LỜI MỞ ĐẦU Việt nam là một quốc gia được phát triển dựa trên nền nông nghiệp , với vị trí địa lý thuận lợi cùng với khí hậu 4 mùa thích hợp với các ngành nghề nông nghiệp bao gồm nông lâm thủy sản Do đó tỷ lệ lao động hoạt động trong ngành nông nghiệp của việt nam hiện nay vẫn còn cao so với các nước trên thế giới Bước vào giai đoạn phát triển kinh tế xã hội năm 2021 2030 , để đáp ứng sự chuyển dịch cơ cấu ngành từ nông nghiệp qua công nghiệp và dịch vụ Đảng và nhà nước ta đã đặt ra các mục tiêu.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Việt nam là một quốc gia được phát triển dựa trên nền nông nghiệp , với vị trí địa lý thuận lợi cùng với khí hậu 4 mùa thích hợp với các ngành nghề nông nghiệp bao gồm nông lâm thủy sản
Do đó tỷ lệ lao động hoạt động trong ngành nông nghiệp của việt nam hiện nay vẫn còn cao so với các nước trên thế giới Bước vào giai đoạn phát triển kinh tế xã hội năm
2021-2030 , để đáp ứng sự chuyển dịch cơ cấu ngành từ nông nghiệp qua công nghiệp và dịch
vụ
Đảng và nhà nước ta đã đặt ra các mục tiêu trong giai đoạn mười năm tới là giảm lượng lao động hoạt động trong ngành nông nghiệp còn là 20%
“Vậy luận cứ khoa học của chiến lược trên là gì ? vì vậy nên em chọn đề tài Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam 2021-2030 đưa ra mục tiêu đến năm 2030 tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm xuống dưới 20% Phân tích luận cứ khoa học về việc lựa chọn mục tiêu trên.”
Trang 2CHƯƠNG 1 : LAO ĐỘNG HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH NÔNG NGHIỆP
1.1 Đặc điểm của lao động trong ngành nông nghiệp
Lao động nông thôn mang tính thời vụ
Đây là đặc điểm dặc thù không thể xáo bỏ được của lao động nông thôn Nguyên nhân của nét đặc thù trên là do: đối tượng của sản xuấ nông nghiệp là cây trồng vật nuôi chúng
là những cơ thể sống trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất kinh tế đan xen nhau
Cùng một loại cây trồng vật nuôi ở những vùng khác nhau có điều kiện tự nhiên khác nhau chúng cũng có quá trình sinh trưởng và phát triển khác nhau Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xáo bỏ được trong quá trình sản xuất chúng ta chỉ có thể tìm cách làm giảm tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp Từ đó đặt ra vấ đề cho việc
sử dụng các yếu tố đầu vào của qúa trình sản xuất, đặc biệt là vấn đề sử dụng lao động nông thôn một cách hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng
Chất lượng nguồn lao động nông thôn chưa cao :
Chất lượng của người lao động được đánh gía qua trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật
và sức khoẻ
Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật :
Nguồn lao động của nước ta đông về số lượng nhưng sự phát triển của nguồn nhân lực nước ta còn nhiều hạn chế, nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu khắt khe trong bối cảnh đất nước đang hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt chúng ta đang chuẩn bị gia nhập tổ chức WTO trong thời gian tới trong đó nông nghiệp được xem là một trong những thế mạnh Riêng lao động nông thôn chiếm hơn 3/4 lao động của cả nước Tuy vậy nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn chưa phát huy hết tiềm năng do trình độ chuyên môn của lao động thấp kỹ thuật lạc hậu Do đó, để có một nguồn lao động với trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thì nhà nước cần phải có chính sách đào tạo bồi dưỡng để có nguồn nhân lực đủ trình độ để phát triển đất nước
Trang 3Về sức khoẻ
Sức khoẻ của người lao động nó liên quan đến lượng calo tối thiểu cung cấp cho cơ thể mỗi ngày, môi trướng sống, môi trường làm việc,vv.Nhìn chung lao động nước ta do thu nhập thấp nên dẫn đến các nhu cầu thiết yếu hàng ngày chưa đáp ứng được một cách đầy
đủ Vì vậy, sức khẻo của nguồn lao động cả nước nói chung và của nông thôn nói riêng là chưa tốt
1.2 Vai trò của nông nghiệp tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Sản xuất nông nghiệp trong những năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn Thành tựu lớn nhất là đã đảm bảo được an ninh lương thực quốc gia, từ một nước có một nền nông nghiệp lạc hậu vươn lên trở thành một nước có nền nông nghiệp hàng hóa, có vị trí đáng kể trong khu vực và trên thế giới Đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều địa phương thực hiện giãn cách xã hội làm ảnh hưởng đến hầu hết các ngành các lĩnh vực, trong đó có nông nghiệp Trước những khó khăn đó, ngành Nông nghiệp đã có nhiều giải pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả thể hiện vai trò bệ đỡ của nền kinh tế trong lúc khó khăn, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu, là cơ sở quan trọng để thực hiện an sinh, an dân trong đại dịch
Điều đó thể hiện rõ nét nhất trong tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2021 ước tính giảm 6,17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là khu vực duy nhất tăng trưởng dương trong ba trụ cột của nền kinh tế là nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ với mức tăng 1,04%; trong khi đó khu vực công nghiệp và xây dựng giảm 5,02%; khu vực dịch vụ giảm 9,28% Mặc dù bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn phát triển so với cùng kỳ năm trước: năng suất lúa tăng cao, chăn nuôi tăng trưởng ổn định, kim ngạch xuất khẩu một số nông sản đạt khá Ngành nông nghiệp tăng 3,32%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm vào tốc
độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,3%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 0,66%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm
Trang 4CHƯƠNG 2 : CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2021-2030 2.1 Mục tiêu trong giai đoạn 2021-2030
Mục tiêu tổng quát
Phấn đấu đến năm 2030, là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; có thể chế quản lý hiện đại, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; kinh tế phát triển năng động, nhanh và bền vững, độc lập, tự chủ trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với nâng cao hiệu quả trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy sức sáng tạo, ý chí và sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng xã hội phồn vinh, dân chủ, công bằng, văn minh, trật tự, kỷ cương, an toàn, bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế Phấn đấu đến năm
2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao
Mục tiêu cụ thể :
Về xã hội
- Chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,74
- Tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%
- Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm xuống dưới 20%
2.2 Luận cứ khoa học về giảm mục tiêu lao động nông nghiệp
Sự dịch chuyển của lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp
- Chuyển dịch cơ cấu lao động góp vào sự phân bố lại hợp lý giữa các vùng, các ngành nghề, tạo điều kiện cho người lao động lựa chọn được nghề phù hợp, mang lại thu nhập cao hơn, tăng cơ hội tìm được việc làm
Chuyển dịch cơ cấu lao động góp phần làm cung và cầu lao động xích lại gần nhau
và do đó được coi là một giải pháp tạo việc làm tích cực Các nước Châu Á-Thái Bình Dương có nhiều bài học quý về giải quyết việc làm thông qua chuyền dich cơ cấu lao động như ở Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaixia
Trang 5Chuyển dịch cơ cấu lao động làm tăng tỷ trọng lao động có đào tạo là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, và
là yếu tố quyết định cho sự hội nhập quốc tế thắng lợi
Ở nông thôn nước ta chuyển dịch cơ cấu lao động theo nghề để tăng dần tỷ trọng lao động phi nông nghiệp, thực hiện đa dạng hoá nông nghiệp là giải pháp duy nhất để hạn chế thiếu việc làm, thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo Đặc biệt, dịch chuyển
cơ cấu chất lượng lao động làm tăng tỷ trọng lao động có đào tạo là điều kiện bảo đảm thực hiện thành công yêu cầu của công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, quá trình này tất yếu làm thay đổi tỷ trọng lao động trong các ngành kinh tế
Biểu 2.1: Cơ cấu lao động đang làm việc theo 3 nhóm ngành kinh tế, thời kỳ 2010-2020
Đơn vị tính: Phần trăm
Năm Nông, lâm, thuỷ sản Công nghiệp và xây
dựng
Dịch vụ
Nguồn: 2010-2019: Niên giám Thống kê; 2020: Điều tra lao động và việc làm năm 2020.
Trang 6Biểu 2.1 cho thấy chuyển dịch cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế từ năm 2010 đến nay Năm 2020, lao động trong khu vực "Nông, lâm, thuỷ sản" chiếm 33,1%, giảm 16.4 điểm phần trăm so với năm 2010 và giảm 1,4 điểm phần trăm so với năm 2019 Ngược lại, khu vực "Công nghiệp và xây dựng" tăng 9,8 điểm phần trăm so với năm
2010 và tăng 0,7 điểm phần trăm so với năm 2019, khu vực "Dịch vụ" tăng 6,6 điểm phần trăm so với năm 2010 và tăng 0,7 điểm phần trăm so với năm trước Như vậy, so với năm 2019, đã có sự chuyển dịch của lao động khu vực nông, lâm, thủy sản sang khu vực công nghiệp và xây dựng và khu vực dịch vụ, đưa tỷ trọng lao động khu vực công nghiệp và xây dựng lên 30,8% và khu vực dịch vụ lên 36,1%, cao nhất kể từ năm 2010 đến nay
Biểu 2.2 Lực lượng lao động trên 15 tuổi trong ngành nông nghiệp
Đơn vị tính Nghìn người
Biểu 2.2 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc hàng năm trong ngành nông nghiệp
Nghề
trong
nông,
lâm, ngư
nghiệp 7.583,55 7.085,96 6.570,52 6.283,60 6.396,90 5.396,50 5.412,40 5.158,90 4.984,60 4.008,10 3.938,19
Nguồn : tổng cục thống kê
Biểu 2.2 cho ta thấy số lượng người lao động trên 15 tuổi đang hoạt động trong ngành nông lâm ngư nghiệp qua 10 năm đã giảm xuống đáng kể từ năm 2010 với 7853.55 nghìn người đã giảm 3638.55 nghìn người so với năm 2020 lực lượng lao động trong ngành nông nghiệp đã và đang trong quá trình chuyển dịch sang các ngành nghề thuộc công nghiệp và dịch vụ , với Lực lượng lao động trung bình cả nước năm 2020 là 54,84 triệu người, giảm so với năm trước 924 nghìn người Lực lượng lao động bao gồm 53,6 triệu người có việc làm và hơn 1,2 triệu người thất nghiệp.Lực lượng lao động của khu vực nông thôn chiếm 66,9%
Trang 7Biểu 2.3 : Năng suất lao động xã hội phân theo ngành kinh tế (*) chia theo Ngành và Năm
Đơn vị tính Triệu đồng/người
2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020
Nông
nghiệp, lâm
nghiệp và
thủy sản 16,60 22,21 25,40 26,21 28,47 30,79 33,12 35,80 39,85 44,74 52.2
Nguồn : tổng cục thống kê
Theo biểu 2.3 ta có thể thấy dõ tăng lên về năng suât lao động xã hội của ngành nông nghiệp , lâm nghiệ và thủy sản năm 2010 là 16,60 đến năm 2020 là 52.2 tăng 35.6 triệu đồng/người
Điều đó chứng minh cho ta thấy lao động trong ngành nông nghiệp đã tăng cả về chất và lượng , do đã áp dụng tiến bộ khoa học vào trong sản xuất từ đó nâng cao năng suât lao động góp phần tác động vào sự dịch chuyển cơ cấu của lao động nông nghiệp
Biểu 2.4 tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo phân theo ngành kinh tế (*) chia theo Ngành kinh tế và Năm
Đơn vị tính
%
2015 2016 2017 2018 2019 2020
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy
Trang 8Nguồn : Tổng cục thống kê
Biểu 2.4 thấy được năm 2020 tỷ lện lao động đã qua đào tạo hoạt động trong ngành nông lâm thủy sản đã tăng vượt bặc so với các năm 2015 đến năm 2019 Năm 2020 đã tăng 0.32 % so phới năm 2015 và 0.62% so với năm 2019 từ đó có thể thấy chất lượng lao động trong ngành nông nghiệp đang ngày càng được cải thiện và nâng cao
2.3 Công nghiệp hóa nền nông nghiệp :
Mức độ cơ giới hóa trong nông nghiệp ngày càng cao ở các khâu trước và sau thu hoạch
Cụ thể, tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất cây nông nghiệp đạt 94%; khâu gieo, trồng đạt 42%; khâu chăm sóc đạt 77%; khâu thu hoạch lúa đạt 65% Nhờ đó, đã giúp nâng cao năng suất và giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp, tạo tiền đề quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, ứng dụng công nghệ cao
Bên cạnh đó, hệ thống trang bị động lực, số lượng, chủng loại máy, thiết bị nông nghiệp tăng nhanh, nhiều loại máy, thiết bị được áp dụng trong sản xuất nông nghiệp So với năm 2011, năm 2019 có số lượng máy kéo cả nước tăng khoảng 48%, máy gặt đập liên hợp tăng 79%, máy sấy nông sản tăng 29% Đối với công nghiệp chế tạo máy, thiết bị nông nghiệp, đến nay, ngành cơ khí trong nước đã sản xuất được động cơ, máy kéo công suất đến 30 mã lực (HP), chiếm trên 30% thị phần trong nước; máy liên hợp gặt lúa chiếm 15% Trang bị động lực bình quân trong sản xuất nông nghiệp cả nước đạt khoảng 2,4 HP/ha canh tác Ngành cơ khí trong nước cũng phát triển nhanh với trên 7.800 doanh nghiệp cơ khí (trong có 95 doanh nghiệp có quy mô vốn lớn, trên 500 tỷ đồng) và gần
100 cơ sở chế tạo máy, thiết bị nông nghiệp Tại các địa phương, các loại máy móc phục
vụ sản xuất (máy cày, bừa, gặt, tuốt lúa…) được nông dân đầu tư mua sắm ngày càng nhiều, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong sản xuất nông nghiệp.triển Nông thôn cho biết, mức độ cơ giới hóa trong nông nghiệp ngày càng cao ở các khâu trước và sau thu
Trang 9hoạch Cụ thể, tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất cây nông nghiệp đạt 94%; khâu gieo, trồng đạt 42%; khâu chăm sóc đạt 77%; khâu thu hoạch lúa đạt 65% Nhờ đó, đã giúp nâng cao năng suất và giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp, tạo tiền đề quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, ứng dụng công nghệ cao
Bên cạnh đó, hệ thống trang bị động lực, số lượng, chủng loại máy, thiết bị nông nghiệp tăng nhanh, nhiều loại máy, thiết bị được áp dụng trong sản xuất nông nghiệp So với năm 2011, năm 2019 có số lượng máy kéo cả nước tăng khoảng 48%, máy gặt đập liên hợp tăng 79%, máy sấy nông sản tăng 29% Đối với công nghiệp chế tạo máy, thiết bị nông nghiệp, đến nay, ngành cơ khí trong nước đã sản xuất được động cơ, máy kéo công suất đến 30 mã lực (HP), chiếm trên 30% thị phần trong nước; máy liên hợp gặt lúa chiếm 15% Trang bị động lực bình quân trong sản xuất nông nghiệp cả nước đạt khoảng 2,4 HP/ha canh tác Ngành cơ khí trong nước cũng phát triển nhanh với trên 7.800 doanh nghiệp cơ khí (trong có 95 doanh nghiệp có quy mô vốn lớn, trên 500 tỷ đồng) và gần
100 cơ sở chế tạo máy, thiết bị nông nghiệp Tại các địa phương, các loại máy móc phục
vụ sản xuất (máy cày, bừa, gặt, tuốt lúa…) được nông dân đầu tư mua sắm ngày càng nhiều, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong sản xuất nông nghiệp
Trang 10CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẠT MỤC TIÊU GIẢM LAO ĐỘNG NỘNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2021-2030
3.1 Một số vấn đề của chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ ở Việt Nam
Một là, chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ còn chậm Trong 10 năm (2010-2020), lao động nông nghiệp mới chuyển dịch được 16.4 % ra khỏi ngành, bình quân mỗi năm giảm 1,64%; lao động công nghiệp tăng 9,8%, bình quân 0,98%/năm; lao động dịch vụ tăng 6,6 %, bình quân 0,66%/năm Kết quả trên thấp hơn so với giai đoạn 2000 - 2010, bình quân mỗi năm lao động nông nghiệp giảm 1,56%, lao động công nghiệp, dịch vụ tăng 0,79% và 0,87% Theo tiêu chí nước công nghiệp theo hướng hiện đại của Việt Nam, đến năm 2030 tỷ lệ lao động nông nghiệp trên tổng lao động xã hội của nước ta chỉ còn từ 20% trở xuống Song với quá trình chuyển dịch như hiện nay thì mục tiêu trên khó đạt được
Hai là, trình độ chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ lao động nói chung, lao động trong nông thôn, nông nghiệp nói riêng còn thấp
Đến năm 2020, cả nước chỉ có 21,4% lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, thấp hơn nhiều so với một số nước trong khu vực: Singapore 61,5%, Malaysia 62%, Philippines 67%(5) Mặt khác, một bộ phậm lao động đã qua đào tạo vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường cả về trình độ chuyên môn và kỹ năng mềm (kỹ năng làm việc nhóm, tư duy phản biện, sáng tạo, trình độ ngoại ngữ ); cơ cấu nguồn nhân lực còn bất hợp lý, “thừa thầy, thiếu thợ”
Ở khu vực nông thôn, trong tổng số 31,62 triệu người trong độ tuổi có khả năng lao động năm 2020, có tới 27,29 triệu người (chiếm 86,3%) chưa qua đào tạo hoặc đào tạo ngắn hạn không được cấp chứng chỉ; chỉ có 4,33 triệu người được đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ, trong đó, sơ cấp nghề chiếm 15,9%, tương đương với 0,69 triệu người Riêng ngành nông nghiệp, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo rất thấp, tăng
từ 2,4% năm 2010 tăng lên 4,2% năm 2017 Như vậy, đến năm 2020 vẫn còn 95,8% lao động ngành nông nghiệp, tương ứng 38,61 triệu người không có trình độ chuyên môn kỹ