Đề tài Những sai phạm trong dạy toán ở tiểu học ( Lời cảm ơn Đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục là một nội dung chuyên nghiên cứu về các hình thức, phương pháp dạy học Có thể nói đây là một lĩnh vực[.]
Trang 1Lời cảm ơn
Đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục là một nội dung chuyên nghiên cứu vềcác hình thức, phương pháp dạy học Có thể nói đây là một lĩnh vực nghiên cứuphức tạp và có tính khoa học cao
Chính vì thế, đề tài :“Hệ thống những sai phạm trong dạy toán ở tiểu học” làmột đề tài chỉ riêng một mình thì tôi không thể hoàn thành được mà cần có sựdạy bảo của quý thầy cô giáo trường Đại học Quy Nhơn và sự giúp đỡ của cácanh chị em đồng nghiệp Đặc biệt là giáo viên hướng dẫn Lê Văn Đức, người đãcung cấp những kiến thức vô cùng quý báu đối với tôi trong suốt thời gian nghiêncứu đề tài
Tôi xin cảm ơn giáo viên hướng dẫn, quý thầy cô giáo trường đại học QuyNhơn, và các anh chị em đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi để tôiđược hoàn thành đề tài Tuy vậy với kiến thức hạn chế, kinh nghiệm chưa caonên không thể tránh khỏi những sai sót trong quá trình thực hiện Rất mong được
sự góp ý của cô giáo hướng dẫn và các bạn đồng nghiệp
Krông Năng, ngày 29/07/2010
Người trình bày
Phan Thị Kiều
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
1) Lý do chọn đề tài:
Nói đến Toán học là nói đến một môn học quan trọng trong chương trình giáodục tiểu học Là môn học cung cấp và rèn luyện cho học sinh những kiến thức cơbản nhất về tính toán đo lường Đây có thể coi là một môn học quan trọng bậcnhất trong các môn ở tiểu học, là công cụ để học tập các môn học khác và cũng làđiểm tựa về lĩnh vực tính toán, đo lường trong cuộc sống hằng ngày của conngười
Môn toán ở tiểu học có nhiệm vụ cung cấp những kiến thức cơ bản ban đầu
về số học, các số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một
số yếu tố hình học và thống kê đơn giản Hình thành các kỹ năng thực hành tính,
đo lường, giải các bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống Gópphần bước đầu phát triển năng lực tư duy năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng(nói và viết), cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trongcuộc sống Kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp phần hìnhthành bước đầu phương pháp dạy học và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủđộng, linh hoạt, sáng tạo
Qua bao nhiêu thời gian nghiên cứu của ngành giáo dục, để học sinh tiếp cậnvới cuộc sống hiện đại ngày nay và biết tính toán một cách chuẩn mực thì đổimới phương pháp dạy học, thay sách giáo khoa của môn Toán là một chiến lượcquan trọng của nền giáo dục nước nhà với mục tiêu phát triển các kỹ năng tínhtoán, đo lường ở học sinh để học tập cũng như ứng dụng trong đời sống hằngngày của các em trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Từ đóù bồi dưỡngthêm cho học sinh tình yêu Toán học cho các em và hình thành thói quen rènluyện những kỹ năng, kiến thức cơ bản của môn toán, góp phần hình thành nhâncách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời đại công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước
Nội dung kiến thức của môn toán cũng rất phong phú và đa dạng, mỗi khốilớp đều có một nội dung kiến thức khác nhau tương ứng với khả năng tiếp thucủa học sinh Hiện nay có nhiều giải pháp đã và đang được nghiên cứu, áp dụng
để góp phần thực hiện mục tiêu trên Đổi mới phương pháp dạy học nhằm pháthuy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh cũng là một trong những giảipháp được nhiều người quan tâm nhằm đưa các hình thức dạy học mới vào nhàtrường Để tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, môn toán ở Tiểu học cần
có một phương pháp dạy học cụ thể phù hợp với từng loại toán
Trang 3Nhưng việc dạy toán cho học sinh tiểu học có kiến thức cơ bản và chuẩn xác
là một công việc không hề đơn giản Đòi hỏi người giáo viên phải có một quátrình nghiên cứu bài dạy kỹ lưỡng, chuẩn bị đầy đủ các phương pháp cũng nhưhình thức dạy học, đặc biệt là phải nghiên cứu kỹ từng đối tượng học sinh thì mớiđem đến hiệu quả cho tiết học Trong dạy học toán cho học sinh tiểu học, nếuchuẩn bị sơ sài hoặc nghiên cứu bài dạy chưa chu đáo thì việc dẫn đến sai phạmtrong dạy học toán là một yếu tố ắt sẽ xẩy ra
Trước ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề nêu thì dạy học toán ở tiểu học
có những sai phạm gì? Đó chính là nội dung của đề tài tôi đã chọn để nghiêncứu : “Hệ thống những sai phạm trong dạy học toán ở tiểu học”
2 Mục đích nghiên cứu:
Dựa trên những yêu cầu của nội dung, mục đích nghiên cứu đề tài là tìm hiểuthực trạng về những sai phạm mà người giáo viên thường mắc phải trong việcdạy học toán ở trường tiểu học Từ đó có căn cứ để đề xuất một số biện pháp cótính khả thi nhằm điều chỉnh những sai phạm đó để từng bước nâng cao chấtlượng dạy học toán ở tiểu học
3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
- Chương trình dạy học toán ở tiểu học và những sai phạm người giáo viênthường mắc phải trong dạy học toán ở tiểu học
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Mục tiêu, nhiệm vụ của môn toán tiểu học, hệ thống một số sai phạm trongquá trình giảng dạy
- Chương trình toán tiểu học, các tài liệu liên quan đến nội dung Dạy học toán
ở tiểu học
Trang 44) Phương pháp nghiên cứu :
3.1 Phương pháp khảo sát:
Tôi sử dụng phương pháp này nhằm tiến hành khảo sát và hệ thống các saiphạm của giáo viên trong dạy học toán ở tiểu học
3.2 Phương pháp phân tích:
Căn cứ vào số liệu đã được khảo sát và thống kê, kết hợp với luận chứng của
đề tài Tôi tiến hành phân tích các sai phạm đã được thống kê
3.3 Phương pháp tổng hợp :
Khi đã có những chứng cứ khảo sát từ sách giáo khoa và các tài liệu liênquan Tôi tiến hành tổng hợp và kết luận về nội dung nghiên cứu Nêu một số ýkiến nâng cao phương pháp dạy học toán trong trường tiểu học
Ngoài ra tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp khác phục vụ cho quátrình nghiên cứu
Trang 5B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN CHUNG VỀ MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC
1 Vai trò dạy học toán ở bậc tiểu học:
Dạy học giải toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng nhữngkiến thức về toán vào các tình huống thực tiễn đa dạng, phong phú, những vấn đềthường gặp trong đời sống
Nhờ giải toán, học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy,rèn luyện phương pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của người laođộng mới Vì giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác : Xác lập mốiquan hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho và cái cần tìm, trên cơ sở đó chọn đượcphép tính thích hợp và trả lời câu hỏi đúng bài toán
Dạy học giải toán giúp học sinh tự phát hiện, giải quyết vấn đề, tự nhận xét,
so sánh, phân tích, tổng hợp, rút ra quy tắc ở dạng khái quát nhất định
2) Mục tiêu của môn toán ở tiểu học:
Môn toán ở tiểu học có vai trò đặc biệt quan trọng trong chương trình giảngdạy ở tiểu học Đây là giai đoạn đầu tiên để hình thành các kiến thức, kỹ năngtính toán cho các em Do đó việc tổ chức dạy toán ở tiểu học không hề đơn giản
Mà cần phải có một sự nghiên cứu nghiêm túc và chuẩn bị một cách kỹ càng thìmới đạt được mục tiêu mà môn toán đưa ra Mục tiêu của môn toán ở tiểu họcnhằm giúp học sinh:
- Về kiến thức : Cung cấp những kiến thức cơ bản ban đầu về số học, các số
tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hìnhhọc và thống kê đơn giản
- Về kỹ năng : Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải các bàitoán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống Góp phần bước đầu phát triểnnăng lực tư duy năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết), cách pháthiện và giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống
- Về thái độ : Kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp phầnhình thành bước đầu phương pháp dạy học và làm việc có kế hoạch, khoa học,chủ động, linh hoạt, sáng tạo
3/ Những kiến thức toán học cơ bản ở tiểu học:
Trang 6- Biết thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trên các số tự nhiên Nắmđược các tính chất của các phép toán, biết tính nhẩm, tính nhanh, tính đúng.
- Tích luỹ được những hiểu biết cần thiết cho đời sống sinh hoạt và học tậpcủa học sinh Phục vụ cho việc học tập các mạch toán khác
3.2 Dạy học về phân số :
Khi dạy về phân số ở tiểu học cần cung cấp cho học sinh nắm được:
- Khái niệm về phân số, cách đọc, viết phân số
- Nắm được các tính chất cơ bản của phân số, phân số bằng nhau
- Biết đọc, viết hỗn số, chuyển đổi hỗn số sang phân số và ngược lại
- Biết thực hiện cộng, trừ, nhân, chia phân số Biết các tính chất của các phéptoán cộng và nhân phân số
3.3 Dạy học các số thập phân:
Khi dạy học các số thập phân, cần cung cấp cho học sinh :
- Nắm được khái niệm về số thập phân là một loại số mới với hình thức ghitiện loại của nó Biết đọc, viết số thập phân số sánh và xếp thứ tự các số thậpphân
- Biết nắm vững và thực hiện tương đối thành thạo các phép tính đối với sốthập phân và dùng chúng để biểu diễn các số đo đại lượng
3.4 Dạy học các yếu tố đại số:
Đây là một nội dung khá quan trọng trong môn toán ở tiểu học Nó có nhiệmvụ:
- Góp phần củng cố và làm phong phú thêm các tài liệu số học, nâng cáo mức
độ khái quát các kiến thức đã học, từng bước nâng cao trình độ tư duy trừutượng, năng lực khái quát hoá, gây hứng thú học tập cho học sinh
- Chuẩn bị cơ sở ban đầu cho việc dạy đại số ở các lớp cấp trên
- Nội dung các yếu tố đại số ở tiểu học gồm: Biểu thức số, biểu thức chứachữ, đẳng thức, giải phương trình dạng đơn giản Bất đẳng thức và bất phươngtrình đơn giản
3.5 Dạy các yếu tố hình học:
Dạy các yếu tố hình học ở tiểu học có nhiệm vụ :
- Có được các biểu tượng chính xác về các hình hình học, làm quen với một
số đại lượng hình học thông dụng
- Rèn luyện một số kỹ năng thực hành như nhận dạng hình, sử dụng công cụ
Trang 73.6 Dạy học đại lượng và đo đại lượng:
Dạy học đại lượng và đo đại lượng ở tiểu học là một vấn đề khó Tri thứckhoa học về đại lượng và đo đại lượng và tri thức môn học được trình bày ở tiểuhọc có một khoảng cách Vì vậy người giáo viên cần nắm vững tri thức khoa học,khai thác quan hệ giữa tri thức khoa học và tri thức môn học Nhờ vậy mới có thểhiểu đầy đủ tri thức môn học, có phương pháp dạy tốt, đạt hiệu quả cao trong dạyhọc đại lượng và đo đại lượng ở tiểu học
CHƯƠNG II: HỆ THỐNG NHỮNG SAI PHẠM TRONG DẠY TOÁN Ở TIỂU HỌC VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT
4 Hệ thống những sai phạm trong dạy học toán ở tiểu học:
4.1 Sai phạm trong sử dụng mô hình:
Mô hình là một trong những phương tiện dạy học mang lại hiệu quả nhấttrong dạy học toán ở tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 1 Khi hình thành số tựnhiên hoặc hình thành phép cộng, trừ số tự nhiên thì mô hình được xem là công
cụ hàng đầu cho việc hình thành kiến thức mới
Thế nhưng do nhiều lý do khác nhau mà giáo viên thường mắc phải những saiphạm trong quá trình sử dụng mô hình:
- Sử dụng mô hình không hợp lý khi hình thành kiến thức mới (nhầm lẫn giữa
mô hình với tranh, ảnh,…)
- Xem nhẹ việc sử dụng mô hình (một số giáo viên cho rằng với môn toán thìchỉ cần thực hiện các thao tác của giáo viên là học sinh hiểu bài, không cần chuẩn
bị mô hình)
- Lạm dụng mô hình gây phân tán sự chú ý của học sinh (một số giáo viênlàm mô hình quá màu mè, nổi bật, khi sử dụng chiếm nhiều thời gian, gây mất sựtập trung hình thành kiến thức của học sinh)
Ví dụ : khi dạy bài “Số 0” (sách Toán 1, trang 34) ở lớp 1 đây là bài mới hìnhthành kiến thức nhận dạng chữ số 0 đồng thời tìm hiểu giá trị của số 0 trong toánhọc Sách giáo khoa có minh hoạ bằng hai bình nước, một cái vợt và một số con
cá cảnh Nghĩa là khi dạy, nếu giáo viên không chú ý chắc chắn học sinh sẽ nhầmlẫn giữa nhận dạng chữ số “0” và giá trị của chữ số “0”
4.2 Sai phạm trong thực hành đo độ dài :
Đối với các lớp 2 trở lên, việc dạy thực hành đo độ dài thông thường được sửdụng bằng thước Nhưng trong dạy thực hành đo độ dài ở lớp 1 thì có thể sửdụng đo bằng gang tay, bước chân, sải tay,… Đây mới là yếu tố giáo viên thườngmắc phải những sai lầm đơn giản nhưng lại rất quan trọng
Chẳng hạn trong bài dạy “Thực hành đo độ dài” ở lớp 1 (trang 98, Sách Toán1) khi gọi một số học sinh thực hành đo chiều rộng cái bảng bằng gang tay, giáo
Trang 8viên thường tập trung vào số lượng gang tay các em đo được để kết luận nộidung Nhưng quên rằng nếu không giải thích rõ về các yếu tố liên quan đến cơthể con người (chiều cao, cấu tạo,…) thì khi ở nhà thực hành, học sinh sẽ thựchiện không chính xác, gây ra sự hoang mang về cách đo bằng tay, chân,…
4.3 Sai phạm trong dạy luyện tập, ôn tập, thực hành Toán:
Đối với các tiết luyện tập, thực hành hoặc ôn tập của môn toán Nội dung chủyếu là các bài tập luyện những kiến thức đã học trong thời gian trước Mục tiêucủa các dạng luyện tập này là củng cố những kiến thức đã học cho học sinh vàrèn luyện kỹ năng làm toán
Chính vì vậy khi dạy những dạng toán này giáo viên thường mắc phải saiphạm là yêu cầu học sinh phải làm hết tất các bài tập trong sách giáo khoa cũngnhư trong vở bài tập Chính vì vậy thường gây ra một số bức xúc, chán nản chohọc sinh, nhất là những học sinh khá và giỏi hoặc những học sinh trung bình làmquá tải cũng gây ra những bức xúc ảnh hưởng đến tâm sinh lý các em Bởi trongcác bài tập thường có một số dạng giống nhau về yêu cầu, chỉ khác số liệu Nêuhọc sinh đã hiểu bài mà cứ phải làm nhiều bài giống nhau thì chắc chắn sẽ chán
và gây ồn ào trong lớp học
Do vậy không nhất thiết phải yêu cầu tất cả HS làm hết các bài tập trongSGK, VBT Trong 40 phút của tiết học, nên tập trung giúp HS làm và chữa cácbài tập rèn luyện các kỹ năng cơ bản, quan trọng nhất, củng cố thật chu đáo cáckiến thức đã học, chỉ khi nào làm được như vậy mới yêu cầu HS (đặc biệt là HSkhá, giỏi) làm tiếp các bài tập còn lại, bài tập nào chưa giải quyết xong ở trên lớpthì giải quyết khi HS tự học
4.4 Sai phạm khi dạy phép nhân, phép chia:
- Về việc dạy giai đoạn chuẩn bị:
Trước khi học phép tính mới (phép nhân, phép chia) học sinh đều có giaiđoạn chuẩn bị Đây là cơ sở cho việc hình thành kiến thức mới, cầu nối giữa kiếnthức đã học và kiến thức sẽ học Vì vậy, khi dạy học các bài học trong giai đoạnnày, giáo viên thường không chuẩn bị tốt kiến thức cho học sinh để làm cơ sởvững chắc cho các em học những kiến thức mới tiếp theo Cụ thể là:
- Học sinh được học bài “Tổng của nhiều số” trước khi học bài “Phépnhân” ở đây học sinh được tính tổng các số hạng bằng nhau Giáo viên phải lưu
ý để nhận ra các tổng này đều có các số hạng bằng nhau để giúp học sinh học bàiphép nhân, tính kết quả của các phép nhân trong các bảng nhân (nhất là các bảngnhân đầu tiên)
- Học sinh được học bài “Phép nhân” và các bài về Bảng nhân trước khi họcbài “Phép chia” và các bài về Bảng chia Giáo viên lưu ý học sinh phải thuộc
Trang 9bảng nhân để làm cơ sở học các bảng chia, vì các bảng chia đều được xây dựng
- Ở lớp 3 (học kỳ I): học sinh tiếp tục học các bảng nhân, bảng chia 6, 7, 8,
9 Lúc này các em đã có kinh nghiệm sử dụng đồ dùng học tập (các miếng bìavới số chấm tròn như nhau), đã quen và thành thạo với cách xây dựng phép nhân
từ những miếng bìa đó Hơn nữa, lên lớp 3 trình độ nhận thức của học sinh pháttriển hơn trước (khi học lớp 2) nên khi hướng dẫn học sinh lập các bảng nhânhoặc bảng chia, giáo viên vẫn yêu cầu học sinh sử dụng các đồ dùng học tậpnhưng ở một mức độ nhất định, phải tăng dần mức độ khái quát để kích thích trítưởng tượng, phát triển tư duy cho học sinh Chẳng hạn:
Giáo viên không cùng học sinh lập các phép tính như ở lớp 2 mà chỉ nêulệnh để học sinh thao tác trên tấm bìa với các chấm tròn để lập 3, 4 phép tínhtrong bảng, các phép tính còn lại học sinh phải tự lập dựa vào phép đếm thêmhoặc dựa vào các bảng nhân đã học
VD: Khi hướng dẫn học sinh tự lập Bảng nhân 6, giáo viên yêu cầu học sinh
sử dụng các tấm bìa, mỗi tấm bìa có 6 chấm tròn để lập các phép tính:
6 x 1 = 6
6 x 2 = 12
6 x 3 = 18Sau đó cho học sinh nhận xét để từ 6 x 2 = 12 suy ra được 6 x 3 = 18 Cụ thểlà: Với 3 tấm bìa
Học sinh nêu : “6 được lấy 3 lần, ta có 6 x 3”
Mặt khác cũng từ 3 tấm bìa này ta thấy 6 x 3 chính là 6 x 2 + 6
6 x 4 = 4 x 6 = 24
6 x 5 = 5 x 6 …
Trang 10Như vậy, giáo viên cần lưu ý sử dụng đồ dùng trực quan hợp lý, đúng mức
để không chỉ giúp học sinh nắm được kiến thức mà còn phát triển tư duy
- Về phương pháp nhân, chia ngoài bảng:
Phương pháp chủ yếu được sử dụng là làm mẫu trên các ví dụ cụ thể Từ đóphương pháp hướng dẫn học sinh cách đặt tính và tính Đối với những trườnghợp cần lưu ý như: phép chia có chữ số 0 ở thương, ước lượng thương chưa hết,nhớ khi nhân chưa đúng … giáo viên thường đưa ra các bài tập dưới dạng Test đểlưu ý học sinh cách làm đúng
4.5 Sai phạm trong dạy giải toán có lời văn:
Giải toán không phải chỉ dựa vào mẫu để giải mà đòi hỏi phải biết vận dụngcác kỹ năng linh hoạt, sáng tạo Đòi hỏi học sinh phải nắm được những khái niệm
cơ bản khi giải toán có lời văn
Nắm vững các bước giải toán có lời văn và biết vận dụng kết hợp mẫu, kháiniệm và tính sáng tạo
Từ những vấn đề trên, ta thấy hoạt động giải toán có lời văn là một hoạt độngphức tạp và khó khăn, không đơn giản
Chính vì thế khi tiến hành dạy dạng toán này giáo viên thường không chú ýđến việc thiết lập các bước giải cụ thể mà thường cho học sinh đọc đề bài hoặcquan sát tóm tắt rồi tìm ra cách giải, do đó học sinh chỉ biết cách giải trực tiếp bàitoán mà không vận dụng được ý đồ của bài toán khi tiếp tục chuyển sang giảidạng toán khác
Yêu cầu khi giải dạng toán có lời văn phải nghiên cứu kỹ đề bài (có 2 dạnggiải toán đơn và giải toán hợp) Có 2 kiểu bài bài toán cho sắn và bài toán chotóm tắt Để hướng dẫn học sinh vừa giải được bài toán, vừa vận dụng cách giải
để tiến hành sang các dạng toán khác thì giáo viên phải thiết lập các bước giảinhư sau :
* Nghiên cứu đề bài :
-Tìm hiểu bài :
+ Cho học sinh đọc đề bài toán nhiều lần
+ Xác định yêu cầu của đề bài toán (cái đã cho và cái cần tìm)
-Trình bày số liệu đã tìm được
Ví dụ :
+Bài toán cho biết gì ?
+Bài toán hỏi (yêu cầu tìm) gì ?
* Thiết lập các mối quan hệ của bài toán :
-Học sinh thảo luận, tóm tắt nội dung bài toán
-Định dạng phép tính và kết quả của phép tính
* Lập kế hoạch giải bài toán.
Trang 11Học sinh thảo luận tìm tòi lời giải cho bài toán.
* Tiến hành giải.
-Sau khi tiến hành thiết lập các mối quan hệ và tiến hành giải toán
-Có thể chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ thảo luận đặt lời giải và phép tính chobài toán có lời văn
-Đưa ra đáp số cho bài toán
* Kiểm tra kết quả của bài toán.
-Sau khi đưa ra kết quả, học sinh cần phải kiểm tra lại đề bài và kết quả theo
-Bước 2 : Lập kế hoạch giải
+Muốn biết hai buổi cửa hàng bán được bao nhiêu xe đạp ta làm gì ?
+Tìm lời giải (dựa vào câu hỏi của bài toán), đơn vị
-Bước 3 : Trình bày bài giải
Hai buổi cửa hàng bán được số xe đạp là :
12 +20 = 32 (xe đạp)
Đáp số : 32 xe đạp
-Bước 4 : Kiểm tra đánh giá cách giải
+Xem lại dự kiện và yêu cầu của bài toán
+ Lấy kết quả làm điều kiện để so sánh (32 lớn hơn các số đã cho là 12 và 20
có thể là hướng đúng, vì tất cả nghĩa là phải cộng lại …)
- Dạng đề dựa vào tóm tắt
Giải toán theo tóm tắt sau :
Gói kẹo chanh : 28 cái
Gói kẹo dừa : 26 cái
Cả hái gói : ? cái
(Sách giáo khoa Toán 2, trang 22)
-Bước 1 : Đọc tóm tắt, xác định cái đã cho, cái cần tìm
-Bước 2 : Lập kế hoạch giải (như ví dụ 1)
-Bước 3 : Tiến hành giải và kiểm tra
4.6 Sai phạm trong dạy giải toán chuyển động đều: