệp, do các trọng tài viên tự nguyện thành lập để giải quyết các tranh chấp thương mại theo sự thoả thuận của các bên tranh chấp.3
Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thương mại của trọng tài thương mại được phân định dựa trên sự thoả thuận lựa chọn của đương sự mà không phụ thuộc vào nơi
cư trú hoặc nơi có trụ sở chính của bên bị đơn Để tranh chấp được giải quyết tại trọng tài thương mại, các bên phải có sự thoả thuận rõ ràng “điều khoản trọng tài” khi xác lập quan hệ hợp đồng hoặc một văn bản thoả thuận riêng sau khi có tranh chấp phát sinh và chỉ có trung tâm trọng tài thương mại được các bên thoả thuận lựa chọn thì mới có quyền thụ lí và giải quyết Những trường hợp không có sự thoả thuận của các bên đương sự về lựa chọn trọng tài thì trung tâm trọng tài không có quyền thụ lí
và phải trả lại đơn cho đương sự
Như vậy, TTTM chỉ có thẩm quyền khi có thỏa thuận trọng tài (Khoản 1 Điều 5 Luật
TTTM năm 2010) Thoả thuận trọng tài (Arbitration agreement) là thoả thuận giữa
các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh (Khoản 2 Điều 3 Luật TTTM năm 2010)
b) Điều kiện để giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Trọng tài chỉ có thẩm quyền khi được các bên tranh chấp trao quyền giải quyết (có thỏa thuận trọng tài) Do vậy, trước khi giải quyết nội dung vụ tranh chấp, HĐTT phải xem xét hai vấn đề về thẩm quyền của mình (Điều 43 và Điều 16 Luật mẫu UNCITRAL) đó là: 1) Có thỏa thuận trọng tài không? (Đ.17 Luật mẫu UNCITRAL)
và 2) Thỏa thuận trọng tài có hiệu lực không? (Đ18 Luật mẫu UNCITRAL)
Về việc xem xét có thỏa thuận TT hay không: Thỏa thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh” (Khoản 2 Điều 3 Luật TTTM 2010) và xem xét đến ý chí mong muốn của các bên
trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr 145.
5
Trang 6Về điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận TT cần xem xét đến các tranh chấp của thuộc thẩm quyền giải quyết của TT hay không Thoả thuận trọng tài để có hiệu lực cần
phải đáp ứng yêu cầu về tranh chấp thuộc thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài (Điều
2 LTTTM năm 2010)
1.2.Đặc điểm
Thứ nhất, trọng tài thương mại là tổ chức xã hội - nghề nghiệp
trọng tài thương mại tồn tại với tư cách là tổ chức xã hội-nghề nghiệp, không nằm trong hệ thống các cơ quan quản lí nhà nước và cũng không phải là cơ quan tài phán
tư pháp Trung tâm trọng tài thương mại là tổ chức xã hội-nghề nghiệp của các thương nhân, được thành lập để giải quyết các tranh chấp thương mại, qua đó góp phần bảo vệ quyền lợi cho các thương nhân.4 Tổ chức trọng tài không là cơ quan nhà nước như trọng tài kinh tế trước đây, không trực tiếp chịu sự can thiệp của Nhà nước
về tổ chức, nhân sự, tài chính Chính vì vậy, trọng tài thương mại còn được gọi là trọng tài phi chính phủ Tuy nhiên, dù không được Nhà nước thành lập và không đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Nhà nước nhưng hoạt động của các trung tâm trọng tài thương mại vẫn chịu sự chi phối của Nhà nước ở những mức độ nhất định Nhà nước thực hiện sự chi phối này thông qua hệ thống pháp luật do Nhà nước ban hành
Thứ hai, các trung tâm trọng tài thương mại tồn tại và hoạt động độc lập, bình đẳng với nhau
các trung tâm trọng tài độc lập với nhau, giữa chúng không có mối quan hệ trực thuộc
mà chỉ có quan hệ hợp tác Các trung tâm đều có vị trí bình đẳng cho dù đó là trọng tài trong nước hay quốc tế, là trọng tài được thành lập từ lâu, có uy tín trên thương trường hay trọng tài mới được thành lập, chưa nhiều người biết đến Khi có tranh chấp xảy ra, các đương sự có thể yêu cầu bất kì trung tâm trọng tài nào đứng ra giải quyết tranh chấp; mọi phán quyết của các trung tâm trọng tài đều có giá trị pháp lí như nhau Tuy nhiên, quy tắc tố tụng và mức thu lệ phí trọng tài là những nội dung thường có sự quy định khác nhau ở các trung tâm trọng tài
4 Nguyễn Viết Tý (2019), sdd, tr.54.
6
Trang 7Thứ ba, cơ cấu tổ chức của trọng tài thương mại gọn nhẹ
Cơ cấu tổ chức của mỗi trung tâm trọng tài thường gọn nhẹ và linh hoạt Nếu là trọng tài ad-hoc thì hội đồng trọng tài tối đa cũng chỉ gồm 3 trọng tài viên, còn trọng tài thường trực (trọng tài quy chế) thì cơ cấu tổ chức cũng chỉ có bộ phận thường trực (gồm chủ tịch, phó chủ tịch, ban thư kí) và danh sách trọng tài viên
Thứ tư, trọng tài viên ở các trung tâm trọng tài thương mại
Hoạt động giải quyết tranh chấp ở các trung tâm trọng tài được tiến hành bởi đội ngũ trọng tài viên Khác với thẩm phán ở các cơ quan toà án (là các công chức nhà nước), trọng tài viên ở các trung tâm trọng tài thương mại không là công chức, viên chức nhà nước
Thứ năm, các trung tâm trọng tài thương mại có quy tắc tố tụng riêng
Khác với toà án (tất cả các toà án nhân dân tỉnh, thành, quận, huyện, khi giải quyết tranh chấp đều dựa trên cơ sở Bộ luật tố tụng dân sự), mỗi trung tâm trọng tài thương mại đều có bản quy tắc tố tụng riêng được xây dựng trên các nguyên tắc cơ bản đã được quy định trong bản quy tắc trọng tài của Uỷ ban luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL).5
Thứ sáu, trọng tài thương mại hoạt động dưới sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp
Nhà nước cần coi sự hỗ trợ đối với trọng tài thương mại là trách nhiệm của mình vì thực chất trọng tài thương mại giảm bớt gánh nặng giải quyết tranh chấp trong kinh doanh với Nhà nước Luật trọng tài thương mại năm 2010, sự hỗ trợ của các cơ quan
tư pháp đối với trọng tài thương mại mới được quy định tương đối đầy đủ Theo Luật trọng tài thương mại năm 2010, các hình thức hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với trọng tài thương mại.6
5 UNCITRAL là bản quy tắc trọng tài của Uỷ ban luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc là bản quy tắc về trọng tài quốc tế quy định các nguyên tắc cơ bản trong quá trình xét xử các tranh chấp trong hoạt động thương mại quốc tế, được
Uỷ ban luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc thông qua ngày 28/4/1976 và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 15/12/1976.
6 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại, Tập 2, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2017, tr 367 - 378.
7
Trang 8Về Thỏa thuận trọng tài, Thỏa thuận trọng tài có 4 đặc điểm là 1) tính bắt buộc (khi các bên đã thỏa thuận lựa chọn TT thì TA phải từ chối GQTC nếu có đơn yêu cầu), 2) thời điểm lập thỏa thuận có thể có trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp (Điều 5 LTTTM năm 2010)
1.3.Ưu thế khi giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại
Nếu đặt lên “bàn cân” những điểm mạnh, điểm yếu của từng hình thức giải quyết tranh chấp thì mặc dù Trọng tài và Tòa án đều là những phương thức giải quyết tranh chấp của các bên, không cạnh tranh lẫn nhau mà bổ sung cho nhau Tuy vậy, TTTM thể hiện rõ những ưu điểm khắc phục hạn chế của TA như sau:
Thứ nhất, Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt, và do đó có khả năng giải quyết tranh chấp mau chóng, dễ dàng, làm giảm tải một cách đáng kể số các tranh chấp thường có.
Trọng tài là phương thức do các bên tự lựachọn, đa số các quy tắc tố tụng Trọng tài rất linh hoạt trong việc xác định thủ tục Trọng tài, phiên họp giải quyết tranh chấp, thời hạn, địa điểm tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp, nơi các Trọng tài viên gặp
gỡ, thời gian soạn thảo phán quyết Trọng tài
Thứ hai, các bên có thể lựa chọn các Trọng tài viên có trình độ chuyên môn cao miễn
là các Trọng tài viên bảo đảm được yêu cầu về tính độc lập
Thứ ba, Là “người của các bên”, nói cách khác, Hội đồng Trọng tài được hình thành bởi ý chí của các bên, do đó, rất ít khi phát sinh vấn đề về tính độc lập và khách quan của các Trọng tài viên 7
Thứ tư, Trọng tài có tính quốc tế và do vậy đây là một cách giải quyết các tranh chấp
có yếu tố nước ngoài một cách có hiệu quả
Điều đó thể hiện ở chỗ, các bên có thể bình đẳng lựa chọn ngôn ngữ sử dụng, quy tắc
tố tụng; quốc tịch của các Trọng tài viên, đại diện pháp lý Quyết định Trọng tài dễ
chí Luật học (26), tr.275
8
Trang 9dàng đạt được sự công nhân quốc tế trên cơ sở các công ước quốc tế, trước hết là Công ước New York 1958 về Công nhận và Thi hành quyết định Trọng tài
Thứ năm, Phán quyết của Trọng tài là chung thẩm, không bị kháng cáo trừ trường hợp bị Tòa án tuyên hủy trên cơ sở một số điều kiện nhất định do luật định.
Thứ sáu, Các phiên họp giải quyết tranh chấp của Trọng tài là không công khai Đây
là một ưu điểm lớn của Trọng tài khi vụ tranh chấp liên quan đến các bí mật, nhất là
bí mật thương mại và phát minh, sáng chế.
III NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ
Điều 14 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định về luật áp dụng giải quyết tranh chấp như sau: “1 Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp; 2 Đối với tranh chấp
có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất ” Những nội dung của Điều 14 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 có thể coi là sự nỗ lực của nhà làm luật nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các trường hợp có yếu tố quốc tế trong các tranh chấp khi điều luật đã phân biệt “tranh chấp không có yếu tố nước ngoài” và “tranh chấp có yếu tố nước ngoài” Tuy nhiên, nếu nhìn nhận quy định đó từ góc độ của nguyên tắc về quyền tự do định đoạt của các bên tranh chấp thì đây là một rào cản pháp lý của quyền tự do để khi “đối với tranh chấp không
có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp”, điều này đồng nghĩa với việc hạn chế quyền lựa chọn luật áp dụng đối với các bên tranh chấp là công dân Việt Nam và trái với nguyên lý về sự phụ thuộc của việc xác định luật áp dụng vào kết quả của sự lựa chọn địa điểm tiến hành trọng tài Do đó, nếu như nguyên lý này là bất di bất dịch thì quy định tại khoản 1 Điều 14 nói trên là vô nghĩa
Luật áp dụng phải bao hàm trong đó luật thủ tục và luật nội dung Việc lựa chọn luật thủ tục không nhất thiết phải trùng hợp với việc lựa chọn luật nội dung và ngược lại
9
Trang 10Khái niệm về luật điều chỉnh tố tụng trọng tài nhất là trường hợp để cho tố tụng trọng tài được tiến hành ở quốc gia này chịu sự điều chỉnh của luật thủ tục của quốc gia khác đã trở thành chủ đề của nhiều cuộc tranh luận trên các diễn đàn khoa học và thực tiễn trọng tài quốc tế Nguyên tắc bất di bất dịch ở đây là phải cho phép các bên trong tố tụng trọng tài có thể tiến hành thủ tục tố tụng trọng tài theo luật thủ tục mà
họ lựa chọn Nếu luật thủ tục của một quốc gia nào đó có lợi hay quen thuộc đối với các bên khiến họ mong muốn áp dụng thì họ sẽ cố gắng hơn để tiến hành tố tụng trọng tài tại quốc gia đó Chính vì vậy, quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 của Việt Nam là không hợp lý và sẽ là một rào cản pháp lý đối với việc sử dụng trọng tài để giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam
10
Trang 11DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Luật Trọng tài thương mại năm 2010
Đào Trí Úc (2010), Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài và vai trò của Tòa án trong
quá trình tố tụng trọng tài, Tạp chí Luật học (26), tr.275
UNCITRAL là bản quy tắc trọng tài của Uỷ ban luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc là bản quy tắc về trọng tài quốc tế quy định các nguyên tắc cơ bản trong quá trình xét xử các tranh chấp trong hoạt động thương mại quốc tế, được Uỷ ban luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc thông qua ngày 28/4/1976 và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 15/12/1976
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại, Tập 2, Nxb Tư pháp, Hà
Nội, 2017
Bùi Ngọc Cường, Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế
hiện hành ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004
Nguyễn Viết Tý (2019), Đặc trưng cơ bản của trọng tài thương mại ở Việt Nam, Tạp
chí Luật học số 04/2019
11