1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bai phan phoi Khuatvantoan qtmbk10.DOC

44 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Thị Trường Bán Lẻ Của Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Chuyên Đề
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 734,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 2 LỜI MỞ ĐẦU Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể, đời sống người dân được nâng cao Để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân, thì không chỉ cần một[.]

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể, đời sốngngười dân được nâng cao Để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân, thì không chỉcần một nền sản xuất tiên tiến, mà bên cạnh đó, hệ thống bán lẻ cũng đóng một vai trò hết sứcquan trọng Trong những năm gần đây, ngành bán lẻ của Việt Nam đã có những bước pháttriển vượt bậc Nếu như trong thời kỳ bao cấp chỉ có một vài cửa hàng mậu dịch của nhà nước

mở ra để phục vụ cho những nhu cầu tiêu dùng cơ bản của người dân, hàng hóa khan hiếmnên việc mua sắm gặp nhiều khó khăn, thì hiện nay, với việc số lượng doanh nghiệp bán lẻtăng lên nhanh chóng, hàng hóa đa dạng phong phú, việc mua sắm đã trở nên thuận tiện hơnrất nhiều Không chỉ vậy thị trường bán lẻ còn góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa, đónggóp đáng kể vào tăng doanh thu dịch vụ tiêu dùng, phát triển kinh tế đất nước

Thị trường bán lẻ Việt Nam, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO, được nhìn nhận là mộtthị trường đầy tiềm năng thu hút sự quan tâm đầu tư của cả các doanh nghiệp trong nước lẫncác nhà bán lẻ nước ngoài Theo đánh giá của các chuyên gia, trong tương lai thị trường này

sẽ còn phát triển nở rộ hơn nữa Tuy nhiên đi cùng với sự phát triển là sự cạnh tranh khốc liệtgiữa các doanh nghiệp bán lẻ trong nước và các tập đoàn phân phối hàng đầu thế giới đểgiành thị phần trên mảnh đất màu mỡ này Do đó, em đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên

cứu: “Phát triển thị trường bán lẻ của Việt Nam”, với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về cơ sở

lý luận của bán lẻ, thực trạng thị trường bán lẻ của Việt Nam, và đưa ra một số kiến nghị, giảipháp

Chuyên đề của em bao gồm 3 phần chính:

Chương 1 Cơ sở lý luận về thị trường bán lẻ

Chương 2 Thực trạng thị trường bán lẻ của Việt Nam

Chương 3 Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường bán lẻ của Việt Nam trong điều kiện mở cửa thị trường phân phối

Do chuyên đề được viết dưới góc nhìn của cá nhân nên không thể tránh khỏi nhữngthiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy, cô giáo và các bạn

MỤC LỤC

Diễn đàn doanh nghiệp - http://dddn.com.vn/ - 16/04/2009 - Thị trường bán lẻ Việt Nam: Thiếu mặt bằng kinh doanh - Tiến Dũng 44 Tạp chí điện tử Thương trường - http://thuongtruong.com.vn/ - 11/05/2009 - Dự báo thị trường bán lẻ 2009 và những giải pháp 44

Trang 2

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DỊCH VỤ BÁN LẺ HÀNG HÓA

I MỘT SỐ KHÁI NIỆM

Bán lẻ nói chung là hoạt động kinh doanh bằng cách mua với số lượng lớn từ nhà sảnxuất, hoặc nhà bán sỉ rồi chia nhỏ và bán lẻ cho người tiêu dùng nhằm phục vụ nhu cầu cánhân hay gia đình

Theo điều 3 Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007

“Bán lẻ là các hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ trực tiếp đến người sử dụng cuốicùng

Cơ sở bán lẻ là đơn vị thuộc sở hữu của doanh nghiệp để thực hiện việc bán lẻ.”

Nhà bán lẻ là người chuyên bán một số chủng loại sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định chongười tiêu dùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân

Trong chuỗi giá trị, nhà bán lẻ là mắt xích cuối cùng nối nhà sản xuất với người tiêudùng Vai trò của nhà bán lẻ là cực kỳ quan trọng bởi vì chính ngay tại điểm bán lẻ người tiêudùng có cơ hội chọn mua sản phẩm và thương hiệu mà mình ưa chuộng Người bán lẻ làngười am hiểu nhất nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời người bán lẻ cũng chính là ngườinắm bắt được sát thực nhất những thay đổi trong xu hướng tiêu dùng của khách hàng

Trang 3

Mặc dù hầu hết hoạt động bán lẻ diễn ra tại các cửa hàng bán lẻ song trong những nămgần đây hình thức bán lẻ không qua cửa hàng như bán hàng qua thư, catalogue, điện thoại,Internet, Tivi, máy bán hàng tự động ngày càng phát triển và trở nên phổ biến.

II ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA BÁN LẺ

Hệ thống kho tàng của doanh nghiệp bán lẻ cũng được thiết kế đặc biệt đảm bảo luôn

đủ hàng để cung cấp cho khách hàng, bảo đảm chất lượng hàng hoá Đội ngũ nhân viên bánhàng cũng đươc đào tạo rất chuyên nghiệp, có đầy đủ các kỹ năng bán hàng

2 Vai trò

Các doanh nghiệp bán lẻ góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành và cả nềnkinh tế, là mắt xích cuối cùng trong kênh phân phối, do vậy nó cũng đẩy nhanh tốc độ chuchuyển hàng hoá từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng

Những người bán lẻ tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên họ là người trực tiếp nắmđược những thông tin phản hồi từ khách hàng, nắm được những thông tin từ đối thủ cạnhtranh Do vậy nó là nguồn cung cấp thông tin đáng tin cậy cho các doanh nghiệp, từ đó đưa racác kế hoạch sản xuất nhằm thu được lợi ích cao nhất

Các doanh nghiệp bán lẻ cũng góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề xãhội như: tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, làm giảm các tệ nạn xã hội (dokhông có việc làm) đóng góp vào ngân sách Nhà nước và tham gia vào các hoạt đông văn hoá

xã hội

Các doanh nghiệp bán lẻ hoạt động và phát triển trong mối quan hệ chặt chẽ với cácdoanh nghiệp thương mại, các doanh nghiệp sản xuất, góp phần đẩy nhanh tốc độ tiêu thụhàng hoá dịch vụ trên thị trường

III.CHỨC NĂNG CỦA BÁN LẺ

Trang 4

1 Khai thác một số nhóm mặt hàng và dịch vụ thích hợp

Cửa hàng bán lẻ cần phải khai thác một số lượng lớn các sản phẩm được sản xuất bởinhiều công ty khác nhau Điều nầy là cần thiết vì nó mang lại cho khách hàng sự thoải máitrong việc lựa chọn sản phẩm, nhãn hiệu, mùi vị, màu sắc, quy cách bao bì đóng gói và cả cácmức giá khác nhau Chính vì vậy cho nên các cửa hàng bán lẻ phải rất thận trọng trong việcchọn lưa những nhóm hàng hóa và dịch vụ thích hợp nhất cho từng cửa hàng, phù hợp vớinhu cầu của người tiêu dùng ở khu vực mà cửa hàng tọa lạc

Nếu nhiệm vụ chính của các nhà sản xuất là sản xuất ra sản phẩm tốt thì cửa hàng bán

lẻ giúp tiếp thị những sản phẩm này đến người tiêu dùng Chẳng hạn như Vinamilk sản xuấtcác sản phẩm sữa, Daso sản xuất xà phòng, Mỹ Hảo sản xuất ra nước rửa chén, Nam Dươngsản xuất nước chấm và Bibica sản xuất bánh kẹo Cho dù các nhà sản xuất trên có tự đứng ra

tổ chức cửa hàng bán lẻ để phân phối sản phẩm của mình thì cũng khó lòng để người tiêudùng có thể chấp nhận bỏ thời gian đi đến hàng chục cửa hàng khác nhau để mua cho đủnhững thứ mà mình cần dùng trong ngày Đó là lý do vì sao cửa hàng bán lẻ là trở thành mộtđiểm mua sắm được người tiêu dùng trên thế giới ưa chuộng

Tuy tất cả các cửa hàng bán lẻ đều cung cấp rất nhiều mặt hàng và thương hiệu khácnhau, nhưng mỗi cửa hàng đều có một xu hướng thiên về một nhóm sản phẩm làm nòng cốt

2 Chia những lô hàng lớn thành những đơn vị nhỏ.

Từ retailler bắt nguồn từ tiếng Pháp mang nghĩa là cắt nhỏ, chia nhỏ Chúng ta đềubiết rằng bán sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng là điều không hề đơn giản đối với đa sốcác nhà sản xuất và các nhà bán sỉ Do vậy các nhà sản xuất và các nhà bán sỉ ưa thường thíchbán từng lô lớn cho những nhà bán lẻ chuyên nghiệp để họ chia nhỏ ra rồi bán lại cho ngườitiêu dùng theo qui cách phù hợp với thói quen mua sắm của người tiêu dùng tại địa phươngấy

Chẳng hạn như nhà sản xuất bia sẽ cung cấp cho nhà phân phối từng xe tải, nhà phânphối sau đó bán lại cho nhà bán lẻ mỗi lần có thể chỉ vài két, để nhà bán lẻ cuối cùng bán lạicho người tiêu dùng một vài chai

3 Lưu trữ sẵn hàng hóa

Một trong những chức năng chính của nhà bán lẻ là lưu trữ hàng hóa nhằm làm chohàng hóa lúc nào cũng có sẵn mỗi khi người tiêu dùng cần đến Người bán lẻ thông thườngkhông thích trữ chỉ một vài mặt hàng với khối lượng lớn, ngược lại họ thích trữ nhiều mặthàng với khối lượng càng nhỏ càng tốt Vì như thế khách hàng luôn luôn có nhiều sự chọn lựa

Trang 5

hơn Hưởng lợi từ chức năng này của người bán lẻ, khách hàng không phải mua trữ nhiều sảnphẩm trong nhà Họ chỉ mua đủ dùng vì sản phẩm lúc nào cũng có sẵn ở cửa hàng bán lẻ.

Không những thế, người bán lẻ còn dự đoán nhu cầu của khách hàng khi lên kế hoạch

dự trữ hàng Đây là một lợi ích mà người bán lẻ tạo ra cho khách hàng, khi nhu cầu phát sinh,khách hàng luôn dễ dàng tìm thấy thứ mà mình cần

4 Trưng bày hàng hóa và cung cấp dịch vụ cộng thêm.

Bên cạnh những chức năng trên, nhà bán lẻ còn tạo ra mặt bằng trưng bày hàng hóarộng lớn có thể trưng bày hàng hóa một cách đa dạng và phong phú, giúp khách hàng thoảimái xem, thử, chọn lựa trước khi quyết định mua

Không chỉ chấp nhận thanh toán bằng những loại thẻ tín dụng phổ biến, nhiều nhà bán

lẻ còn phát hành thẻ tín dụng riêng của họ nhằm giúp cho khách hàng có được một hạn mứctín dụng để mua hàng trước và trả tiền sau

IV PHÂN LOẠI

Thể loại bán lẻ của một cửa hàng chính là sự tập hợp những chủng loại hàng hóa vàdịch vụ mà cửa hàng ấy chọn vào danh mục phục vụ, và bao gồm những yếu tố dưới đây:

- Đặc tính của chủng loại hàng hóa và dịch vụ mà cửa hàng ấy phục vụ

- Chính sách giá mà cửa hàng ấy theo đuổi

- Chính sách của cửa hàng đối với hoạt động quảng cáo và khuyến mãi

- Chính sách của cửa hàng về mặt thiết kế, trưng bày

- Vị trí ưa chuộng

- Qui mô của cửa hàng

Tùy theo từng yếu tố mà có những cách phân loại khác nhau Trên thế giới thể lọai bán

lẻ là vô cùng đa dạng, nhưng chung quy lại, dưới đây là những thể loại phổ biến nhất

1 Cửa hàng bán lẻ chuyên dùng

Chỉ bán một số ít sản phẩm và người tiêu dùng có ít sự lựa chọn trong số những sảnphẩm này, hoặc chuyên bán các sản phẩm của một thương hiệu, hoặc chỉ bán một loại sảnphẩm nhưng có nhiều nhãn hiệu cho khách hàng lựa chọn Ví dụ các cửa hàng chỉ bán đồ mỹphẩm nhưng của rất nhiều hãng khác nhau, từ trong và ngoài nước, Levi’s chỉ bán đồ thờitrang của Levi’s, Biti’s chỉ bán giầy dép mang thương hiệu này

2 Cửa hàng bách hóa

Trang 6

Bán nhiều loại sản phẩm khác nhau, chủ yếu là quần áo, đồ trang trí, trang sức, đồ dùngtrong gia đình Mỗi loại sản phẩm được bán tại một khoang trong cửa hàng và được điều hànhbởi những nhân viên am hiểu về loại hàng hóa đó Ví dụ, cửa hàng bán lẻ Diamond Plaza,Parkson, Loại hình cửa hàng này thường bán các loại sản phẩm với chất lượng tốt, của cácthương hiệu nổi tiếng, do đó giá thành cũng khá cao, phục vụ chủ yếu cho những người có thunhập khá trở lên Do đó không phổ biến và được ưa chuộng bằng loại hình cửa hàng bán lẻchuyên dụng hay các cửa hàng tạp hóa, siêu thị, với giá cả phải chăng, đáp ứng được yêu cầucủa đại bộ phận người dân, và có cung cách phục vụ nhanh chóng, tiện lợi.

3 Siêu thị

Siêu thị là một cửa hàng tự phục vụ, tương đối lớn, chi phí thấp, mức lợi thấp, khốilượng lớn, được thiết kế để phục vụ tất cả những nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm,hàng tiêu dùng và các sản phẩm trang trí nội thất, ví dụ: Metro, Big C, Intimex,… Xã hộicàng phát triển, loại hình phân phối càng đa dạng, và siêu thị cũng vì thể mà càng mở rộngquy mô cũng như diện tích Ngày nay với xu thế cạnh tranh ngày càng mạnh giữa các siêu thịhay với các cửa hàng chuyên doanh, nhiều doanh nghiệp đã mở các siêu thị chuyên doanhnhư: siêu thị điện tử điện lạnh, siêu thị quần áo hoặc chia diện tích siêu thị thành các toa khácnhau để hấp dẫn khách hàng, lôi kéo khách hàng về với mình

4 Siêu thị bách hoá, siêu thị tổng hợp, và tổ hợp thương mại.

Siêu thị bách hoá là có mặt bằng khoảng 35.000 foot vuông và nhằm mục đích thoảmãn đầy đủ các nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm mua hàng ngày và những mặthàng không phải thực phẩm, có thể nó cũng đảm bảo cả dịch vụ như giặt là, sửa chữa giàydép, đổi séc ra tiền mặt và thanh toán hoá đơn, các quầy điểm tâm rẻ tiền

Siêu thị tổng hợp là một dạng siêu thị đa dạng hoá các mặt hàng, có bán cả thực phẩm

và dược phẩm, có mặt bằng trung bình khoảng 55.000 foot vuông

Tổ hợp thương mại có diện tích lớn hơn nữa có diện tích khoảng 80.000 đến 220.000foot vuông Tổ hợp thương mại kết hợp siêu thị và các nguyên tắc bán lẻ có chiết khấu và bán

lẻ tại kho Danh mục sản phẩm của nó vượt ra ngoài phạm vi những hàng hoá thông thườngbao gồm cả đồ gỗ, các thiết bị lớn và nhỏ, quần áo, và rất nhiều những mặt hàng khác.Nguyên tắc cơ bản là xếp hàng thành đống và giảm đến mức tối thiểu công việc bốc xếp chonhân viên bán hàng, có đảm bảo chiết giá cho những khách hàng sẵn sàng chuyên chở lấynhững thiết bị và đồ gỗ nặng từ cửa hàng về nhà

Trang 7

5 Cửa hàng hạ giá

Cửa hàng hạ giá bán những hàng hoá tiêu chuẩn với giá thấp do chấp nhận mức giáthấp và bán với khối lượng lớn hơn Việc sử dụng biện pháp giảm giá từng đợt hay vào nhữngdịp đặc biệt không làm cho cửa hàng trở thàng cửa hàng hạ giá Cửa hàng hạ giá đích thựcthường xuyên bán hàng với giá thấp hơn, bán phần lớn là những nhãn hiệu toàn quốc chứkhông phải kém phẩm chất Những cửa hàng hạ giá đầu tiên cắt giảm chi phí bằng cách sửdụng những cơ sở giống như nhà kho ở những khu vực tiền thuê nhà rẻ, nhưng đông ngườiqua lại Họ cắt giảm mạnh giá cả, quảng cáo rộng rãi và bán các chủng loại sản phẩm với bềrộng và bề sâu vừa phải Những năm gần đây nhiều người bán lẻ hạ giá đã ăn nên làm ra Họ

đã cải thiện trang trí nội thất, bổ sung thêm các loại hàng hoá và dịch vụ mới, mở những chinhánh ở vùng ven đô Tất cả những điều đó đã dẫn đến chi phí và giá cả cao hơn, và khi cáccửa hàng bách hoá tổng hợp cắt giảm giá của mình để cạnh tranh với những người bán hạ giá,thì sự khác biệt giữa những cửa hàng hạ giá và các cửa hàng bách hoá tổng hợp đã bị xoánhoà đi

Khu vực bán lẻ cũng phát triển ra ngoài phạm vi cửa hàng bán nhiều chủng loại hỗnhợp thành những cửa hàng chuyên doanh như: cửa hàng đồ dùng thể thao hạ giá, cửa hàngquần áo hạ giá, cửa hàng sách hạ giá, cửa hàng điện tử hạ giá

6 Những người bán lẻ lộng giá

Khi những cửa hàng hạ giá chủ yếu đã tăng giá, đã xuất hiện một làn sóng mới củanhững người bán lẻ lộng giá để lấp đầy chỗ trống giá thấp Những người bán hạ giá thôngthường mua hàng với giá bán sỉ thường xuyên và chấp nhận mức lợi nhuận thấp để bán vớimức giá bán thấp Còn những người bán lẻ lộng giá thường mua hàng với mức giá bán thấphơn giá bán sỉ và bán cho ngươi tiêu dùng với giá thấp hơn giá bán lẻ Họ có xu hướng bánmột số hàng hoá có chất lượng tương đối cao, luôn thay đổi và không ổn định Thường lànhững hàng hoá còn dư, những lượng hàng sản xuất vượt quá đơn đặt hàng và hàng sai quycách, được người sản xuất hay người bán lẻ khác giảm giá Người bán lẻ lộng giá đã xâmnhập mạnh nhất vào lĩnh vực quần áo, phụ tùng và giầy dép

Có ba kiểu bán lẻ lộng giá chính là: các cửa hàng của nhà máy, người bán lẻ độc lập

và hội kho Cửa hàng của nhà máy thuộc quyền sở hữu của nhà sản xuất và do người sản xuấtđiều hành, thường bán những hàng hoá dư thừa, chấm dứt sản xuất hay sai quy cách Hội khobán hàng chỉ bán một số hạn chế những mặt hàng tạp phẩm, thiết bị có tên nhãn và nhiều hànghoá khác với mức chiết khấu cao cho những hội viên đóng phí tham gia hội

Trang 8

7 Phòng trưng bày catalog

Phòng trưng bày catalog bán với giá hạ rất nhiều các chủng loại hàng hóa có tên nhãn,lưu thông nhanh, giá cao Trong số đó có đồ kim hoàn, dung cụ điện, máy ảnh, túi sách, đồchơi và đồ thể thao Phòng trưng bày catalog kiếm tiền bằng cách cắt giảm chi phí và mức lời

để đảm bảo giá thấp nhằm tăng khối lượng bán ra Các phòng trưng bày catalog trong nhữngnăm gần đây, đã phải đấu tranh để giử vững thị phần của mình trên thị trường bán lẻ

8 Chợ phiên

Chợ phiên nói chính xác là chợ họp theo phiên Chợ phiên đã hình thành rất sớm ởChâu Âu, gắn liền với các lễ hội tôn giáo thời xưa Những phiên chợ này có thời kì họp kháđều đặn, nhưng dần dần chợ chỉ họp vào những ngày nhất định Hàng hoá bán ở chợ phiênthường là những hàng hoá chất lượng thấp, hàng không có nhãn mác và hàng đã qua sửdụng Ngoài ra những thương nhân bán ở chợ phiên thường được coi là những kẻ lừa gạt, chợphiên còn gắn với những tật xấu như nạn ăn cắp vặt, móc túi vì vậy chợ phiên còn đươc coi là

“chợ trời” Ngày nay những chợ phiên vẫn còn tồn tại và hoạt động ở khắp nơi trên thế giới.Chợ phiên gồm tập hơp cá nhà bán lẻ độc lập, bán nhiều hàng hoá khác nhau, cả cũ và mới vàcũng có thể mặc cả được Số lượng chủng loại hàng hoá bán ở chợ phiên là không giới hạn vàngười mua có thể thấy bất kì hàng hoá gì ở đây Chợ phiên có thể họp thường xuyên hay chỉhọp vào những ngày cuối tuần, có thể có những quầy hàng bán trong nhà hoặc bày bán ngoàitrời, những nhà bán lẻ thuê không gian bán hàng và tự lo những gì cần thiết cho việc bày bánhàng

Chương 2

Trang 9

THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ CỦA VIỆT NAM

I KHÁI QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH BÁN LẺ Ở VIỆT NAM

Ngành bán lẻ Việt Nam đã có những bước tiến dài sau hơn 20 năm đổi mới, cả về chấtlượng lẫn số lượng Cơ cấu ngành bán lẻ đã có những biến đổi sâu sắc, từ chỗ chủ yếu do Nhànước, hợp tác xác chiếm độc quyền và đơn loại hình (cửa hàng bách hóa và cửa hàng hợp tác

xã bán hàng theo phương thức xếp hàng, tem phiếu) đã chuyển sang ngành bán lẻ đa loại hìnhvới nhiều thành phần kinh tế tham gia

Biểu đồ 1: Tỷ trọng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 1998

(Nguồn: Số liệu của tổng cục thống kê Việt Nam)

Biểu đồ 2: Tỷ trọng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2008

(Nguồn: Số liệu của tổng cục thống kê Việt Nam)

Các loại hình bán lẻ ngày càng phát triển đa dạng, xuất hiện nhiều phương thức kinhdoanh tiên tiến hiện đại Nếu như trước đây 100% hàng hóa bán lẻ thông qua các cơ sở bán lẻtruyền thống, thì hiện nay, theo thống kê của Bộ Thương mại, khoảng 40% hàng hóa đến tay

Trang 10

người tiêu dùng qua hệ thống chợ, 44% qua cửa hàng bán lẻ truyền thống, 10% qua hệ thốngphân phối hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại, và 6% là do nhà sản xuất bán trực tiếpcho người tiêu dùng.

Các loại hình bán lẻ truyền thống như chợ đã được nhà nước quan tâm nâng cấp và xâymới, đảm bảo mỹ quan, văn minh và thói quen mua sắm hiện đại của người tiêu dùng Ngoài

ra, cùng với sự ra đời của rất nhiều siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, đại lý,…không chỉ ở các thành phố mà còn ở cả các thị trấn, các tỉnh lẻ, ngay cả ở trong làng, xã cũngxuất hiện nhiều cửa hàng bán lẻ, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua sắm của người dânnói riêng và góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa, tăng doanh thu dịch vụ tiêu dùng nóichung

Bên cạnh đó, nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống phân phối đối với sự thànhcông của doanh nghiệp, nhiều nhà sản xuất cũng đã tự thiết lập hệ thống cửa hàng, đại lýchuyên bán các hàng hóa mang thương hiệu của mình, như Vinamilk, Honda, Ninomaxx,…Ngoài ra, cùng với sự bùng nổ công nghệ thông tin, những loại hình bán hàng trực tuyến, quacác kênh mua sắm trên truyền hình hoặc các trang bán hàng trực tuyến trên internet cũng dầnđược áp dụng rộng rãi, đặc biệt là với các mặt hàng điện tử như máy tính, điện thoại di động,một số mặt hàng tiêu dùng như quần áo, sách báo

1 Sự phát triển của các loại hình bán lẻ ở Việt Nam

1.1 Hệ thống chợ truyền thống

Nói đến thị trường bán lẻ nông thôn là nói đến chợ, chợ quê đối với người dân nôngthôn đã gắn bó từ bao đời đến nay Không chỉ ở nông thôn, mà ngay ở các thành phố lớn thìchợ vẫn là mô hình bán lẻ phổ biến từ xưa đến nay Khảo sát của Vụ Chính sách thị trườngcòn cho thấy, hệ thống siêu thị hiện đại của nước ngoài vẫn không thể đè bẹp được cách buônbán truyền thống đang tồn tại ở Việt Nam Chỉ trong vòng 2 năm 2005-2006, cả nước đã có

203 chợ được xây dựng hoặc cải tạo Đến cuối năm 2008, trên địa bàn cả nước có 8.333 chợcác loại (không tính các chợ hình thành tự phát) Trong đó, chợ bán lẻ phục vụ dân sinh ở các

xã, phường, thị trấn, thị tứ chiếm tỷ trọng lớn, tới 91,5%, chợ tổng hợp bán buôn, bán lẻ hạng

I chiếm 2,92%, chợ biên giới, cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu chiếm 1,9%, nhiềunhất là ở vùng Đông Bắc Bộ

Trung bình, cứ một xã, phường, thị trấn có 0,71 chợ, trong đó khu vực phía Bắc vàvùng Tây Nguyên có mật độ chợ thấp hơn so với mức chung của cả nước và so với khu vựcphía Nam, và cứ 42,13 km2 có một chợ, hay bán kính phục vụ trung bình của một chợ là 3,66km

Trang 11

Cũng theo thống kê của Bộ Thương mại, hàng hóa đến tay người tiêu dùng chủ yếuqua hệ thống chợ (khoảng 40%), cửa hàng bán lẻ truyền thống (44%), hệ thống phân phốihiện đại chỉ mới chiếm khoảng 10%, 6% là do nhà sản xuất bán trực tiếp Khảo sát của NestléViệt Nam cũng cho thấy, 90% các bà nội trợ Việt Nam vẫn mua đồ ở các chợ truyền thống.

Trong Đề án phát triển thương mại đến 2010 và định hướng đến 2020 vừa được Thủtướng Chính phủ phê duyệt, các loại hình chợ như chợ ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùngbiên giới, hải đảo và chợ trung tâm, chợ chuyên doanh, chợ đầu mối ở các vùng sản xuất nôngsản tập trung, các thị trường tiêu thụ lớn cũng được đẩy mạnh phát triển

1.2 Hệ thống siêu thị và trung tâm thương mại

Song song với hệ thống chợ ngày càng phát triển thì loại hình bán lẻ hiện đại (siêu thị,trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi ) cũng được Nhà nước chủ trương mở rộng Đếncuối năm 2008, cả nước có 386 siêu thị, trung tâm thương mại Các siêu thị có quy mô lớnvẫn tập trung chủ yếu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (chiếm khoảng 43,26%), con sốnày ở Đà Nẵng là khoảng 5,18% Chỉ tính riêng ở Hà Nội, hiện nay đã có 9 trung tâm thươngmại vừa và lớn, 53 siêu thị và cửa hàng tự chọn, gần 30 cửa hàng bách hóa, khoảng 10.000cửa hàng bán lẻ

Các siêu thị, ngoài việc bán đa dạng các mặt hàng, có những đầu tư sâu cho các phânkhúc khác nhau Chẳng hạn, Metro nhắm vào kênh doanh nghiệp, khách sạn, nhà hàng, tiệm

cà phê… Vinatexmart chuyên doanh hàng may mặc của doanh nghiệp Việt Nam Medicarechuyên sản phẩm chăm sóc sức khoẻ Tuy nhiên, xét theo tính chất của hoạt đông kinh doanh,

có thể chia các siêu thị ở Việt Nam hiện nay làm hai loại chính:

- Siêu thị tổng hợp như Big C, Metro, Intimex, … với số lượng mặt hàng đa dạng về

cả chủng loại và nhãn hiệu

- Siêu thị chuyên doanh như siêu thị điện máy (Pico Plaza, An Dương home center),siêu thị đồ nội thất (Mê Linh Plaza), siêu thị điện thoại di động (thế giới di động, mobilemart),…

Tốc độ gia tăng trong đầu tư của các tập đoàn bán lẻ và kinh doanh siêu thị gần đây chothấy một tiềm năng rất lớn trong lĩnh vực này tại Việt Nam Theo Bộ Công Thương, thịtrường bán lẻ của Việt Nam được đánh giá mỗi năm đạt doanh thu hơn 20 tỷ USD, có tốc độtăng trưởng đến 30%/năm, với gần 85% người dân thành thị ở khu vực phía Nam thườngxuyên mua sắm tại các siêu thị, trung tâm thương mại

Theo kết quả khảo sát của Công ty Tư vấn bất động sản Quốc tế CBRE, hiện thành phố

Hồ Chí Minh có khoảng 90.000m2 diện tích trung tâm thương mại dành cho thuê, và 92%

Trang 12

diện tích đã được thuê Các trung tâm thương mại có lợi thế kinh doanh, giá cho thuê trungbình khoảng 140 USD/m2/tháng Đây là mức giá cao ngất ngưởng, ngang hàng vớiSingapore, Hong Kong hoặc Bangkok (Thái Lan)… nhưng hầu như lúc nào việc cho thuêtrung tâm thương mại cũng ở trong tình trạng sốt, thiếu mặt bằng Và vì vậy, nhiều nhà đầu tư

đã nhanh chóng nhảy vào lĩnh vực đầy hấp dẫn này

Các trung tâm thương mại không chỉ tăng nhanh tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội,

mà sẽ còn mở rộng ra các tỉnh, thành khác Nha Trang có dự án khu liên hợp Hòn Ngọc Việt(đảo Hòn Tre) do Công ty TNHH Hòn Tre đầu tư Ngoài các khu vui chơi giải trí, mua sắm…tại đây còn có hệ thống cáp treo vượt biển dài nhất thế giới với 3.310m (dài hơn nhiều lần sođường cáp treo của Singapore tới đảo Sentosa) Chỉ riêng kinh phí dự án này đã ngốn hết 105

tỷ đồng Tại Đà Nẵng, các khu thương mại cao cấp cũng được bao gồm trong dự án đa chứcnăng Indochina Riverside Towers với tổng vốn đầu tư 27 tỷ USD (100% vốn đầu tư nướcngoài của Công ty TNHH Indochina Tower), bao gồm 2 tòa tháp với các khu thương mại vănphòng và căn hộ cho thuê Tại Vũng Tàu có Đông Hải Building…

Mới đây, Saigon Co.op đã bắt tay với Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (SATRA),Tổng công ty thương mại Hà Nội (Hapro) và Công ty TNHH Phú Thái thành lập Công ty cổphần đầu tư và phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (VDA) Từ nay đến cuối năm 2008,VDA đầu tư 1.500 tỉ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng thương mại, hệ thống tổng Từ 2008-

2011 sẽ đầu tư tiếp 3.000-6.000 tỉ đồng xây dựng các đại siêu thị, trung tâm phân phối bánbuôn, mua bán để tạo thành tập đoàn phân phối số 1 Việt Nam và đầu tư ra nước ngoài.Ngoài ra, Satra đã cùng với Saigon Co.op liên kết để xây dựng các siêu thị với tổng vốn đầu

tư khoảng từ 45-55 tỷ đồng/dự án Trước mắt, Satra - Co.opMart sẽ triển khai xây dựng 2 siêuthị tại Đà Nẵng và Long Xuyên Bên cạnh đó, mỗi đơn vị cũng đang tiếp tục triển khai các dự

án liên kết với các tỉnh để nhanh chóng phủ kín siêu thị, trung tâm thương mại tại nhiều tỉnhthành khác như Quảng Ngãi, Bình Định, Tây Nguyên, Đồng Nai…

Tuy nhiên, hầu hết các siêu thị có quy mô lớn đều do các nhà doanh nghiệp bán lẻ quốc

tế đầu tư, như Metro, Big C…Hiện nay, tại thị trường Việt Nam, Metro Cash & Carry (Đức)

đã mở siêu thị thứ 9 ở Cần Thơ; Big C đã mở siêu thị thứ 8 tại Huế và đang xúc tiến xây dựngthêm 2 đại siêu thị tại Đồng Nai và An Giang trong năm 2009, Parkson (Malaysia) cũng đang

có 5 siêu thị hoạt động Các hệ thống siêu thị do các nhà đầu tư nước ngoài thiết lập đều rấtbài bản, văn minh và hoạt động hiệu quả

Trong khi đó, các siêu thị nội địa vẫn ở trong tình trạng diện tích nhỏ, trang thiết bị thô

sơ và sử dụng lao động phổ thông Từ đầu năm 2009 đến nay, Hapro khai trương 4 siêu thịđồng giá mang thương hiệu Daiso - do Nhật Bản nhượng quyền Tháng 6/2009, Hapro khai

Trang 13

trương 2 siêu thị Hapro Mart tại chợ Bưởi và khu chung cư Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội,nâng tổng số siêu thị, cửa hàng tiện ích của đơn vị lên 30 điểm kinh doanh tại Hà Nội và 4tỉnh phía Bắc Hệ thống siêu thị Saigon Corp từ đầu năm 2009 đến nay, đã mở 2 siêu thị tạiBình Phước và Vũng Tàu, nâng tổng số điểm bán lẻ lên 37 Tuy nhiên, quy mô siêu thị Hapro

và Saigon Corp vẫn ở dạng nhỏ, nguồn hàng không thật sự phong phú

là quy mô nhỏ, đầu tư không lớn, thường là các hộ gia đình tự lập ra những cửa hàng nhỏ ởngay trong nhà mình, thuận tiện cho việc phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân hơn là cácsiêu thị Từ gốc là các tiệm tạp hoá, nhiều người bán đã nâng cấp lên thành cửa hàng tự chọn,nhưng hình thức dịch vụ vẫn mang sự thân thiện, tính tiền thủ công như tiệm tạp hoá cũ, nênkhách thấy tiện hơn mà người bán cũng tiết kiệm được nhiều chi phí

Nhiều cửa hàng tạp hoá có diện tích rộng đã kết hợp với các nhà cung cấp thay đổi trìnhbày, trang bị máy trữ lạnh, tính tiền bằng máy… và hình thành các siêu thị mini Cửa hàngtrước đây khá xập xệ, người mua và người bán được ngăn cách nhau bằng cái tủ to, kháchmuốn mua gì phải hỏi người bán, và mất thời gian lục tìm mặt hàng cần mua Còn nay cửahàng được thiết kế lại theo dạng tự chọn nên lượng khách đến mua đông hơn, doanh số cũngtăng lên rất nhiều

1.4 Hệ thống bán lẻ do các nhà sản xuất tổ chức và điều phối

Hiện nay, rất nhiều công ty đã thiết lập hệ thống bán lẻ sản phẩm của riêng mình, ví dụcông ty Sony, Biti’s, Vinatex, Mobifone Hệ thống bán lẻ trực tiếp này ngoài chức năng bánhàng thường nhằm vào hai mục đích chính:

- Sử dụng điểm bán lẻ làm kênh truyền thông tương tác với người tiêu dùng Nhữngđiểm bán lẻ do nhà sản xuất trực tiếp tổ chức thường chọn ở những vị trí rất quan trọng vàđược đầu tư rất lớn về hệ thống nhận diện thương hiệu Cửa hàng được xem như là một điểmquảng cáo cố định, phần lớn diện tích mặt tiền được sử dụng với mục đích truyền thông xâydựng thương hiệu

Trang 14

- Làm kênh kiểm chứng giá và chất lượng sản phẩm kiêm dịch vụ khách hàng Giá bán

ở những cửa hàng do nhà sản xuất trực tiếp tổ chức là giá chuẩn cố định và thường cao hơngiá do các nhà bán lẻ khác Do vậy khách hàng đến mua sản phẩm từ những cửa hàng nàythường là những phân khúc khách hàng mua sự yên tâm, họ chấp nhận giá cao để được yêntâm là chất lượng sản phẩm và dịch vụ hậu mãi được bảo đảm Hoặc là những khách hàng ưachuộng công nghệ mới vì những sản phẩm mới thường được đưa ra giới thiệu ở những cửahàng này trước khi tung ra bán rộng rãi trên thị trường

Ở những điểm bán lẻ này, hầu hết mặt hàng đều là sản phẩm mang nhãn hiệu của công

ty Cửa hàng bán lẻ sẽ nhận được những ưu đãi, hỗ trợ nhất định từ phía công ty, như cung cấpnguồn hàng, bảng hiệu quảng cáo, giá cả ưu đãi, có chiết khấu và thưởng trên mỗi sản phẩmbán ra, và thưởng nếu đạt được mức doanh thu cao,…

Điển hình là công ty Sony Việt Nam với việc lựa chọn trên 100 nhà kinh doanh sảnphẩm điện tử khắp cả nước, thành lập Hội đại lý bán lẻ Sony Việt Nam Tiêu chuẩn để lựachọn nhà kinh doanh là trưng bày sản phẩm của công ty trong cửa hàng ít nhất là 50% trêntổng số sản phẩm, tuân thủ các chính sách của công ty về chỉ tiêu mua hàng, giữ giá thịtrường, tránh cạnh tranh không lành mạnh, thực hiện các chiến dịch bán hàng, quảng cáo,khuyến mãi,…Đây là những thành việc quan trọng trong hệ thống phân phối của Sony, vàngược lại, công ty cũng hỗ trợ những thành viên này một cách tích cực, như cung cấp bảnghiệu, sản phẩm trưng bày với giá ưu đãi đặc biệt, đáp ứng yêu cầu về đặt hàng, bồi thườngthiệt hại khi giảm giá, hỗ trợ về tài chính, dành riêng chiết khấu và thưởng cho các cửa hàng,

1.5 Hệ thống bán hàng trực tuyến

Trong thời đại mà công nghệ thông tin phát triển như vũ bão hiện nay, thì một hìnhthức bán hàng nữa đã ra đời và chứng minh được tính tiện lợi, hiệu quả của nó, đó là hìnhthức bán hàng trực tuyến, thông qua các website hoặc kênh mua sắm

Chính bởi tính hiệu quả, lợi nhuận khá cao lại ít tốn kém chi phí, nên ngày càng xuấthiện nhiều các website bán hàng trực tuyến Các website này thường là của các công ty mở ra,kết hợp với bán hàng thông qua các kênh bán lẻ khác, để tăng doanh thu, tăng tầm phủ sóngcủa kênh phân phối Với loại hình bán hàng trực tuyến này phải kể tới các doanh nghiệp báncác mặt hàng điện tử, điện máy, ví dụ các siêu thị điện máy, thế giới di động, mobile mart,…Công ty sách vinabook cũng có một website bán sách qua internet, hoạt động khá hiệu quả.Một số cửa hàng bán lẻ các mặt hàng thời trang cũng tự lập ra cá website để bán hàng quamạng cho những khách hàng ở xa, không tiện ghé qua cửa hàng, hoặc không có thời gian

Trang 15

Ngoài ra cũng có những website chuyên bán hàng trực tuyến, hoạt động giống nhưmột siêu thị, với nhiều chủng loại sản phẩm, mẫu mã, nhãn hiệu khác nhau cho khách hànglựa chọn, như muabanhangngay.com, denthan.com, sieuthinhanh.com,…

Không chỉ dừng lại ở bán hàng thông qua mạng internet, mà một hình thức truyềnthông khác cũng vào cuộc, đó là truyền hình, thông qua các kênh mua sắm Người xem truyềnhình đã không còn xa lạ với những chương trình giới thiệu sản phẩm và mua hàng trực tiếpBest Buy Hiện nay, đài truyền hình còn xây dựng một số kênh chuyên cung cấp thông tin vềcác sản phẩm có chất lượng tốt, phục vụ cho hoạt động mua sắm, bán lẻ các mặt hàng tiêudùng Ví dụ như kênh mua sắm của đài truyền hình Hà Nội 2, kênh Home Shopping trên hệthống truyền hình cáp Hà Nội, … Một đặc điểm của kênh mua sắm trực tiếp này, đó là các sảnphẩm được giới thiệu thường ít xuất hiện trên thị trường, mà được phân phối độc quyền bởimột công ty nào đó, thông qua kênh mua sắm, người tiêu dùng mới biết đến những tính năngnổi trội của sản phẩm và đặt mua Như vậy kênh mua sắm trực tiếp này là cầu nối trực tiếpgiữa người sản xuất và người tiêu dùng, kích thích nhu cầu của người tiêu dùng về sản phẩmđược giới thiệu

Thông qua các kênh bán hàng trực tuyến và trên truyền hình, người tiêu dùng có thểthấy được tính năng của sản phẩm, giá thành, mẫu mã, và có thể đặt mua hàng trực tiếp, đượcgiao hàng tận nhà, rất thuận tiện cho những người không có nhiều thời gian dành cho muasắm, hoặc những người muốn mua hàng nhưng lại ở xa

2 Các chủ thể tham gia bán lẻ

2.1 Các công ty phân phối trong nước

Bao gồm các doanh nghiệp nhà nước và ngoài nhà nước như: Saigon Co.op Mart,Intimex, Maximart, Nguyễn Kim, Phú Thái,…Đây là những nhà phân phối có trình độ kháchuyên nghiệp và mạng lưới hệ thống phân phối khá rộng rãi trên nhiều tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương trong cả nước Trong đó các doanh nghiệp nhà nước nhìn chung có tiềm lực

về tài chính và lợi thế về cơ sở sản xuất hơn nên đóng vai trò vừa là nhà phân phối, vừa là nhàsản xuất và thu mua hàng hóa để kinh doanh trong hệ thống phân phối của mình Trong khi

đó các doanh nghiệp ngoài nhà nước chủ yếu tập trung vào hoạt động phân phối để tạo nênnhững hệ thống chuyên doanh phân phối Hiện tại các doanh nghiệp bán lẻ trong nước đangkhông ngừng mở rộng quy mô và đã có mặt ở hầu khắp cả nước Tuy nhiên nếu xét về hệthống bán lẻ hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại, chuỗi cửa hàng tiện ích mà cácdoanh nghiệp này thiết lập thì mới chỉ bảo phủ được khoảng 30 trên 64 tỉnh, thành phố Trong

đó, gần 80% các siêu thị, trung tâm thương mại tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn như Hà

Trang 16

Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,…Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ phân phốitrong nước còn nhiều hạn chế về năng lực tài chính, công nghệ, kỹ năng tổ chức quản lý kinhdoanh,… so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong cùng lĩnh vựcnày.

2.2 Các tập đoàn phân phối nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

Trong những năm qua, các tập đoàn phân phối nước ngoài đã bắt đầu đổ bộ vào thịtrường Việt Nam và nhanh chóng trở thành một chủ thể quan trọng trong quá trình phân phốihàng hóa Rất nhiều các tập đoàn phân phối bán lẻ của nước ngoài đã có mặt tại Việt Nam vàhoạt động rất hiệu quả như Metro Cash & Carry, Big C, Parkson,… Các công ty phân phốicủa nước ngoài với nguồn vốn đầu tư lớn, công nghệ cao, kỹ năng quản lý chuyên nghiệp vàkinh nghiệm hoạt động lâu năm, đã xây dựng nên những hệ thống bán lẻ chuyên nghiệp, vănminh và hiện đại, nổi trội hơn hẳn so với các doanh nghiệp trong nước Các tập đoàn nàythường tập trung vào khâu phân phối dựa trên sự ký kết hợp đồng thu mua sản phẩm từ nhiềunguồn khác nhau mà không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm để phân phối như một số doanhnghiệp trong nước Sự có mặt của các tập đoàn bán lẻ này tại Việt Nam, một mặt tạo nên sựcạnh tranh gay gắt, làm đa dạng hóa hình thức bán lẻ, phong phú về chủng loại sản phẩm vớigiá cả cạnh tranh, tạo cơ hội tốt để hình thành một thị trường nội địa hoạt động lành mạnh,phát triển đa dạng và tiếp cận được với trình độ hiện đại của thế giới trong hoạt động bán lẻhàng hóa Mặt khác tạo nên sức ép lớp đòi hỏi các nhà bán lẻ trong nước phải không ngừngcải thiện hệ thống bán lẻ của mình để không bị các tập đoàn bán lẻ quốc tế bỏ xa và chiếmlĩnh thị trường trong nước

2.3 Các doanh nghiệp bán lẻ, các hộ kinh doanh

Đây là một trong những thành phần quan trọng tham gia vào thị trường bán lẻ của ViệtNam và tạo ra việc làm cho khoảng 5 triệu lao động trong cả nước Tuy nhiên, hoạt động kinhdoanh của nhóm này còn mang nặng tính tự phát, hầu hết đều là những lao động phổ thông,không được đào tạo về kỹ năng kinh doanh, do đó thiếu kiến thức và kỹ năng để chống đỡnhững rủi ro, biến động có thể xảy ra trên thị trường

3 Kết quả điều tra, khảo sát các doanh nghiệp bán lẻ của Việt Nam trên 4 thành phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng.

(Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thành phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng)

Trang 17

Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh là 4 thành phố lớn nhất của cảnước Như đã nói ở trên, các doanh nghiệp bán lẻ tập trung phần lớn ở 4 tỉnh, thành phố này,đặc biệt là các hệ thống bán lẻ hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại, chuỗi cửa hàngtiện ích.

Dưới đây là kết quả của cuộc điều tra khảo sát các doanh nghiệp bán lẻ của Việt Namtrên 4 thành phố lớn này

3.1 Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ của 4 địa bàn được khảo sát

Mặc dù là 4 thành phố lớn nhưng cơ cấu các doanh nghiệp bán lẻ cũng có sự khác nhau

rõ rệt Các doanh nghiệp bán lẻ vẫn tập trung nhiều nhất ở 2 thành phố chính là Hà Nội vàthành phố Hồ Chí Minh, chiếm tới 68,25% Thành phố Hồ Chí Minh với vai trò là trung tâmkinh tế của cả nước, đã có số doanh nghiệp bán lẻ chiếm tới 41,13%, gấp 1,5 lần số doanhnghiệp bán lẻ ở Hà Nội, và gấp khoảng 2,5 lần số doanh nghiệp ở Hải Phòng và Đà Nẵng

Biểu đồ 3: Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ của 4 thành phố: Hà Nội,

thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng

(Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thành phố

lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng)

Trang 18

3.2 Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo loại hình doanh nghiệp

Biểu đồ 4: Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo loại hình doanh nghiệp

(Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thành phố

lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng)

3.3 Nguồn cung cấp hàng chủ yếu cho doanh nghiệp bán lẻ

Biểu đồ 5: Cơ cấu về nguồn cung cấp hàng chủ yếu cho doanh nghiệp bán lẻ

(Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thành phố

lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng)

Đơn vị: %

Trang 19

3.4 Hình thức phục vụ bán hàng

Biểu đồ 6: Hình thức phục vụ bán hàng

(Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thành phố

lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng)

Đơn vị: %

4 Thị trường bán lẻ của Việt Nam sau khi gia nhập WTO

Từ tháng 1 năm 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thươngmại quốc tế WTO Điều này mở ra vô vàn cơ hội cũng như thách thức mà nền kinh tế nước taphải đối mặt, thị trường bán lẻ cũng không phải là ngoại lệ

Việc gia nhập WTO đã tạo một bước ngoặt lớn cho ngành bán lẻ của Việt Nam Theophân tích của giới kinh doanh và phân phối hàng tiêu dùng, với một thị trường khoảng 86triệu dân, tổng mức tiêu dùng những năm gần đây đã đạt mức từ 25-30 tỉ USD/năm, Việt Namđược đánh giá là thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới (theo báo cáo về chỉ số phát triển

Trang 20

mảng kinh doanh bán lẻ (GRDI) năm 2009 của hãng tư vấn Mỹ A.T Kearney) Do đó ViệtNam là điểm đến lý tưởng của các tập đoàn phân phối đa quốc gia Đây cũng là điều lý giải vìsao khi đàm phán để Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, các đối tác luôn đưa rayêu sách Việt Nam phải mở cửa lĩnh vực dịch vụ phân phối hàng hoá Và đúng như cam kết,ngay sau khi trở thành thành viên của WTO, Việt Nam đã tiến hành mở cửa thị trường bán lẻ,theo đó, các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư và hoạt động theo hình thức liên doanh, trong

đó nhà đầu tư nước ngoài chiếm không quá 49% vốn điều lệ doanh nghiệp Từ 1/1/2008,không hạn chế tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài (nhưng vẫn phải lập công ty dưới hìnhthức góp vốn liên doanh) Và mới đây, từ 1/1/2009, Việt Nam lại tiếp tục thực hiện bước nữacủa lộ trình đã cam kết, đó là các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư theo hình thức 100% vốnnước ngoài Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà bán lẻ nước ngoài đầu tư vào ViệtNam ngày càng nhiều như Metro Cash & Carry (Đức), Big C của Bourbon (Pháp), Parksonthuộc tập đoàn Lion (Malaysia), Zen Plaza (Nhật Bản), Diamond Plaza (Hàn Quốc).Các tậpđoàn này đã và đang triển khai chiến lược phát triển mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mạiđầy tham vọng của mình trên phạm vi toàn quốc

Công ty TNHH Metro Cash&Carry (Đức) với 6 siêu thị hoạt động tại thành phố HồChí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ với hình thức bán buôn và bán lẻ khoảng10.000-15.000 mặt hàng các loại Giá bán thấp hơn 10%-15% so với các siêu thị khác Đã cótrên 90.000 hội viên được cấp thẻ vào mua hàng tại Metro Mặc dù đầu tư vào Việt Nam với

mô hình bán buôn nhưng thật ra Metro lại kinh doanh cả theo dạng bán lẻ vì việc cấp thẻ hộiviên diễn ra khá đại trà, khách mua hàng không bị hạn chế về số lượng và đơn vị hàng hóachủ yếu là nhỏ lẻ, kiếm lời khoảng 500 triệu USD/năm và tăng trưởng hàng năm đạt 45%.Bênh cạnh đó, Parkson đã vạch một kế hoạch phát triển 10 trung tâm mua sắm trong vòng 5năm Tập đoàn Bourbon cũng đã mở 10 đại siêu thị tại Việt Nam… Đầu năm 2009, tập đoànLotte Mart (Hàn Quốc) chính thức tham gia vào thị trường bán lẻ của Việt Nam bằng việc liêndoanh với đối tác trong nước mở siêu thị Lotte Mart Nam Sài Gòn, có tổng vốn đầu tư 70triệu đô la Mỹ tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh Và sắp tới là những tập đoàn phân phốihàng đầu khu vực và thế giới khác nữa như Carefour (Pháp), Tesco (Anh) và các tập đoàn bán

lẻ hàng đầu châu Á như: Dairy Farm (Hồng Kông), South Asia Investment Pte (Singapore) chưa kể đến một tập đoàn phân phối hàng đầu thế giới mà từng bước chân của họ đi đến quốcgia nào thì được đánh giá là làm thay đổi nền kinh tế của quốc gia đó - đó là WalMart Người

ta cho rằng khi Walmart đặt địa điểm ở đâu, thì trong vòng bán kính 3km sẽ không còn mộtcửa hiệu bán lẻ nào tồn tại nổi

Trang 21

Các tập đoàn bán lẻ nước ngoài có lợi thế hơn hẳn do họ từng hoạt động trong lĩnhvực bán lẻ trước Việt Nam hàng chục năm Họ có quá trình tích lũy vốn, tích lũy kinh nghiệm,

có thế mạnh của hệ thống toàn cầu với nhiều phương thức, loại hình kinh doanh và có thươnghiệu mạnh, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến theo hệ thống thông suốt

từ trung tâm đến cơ sở, khả năng nghiên cứu và nắm bắt thị trường nhanh nhạy, chính xác,trình độ khoa học công nghệ tiên tiến Chính sự có mặt của các tập đoàn này đã đẩy hoạt độngkinh doanh bán lẻ trên địa bàn cả nước đi vào bước ngoặt mới của cuộc cạnh tranh

Trong khi các tập đoàn bán lẻ nước ngoài được biết đến với hình ảnh những đại siêu thịthì hầu hết cửa hàng truyền thống của Việt Nam đều ở trong tình trạng chung là có diện tíchnhỏ, trang thiết bị thô sơ và chủ yếu sử dụng lao động phổ thông Các doanh nghiệp thươngmại trong nước phần lớn cũng là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa Sự chênh lệch khá lớn

về trình độ cũng như tài chính này đã đẩy các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam vào tình thế cạnhtranh khốc liệt, có nguy cơ phá sản nếu như không tìm ra một hướng đi mới

Nhận thức rõ mối nguy đó, đã có những doanh nhân đưa ra phương án phá vỡ thế bếtắc, mà đi đầu trong việc đối phó với nguy cơ bành trướng của hệ thống phân phối hàng hoá

mà các tập đoàn phân phối đa quốc gia sẽ thâm nhập vào thị trường Việt Nam, các doanhnhân kinh doanh trong lĩnh vực phân phối hàng hoá hàng đầu trong nước đã khẩn trương lập

ra Cty TNHH thương mại và dịch vụ G7 (G7 Mart) để xây dựng hệ thống phân phối hàng hoátrên khắp thị trường Việt Nam G7 Mart được hình thành trên cơ sở tập hợp các cửa hàng tạphóa nhỏ lẻ với mục tiêu là trang bị, nâng cấp, thay đổi phương thức quản lý, cung cách phục

vụ để hướng các cửa hàng này thành chuỗi cửa hàng kinh doanh tiện lợi theo mô hình phânphối hiện đại kinh doanh 24 giờ của tập đoàn 7-Eleven tại Thái Lan Các siêu thị G7 lại lựachọn từ những cửa hàng bán lẻ bình dân đang hoạt động hiệu quả, theo nhiều tiêu chí đánh giácủa công ty này như doanh thu tháng, quy mô cửa hàng, diện tích, vị trí Với hình thức hợptác kinh doanh, nhượng quyền thương hiệu, chủ các cửa hàng bán lẻ sẽ ký hợp đồng với G7

để trở thành thành viên của chuỗi thương hiệu này G7 sẽ đầu tư cửa hàng theo một thiết kếtrang trí độc quyền, cung cấp và phân phối hàng tập trung, đồng thời thiết lập những dịch vụgiá trị gia tăng như phát hành thẻ mua hàng trả trước khuyến mãi 10% trên giá trị thẻ, thanhtoán chi phí các dịch vụ sinh hoạt như điện nước, điện thoại để phục vụ người tiêu dùng.Với tổng giá trị đầu tư lên tới 395 triệu USD, theo dự kiến đến năm 2010 G7 Mart sẽ cókhoảng 7.000 cửa hàng tiện lợi, 200 trung tâm phân phối, 100 trung tâm phân phối sỉ, 7 trungtâm thương mại và 7 siêu thị lẻ tại VN khắp 65 tỉnh, thành

Không chỉ có G7, hiện nay công ty Intimex đang đề ra chiến lược xây dựng một hệthống siêu thị và thương mại 3 cấp tại Hà Nội và các tỉnh thành khác bao gồm các cửa hàng tự

Trang 22

chọn, hệ thống siêu thị và các trung tâm thương mại Đặc biệt Intimex dự định sẽ xây dựngcác trung tâm dự trữ phân phối lớn để có thể chủ động nguồn hàng cho hệ thống bán lẻ củamình Theo dự định, Intimex sẽ xây dựng hệ thống của mình trong vòng 10 năm với tốc độphát triển trung bình 30%/năm.

Một hệ thống siêu thị hiện cũng đang phát triển khá mạnh, đó là Hapro Hệ thống siêuthị và cửa hàng tiện ích mang tên Hapro mart được xây dựng khá chặt chẽ dựa trên 4 quichuẩn: 1 cửa hàng từ 70 m2 trở lên; 2 mầu xanh đặc trưng của thương hiệu; 3 chuẩn hoánguồn hàng; 4 chuẩn hoá đội ngũ nhân viên từ trang phục đến phong cách Chỉ sau hơn 1tháng đi vào hoạt động, Hapro mart đã có 19 địa điểm, trong đó có 3 siêu thị và 16 cửa hàngtiện ích Tháng 2 năm 2009, Hapro cùng với Công ty TNHH Trí Phúc đã khai trương siêu thịđồng giá đầu tiên mang thương hiệu Daiso (đây là thương hiệu được Tập đoàn siêu thị đồnggiá Daiso Nhật Bản nhượng quyền) tại Hà Nội Đây là bước tiến mới mẻ, thể hiện sự nhanhnhạy của các nhà bán lẻ Việt Nam trước xu hướng mới Hiện tại Hapro đã khai trương 10 siêuthị mang thương hiệu này trên toàn quốc Không chỉ có vậy, Hapro còn chú trọng phát triển hệthống siêu thị mang thương hiệu Hapro Mart Trong tháng 6/2009, Hapro liên tục khai trương

2 siêu thị Hapro Mart mới tại chợ Bưởi và khu chung cư Kim Chung - Đông Anh, nâng tổng

số siêu thị, cửa hàng tiện ích của đơn vị lên 30 điểm kinh doanh tại Hà Nội và 4 tỉnh phía Bắc

Dự kiến đến 2010, Hapro mart sẽ có được 50 siêu thị cùng 700 đến 800 cửa hàng tiện ích.Trong khi đó, Saigon CO.OP cũng muốn củng cố vị trí nhà phân phối số một Việt Nambằng một chiến lược phát triển cả về chiều sâu và chiều rộng hệ thống siêu thị của mình.Saigon CO.OP đặt mục tiêu đến 2010 sẽ có 40 siêu thị trên khắp cả nước Bên cạnh đó,Saigon CO.OP chú trọng xây dựng các mối liên hệ gắn kết các siêu thị, cơ sở sản xuất, kho dựtrữ thành một hệ thống liên hoàn từ khai thác, vận chuyển, chế biến và bán lẻ để làm gia tănggiá trị của sản phẩm

Trong mấy năm qua, Tổng công ty Thương mai Sài Gòn (SATRA Group) đã đầu tư gần hơn 1000 tỷ để cải tạo và nâng cấp các trung tâm buốn bán hiện có, xây dựng mới các chợ đầu mối nông sản lớn Bên cạnh đó, Tổng công ty đang có nhiều dự án để xây dựng thêm ít nhất là 4 trung tâm thương mại lớn ở thành phố Hồ Chí Minh và một số chợ đầu mối nông sản

ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long với số vốn đầu tư hàng trăm tỷ đồng

Ngoài ra nhiều doanh nghiệp cũng đang phấn đấu để hình thành các tập đoàn phân phốilớn như Công ty Sasco; Tổng công ty thương mại Hà Nội (Hapro) Các công ty như Kinh

Ðô, Casumina, Vissan, Vinamilk cũng đã bắt đầu thực hiện việc đầu tư trực tiếp cho các cửahàng, các đại lý phân phối

Ngày đăng: 19/04/2022, 21:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Một số trang thông tin điện tử• Diễn đàn doanh nghiệp - http://dddn.com.vn/ - 22/6/2009 - Thị trường bán lẻ Việt Nam: Sự thật sau những con số - Mạnh Quân Link
1. Nguyễn Thị Nhiễu - Nghệ thuật kinh doanh bán lẻ hiện đại - Nhà xuất bản Thống kê - 2002 Khác
2. Báo cáo kết quả điều tra thị trường bán lẻ của Bộ Công Thương Khác
5. Chỉ thị số 13/2004/CT-TTg về việc thực hiện một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển mạnh thị trường nội địa Khác
6. Quyết định 1371/2004/QĐ-BTM về quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại Khác
7. Quyết định số 10/2007/QĐ-BTM công bố lộ trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ CỦA VIỆT NAM I. KHÁI QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH BÁN LẺ Ở VIỆT NAM - Bai phan phoi Khuatvantoan qtmbk10.DOC
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ CỦA VIỆT NAM I. KHÁI QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH BÁN LẺ Ở VIỆT NAM (Trang 9)
3.2 Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo loại hình doanh nghiệp Biểu đồ 4: Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo loại hình doanh nghiệpBiểu đồ 4: Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo loại hình doanh nghiệp - Bai phan phoi Khuatvantoan qtmbk10.DOC
3.2 Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo loại hình doanh nghiệp Biểu đồ 4: Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo loại hình doanh nghiệpBiểu đồ 4: Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo loại hình doanh nghiệp (Trang 18)
3.2 Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo loại hình doanh nghiệp Biểu đồ 4: Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo loại hình doanh nghiệpBiểu đồ 4: Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo loại hình doanh nghiệp - Bai phan phoi Khuatvantoan qtmbk10.DOC
3.2 Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo loại hình doanh nghiệp Biểu đồ 4: Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo loại hình doanh nghiệpBiểu đồ 4: Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo loại hình doanh nghiệp (Trang 18)
3.4 Hình thức phục vụ bán hàng - Bai phan phoi Khuatvantoan qtmbk10.DOC
3.4 Hình thức phục vụ bán hàng (Trang 19)
Biểu đồ 6: Hình thức phục vụ bán hàng - Bai phan phoi Khuatvantoan qtmbk10.DOC
i ểu đồ 6: Hình thức phục vụ bán hàng (Trang 19)
Bảng 1: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đầu năm 2008 - Bai phan phoi Khuatvantoan qtmbk10.DOC
Bảng 1 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đầu năm 2008 (Trang 25)
Phân theo loại hình kinh tế - Bai phan phoi Khuatvantoan qtmbk10.DOC
h ân theo loại hình kinh tế (Trang 26)
Bảng 2: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng đầu năm 2009 - Bai phan phoi Khuatvantoan qtmbk10.DOC
Bảng 2 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng đầu năm 2009 (Trang 26)
Biểu đồ 9: Cơ cấu vốn phân theo loại hình doanh nghiệp - Bai phan phoi Khuatvantoan qtmbk10.DOC
i ểu đồ 9: Cơ cấu vốn phân theo loại hình doanh nghiệp (Trang 34)
Trong tương lai, mặc dù các hình thức bán lẻ hiện đại được dự báo sẽ còn phát triển mạnh mẽ hơn nữa, tuy nhiên hình thức chợ truyền thống vẫn không thể thay thế, do tập quán xưa tới nay của người Việt, 90% các bà nội trợ Việt Nam vẫn mua đồ ở các chợ truy - Bai phan phoi Khuatvantoan qtmbk10.DOC
rong tương lai, mặc dù các hình thức bán lẻ hiện đại được dự báo sẽ còn phát triển mạnh mẽ hơn nữa, tuy nhiên hình thức chợ truyền thống vẫn không thể thay thế, do tập quán xưa tới nay của người Việt, 90% các bà nội trợ Việt Nam vẫn mua đồ ở các chợ truy (Trang 42)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w