1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo luật thương mại 2005

85 22 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 921,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN MỞ ĐẦU

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG

    • 1.1. Khái niệm và đặc điểm của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

      • 1.1.1. Khái niệm chế tài trong thương mại

      • 1.1.2. Khái niệm chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

      • 1.1.3. Đặc điểm chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

    • 1.2. Quá trình hình thành và phát triển của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam

      • 1.2.1. Giai đoạn trước năm 1997

      • 1.2.2. Giai đoạn từ sau năm 1997

    • 1.3. Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

      • 1.3.1. Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong trường hợp mà các bên đã thỏa thuận

      • 1.3.2. Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng

      • 1.3.3. Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng khi hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia

      • 1.3.4. Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng khi hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng

    • 1.4. Vấn đề giới hạn việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

    • 1.5. Vấn đề gia hạn thực hiện nghĩa vụ

    • 1.6. Hệ quả pháp lý của việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

    • 1.7. Ý nghĩa của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG

    • 2.1. Thực trạng pháp luật về điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

      • 2.1.1. Thực trạng quy định pháp luật về điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

        • 2.1.1.1. Điều kiện luật định

        • 2.1.1.2. Điều kiện thỏa thuận của các bên

      • 2.1.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

    • 2.2. Thực trạng pháp luật về cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

      • 2.2.1. Thực trạng quy định pháp luật về cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

        • 2.2.1.1. Bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng

        • 2.2.1.2. Bên vi phạm dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện

      • 2.2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

    • 2.3. Thực trạng pháp luật về mối quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và một số chế tài khác trong thương mại

      • 2.3.1. Thực trạng quy định pháp luật về mối quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và một số chế tài khác trong thương mại

        • 2.3.1.1. Mối quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng với chế tài phạt vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại

        • 2.3.1.2. Mối quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng với chế tài tạm ngừng hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng

      • 2.3.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về mối quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và một số chế tài khác trong thương mại

  • KẾT LUẬN

Nội dung

Có thể kể đến đó là các công trình như Nguyễn Hải Long 2017, Các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội; Tạ

TỔNG QUAN VỀ CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG

Khái niệm và đặc điểm của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

1.1.1 Khái niệm chế tài trong thương mại

Khi một hợp đồng thương mại được thiết lập, các bên mong muốn thực hiện hợp đồng để đạt được các mục tiêu như bán hàng, cung cấp dịch vụ và được thanh toán hoặc mua hàng, sử dụng dịch vụ Tuy nhiên, thực tế quan hệ thương mại không phải lúc nào cũng diễn ra thuận lợi; nhiều nguyên nhân dẫn đến vi phạm nghĩa vụ và gây thiệt hại cho bên liên quan Vì vậy, chế tài thương mại ra đời như một phương tiện phòng ngừa và tạo niềm tin để các bên tham gia quan hệ thương mại với rủi ro thấp nhất có thể, bằng cách các chế tài được áp dụng khi có vi phạm nhằm đảm bảo hợp đồng được thực hiện thực tế, khôi phục và bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm hoặc chấm dứt hoặc tạm ngừng thực hiện toàn bộ hoặc một phần hợp đồng.

Luật thương mại Việt Nam 2005 sử dụng nhưng không định nghĩa thuật ngữ

Chế tài trong thương mại là khái niệm được phân tích và làm rõ qua nhiều nguồn khác nhau nhằm xác định đúng ý nghĩa của thuật ngữ này và từ đó rút ra khái niệm chung về chế tài trong thương mại Bài viết trình bày các khái niệm liên quan từ các nguồn pháp lý, học thuật và thực tiễn, đồng thời so sánh các cách hiểu để làm nổi bật sự khác biệt và tương đồng giữa chúng Nhờ sự khảo sát đa nguồn, tác giả tổng hợp các định nghĩa và bối cảnh áp dụng, từ đó hình thành một khái niệm nhất quán về chế tài trong thương mại và gợi ý cách áp dụng vào thực tiễn kinh doanh và hoạt động thương mại.

Theo từ điển pháp lý Black, chế tài là hình phạt hoặc các biện pháp thực thi khác được sử dụng để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật hoặc các quy tắc, quy định Ở Việt Nam, theo Từ điển Luật học, chế tài được định nghĩa là một trong ba bộ phận cấu thành một quy phạm pháp luật (gồm giả định, quy định, chế tài); chế tài là bộ phận xác định các hình thức trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm các quy tắc xử sự chung được ghi nhận trong phần quy định và giả định của pháp luật.

Trong khi đó, thuật ngữ "thương mại" chưa được định nghĩa trong LTM 2005; tuy nhiên, LTM 2005 định nghĩa "hoạt động thương mại" là các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ.

3 Black, Henry Campbell (1990), Black’s Law Dictionary, 6 th ed, St.Paun, MN.: West Publishing, p 1341 ISBN 0-314-76271 -X

4 Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb Tư pháp, tr.130

7 ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác

Mối quan hệ giữa Luật Thương mại và Luật Dân sự là mối quan hệ giữa luật chuyên ngành và luật chung Theo BLDS 2005, thuật ngữ “chế tài” không được dùng mà thay bằng khái niệm “trách nhiệm dân sự” để chỉ các biện pháp xử lý hành vi vi phạm hợp đồng; trong khi BLDS 2015 có quy định về chế tài tại Điều 10, nhằm giới hạn quyền dân sự và cho phép Tòa án, cơ quan có thẩm quyền áp dụng các chế tài khác khi cá nhân, pháp nhân lạm dụng quyền dân sự gây thiệt hại, vi phạm nghĩa vụ hoặc thực hiện mục đích trái pháp luật Như vậy, BLDS xem “chế tài” là biện pháp xử lý hành vi lạm dụng quyền dân sự gây thiệt hại hoặc vi phạm pháp luật hoặc vi phạm nghĩa vụ dân sự, còn thuật ngữ “trách nhiệm dân sự” được dùng để chỉ các biện pháp xử lý hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.

Chế tài trong thương mại được định nghĩa là những hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể thực hiện hành vi vi phạm các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại phải gánh chịu Theo nghĩa rộng, chủ thể áp dụng chế tài có thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc là các bên trong quan hệ thương mại Trong phạm vi của đề tài, chế tài trong thương mại được hiểu theo nghĩa hẹp, đồng nhất với chế tài đối với vi phạm hợp đồng thương mại, tức là những hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải chịu Chủ thể áp dụng chế tài trong thương mại ở đây là các bên trong hợp đồng, cụ thể là bên bị vi phạm nghĩa vụ hợp đồng; hành vi vi phạm ở đây là các vi phạm nghĩa vụ hợp đồng như nghĩa vụ giao hàng (Điều 34 LTM 2005) và nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng (Điều 50 LTM 2005).

2005), nghĩa vụ nhận hàng (Điều 56 LTM 2005),…

1.1.2 Khái niệm chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng Điều 385 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Khoản 1 Điều 275

BLDS quy định một trong các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ là hợp đồng; đồng thời, hợp đồng thương mại có thể được hiểu là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự, được áp dụng trong hoạt động thương mại và tuân thủ các nguyên tắc chung của hợp đồng dân sự Như vậy, nhận diện đúng bản chất của hợp đồng thương mại giúp xác định quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như các quy định về giao kết, thực hiện và xử lý vi phạm liên quan đến giao dịch thương mại.

Hợp đồng thương mại là căn cứ phát sinh nghĩa vụ giữa các bên tham gia quan hệ thương mại, thể hiện sự cam kết mà các bên phải tuân thủ để đạt được lợi ích từ việc thực hiện hợp đồng Bên bán hàng và cung ứng dịch vụ được thanh toán từ hàng hóa, dịch vụ họ cung cấp; ngược lại, bên mua được nhận hàng hóa và được thực hiện công việc tương ứng Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng ra đời là hệ quả của nguyên tắc Pacta sunt Servanda – nguyên tắc giao ước cần được tuân thủ Xét về mặt lý luận, buộc thực hiện đúng hợp đồng là yêu cầu bắt buộc bên vi phạm nghĩa vụ thực hiện các hành vi cam kết trong hợp đồng để hợp đồng được diễn ra đúng như mong muốn của các bên.

Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là một trong các chế tài được quy định trong pháp luật thương mại Việt Nam và được liệt kê tại Điều 292 LTM 2005 Theo định nghĩa của pháp luật thương mại Việt Nam, buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện đúng nội dung hợp đồng hoặc áp dụng các biện pháp khác để đảm bảo hợp đồng được thực hiện, và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh liên quan Từ định nghĩa này rút ra các vấn đề chủ yếu như mục tiêu bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm, phương thức thực hiện có thể là yêu cầu thực hiện hoặc các biện pháp bảo đảm khác, và chi phí phát sinh do bên vi phạm chịu trách nhiệm Như vậy, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng góp phần tăng cường hiệu lực thực hiện cam kết thương mại và đảm bảo tính bắt buộc của hợp đồng.

Thứ nhất, chủ thể áp dụng chế tài này là “bên bị vi phạm”, chủ thể bị áp dụng chế tài là “bên vi phạm”

Phương thức thực thi chế tài gồm hai hình thức chính: một là yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng, hai là sử dụng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện Bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh liên quan.

1.1.3 Đặc điểm chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là một chế tài trong lĩnh vực thương mại, dùng để bắt buộc các bên thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết Nó mang các đặc điểm chung của các chế tài thương mại như tính ràng buộc pháp lý cao và khả năng cưỡng chế nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, đồng thời cũng có những đặc điểm riêng biệt phù hợp với đặc thù giao dịch thương mại, như phạm vi áp dụng, cơ chế thi hành và các biện pháp xử lý vi phạm được thiết kế để tối ưu hoá hiệu quả thực hiện hợp đồng.

Đặng Hoa Trang (2014) phân tích chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) và pháp luật thương mại Việt Nam trong luận văn Thạc sĩ Luật tại Đại học Luật TP HCM, trang 16 Nghiên cứu làm rõ vai trò của CISG và các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc bắt buộc các bên thực thi nghĩa vụ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đồng thời so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa hai khuôn khổ pháp lý này Từ đó, bài viết đưa ra các đề xuất nhằm tăng cường hiệu lực thi hành, hạn chế rủi ro giao dịch và thúc đẩy thương mại quốc tế trên cơ sở hài hòa giữa CISG và luật Việt Nam.

Theo Điều 292 LTM 2005, các chế tài được quy định bao gồm các biện pháp xử lý hợp đồng như: buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng và đình chỉ thực hiện hợp đồng.

Các bên có thể hủy bỏ hợp đồng và áp dụng các biện pháp khác do thỏa thuận giữa các bên, miễn sao các biện pháp này không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế.

Quá trình hình thành và phát triển của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam

đồng trong pháp luật Việt Nam

Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam phần lớn bắt nguồn từ thời Pháp thuộc và được quy định qua một số điều luật; ở miền Bắc, Điều 912 của Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy định: nếu người bán không nộp hàng đúng thời hạn hai bên đã thỏa thuận, người mua có quyền yêu cầu hủy bỏ giao dịch; còn nếu sự chậm trễ là do người bán, người mua có thể buộc người bán giao nộp vật bán; do đó, Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 công nhận quyền của người mua buộc bên bán phải giao nộp vật bán.

Trong khi đó, Bộ Hoàng Việt Trung kỳ Hộ luật (Bộ luật Dân sự Trung kỳ 1936) cũng ghi nhận chế tài BTHĐHĐ; theo đó, Điều 1040 quy định chi tiết về chế tài này và cơ chế xử lý các trường hợp vi phạm.

Trong trường hợp người bán không giao hàng đúng thời hạn hai bên đã thỏa thuận và sự chậm trễ này được xác định là do lỗi của người bán, người mua có quyền tùy ý hủy bỏ hợp đồng hoặc yêu cầu người bán thực hiện việc giao hàng, hoặc bắt buộc giao nhận vật đã bán Quy định này tương tự như Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 và cho thấy Bộ Hoàng luật Dân sự Trung kỳ cũng có chế tài đối với vi phạm hợp đồng.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các chế định về chế tài buộc thực hiện hợp đồng vẫn được giữ nguyên và tiếp tục áp dụng song song với các bộ luật dân sự đã nêu cho đến năm 1959 Ở miền Bắc Việt Nam, ngày 10 tháng 7 năm 1959, Tòa án tối cao ban hành chỉ thị nhằm củng cố và điều chỉnh những quy định về nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong hệ thống pháp lý dân sự.

Trong giai đoạn này, dù có các văn bản về chế tài thương mại, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng vẫn còn ở mức sơ khai và chưa được quy định đầy đủ Ở miền Nam Việt Nam Cộng hòa, Bộ luật Thương mại 1972 quy định chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng tại Điều 353: nếu đã có giao ước mà người bán không giao hàng, người mua có thể sau khi đốc thúc bằng văn bản ngoại tư pháp mua một số hàng cùng loại để thay thế và yêu cầu Tòa buộc người bán chịu phí tổn cùng giá sai biệt Từ năm 1989 đến trước 1997, các hợp đồng kinh tế được điều chỉnh bởi Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 (PLHĐKT 1989), quy định chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng tại Điều 31, 32 và 34: Điều 31 cho phép buộc thực hiện đúng khi sản phẩm/hàng hóa không đúng chất lượng hoặc công việc không đúng yêu cầu kỹ thuật; Điều 32 cho phép các bên thỏa thuận thay thế việc sửa chữa sai sót bằng giảm giá hoặc đổi lấy sản phẩm/hàng hóa khác khi phát hiện sai sót; Điều 34 cho phép bên bị vi phạm không nhận sản phẩm/hàng hóa cho đến khi sản phẩm, hàng hóa, công việc được hoàn tất đồng bộ theo hợp đồng Tuy nhiên, các quy định này vẫn ở mức sơ khai, chưa hoàn thiện; ví dụ Điều 32 không quy định quyền đơn phương thay thế việc sửa chữa sai sót bằng đổi lấy sản phẩm, mà phải được thực hiện qua thỏa thuận, gây ra sự chậm trễ, thiệt hại và thiếu tính linh động, có thể dẫn đến phải áp dụng các chế tài khác như phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.

1.2.2 Giai đoạn từ sau năm 1997

Sau một thời gian đi vào thực thi, Luật Thương mại năm 1997 (LTM 1997) ra đời để thay thế PLHĐKT 1989, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ thương mại và tăng cường sự ràng buộc của hợp đồng Đáng chú ý, LTM 1997 quy định chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng tại khoản 1 Điều 223, nhằm xử lý và ngăn ngừa vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, từ đó nâng cao hiệu quả thực thi hợp đồng và bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia thương mại.

13 Luật dân sự Việt Nam, trang web: [https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2007/11/16/2487/], truy cập lần cuối ngày 13/5/2021

Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo luật thương mại 2005 là chủ đề chính được Mã Thị Bích Mai nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2017) Bài viết phân tích cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng các hình thức chế tài nhằm bảo đảm nghĩa vụ hợp đồng được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn và đúng nội dung, đồng thời đánh giá hiệu quả và hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành Nội dung này được trình bày cụ thể trên trang 8 của khóa luận, cung cấp những luận cứ nhằm cải thiện cơ chế thực thi hợp đồng trong thương mại Việt Nam và là nguồn tham khảo quan trọng cho người làm luật và học thuật về luật thương mại 2005.

15 Đặng Hoa Trang, tlđd (5), tr 14

Đảm bảo thực hiện đúng hợp đồng là quyền lợi của bên có quyền bị vi phạm và là trách nhiệm của họ khi yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng các cam kết theo hợp đồng hoặc áp dụng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện đầy đủ; bên vi phạm phải chịu phí tổn phát sinh từ việc thực hiện các biện pháp đảm bảo hợp đồng được thực hiện.

Qua bảy năm thi hành, Luật Thương mại 1997 đã đóng góp đáng kể vào việc điều chỉnh hoạt động thương mại và các chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, Luật Thương mại 2005 ra đời, kế thừa LTM 1997 và bổ sung nhiều quy định mới, đặc biệt là sự hoàn thiện chế tài trong thương mại và nâng cao nghĩa vụ buộc thực hiện đúng hợp đồng Ví dụ điển hình là cách thức áp dụng chế tài khi bên vi phạm giao hàng kém chất lượng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng: LTM 1997 quy định bên vi phạm phải “tìm cách loại trừ khuyết tật của hàng hóa, thiếu sót của dịch vụ”, còn LTM 2005 loại bỏ cụm từ “tìm cách”, đồng thời nghĩa vụ của bên vi phạm không chỉ dừng ở việc khắc phục mà còn bắt buộc loại bỏ khuyết tật và thiếu sót.

Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 quy định bốn trường hợp bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm, và quy định này cũng áp dụng đối với việc miễn chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng khi bên vi phạm có thể viện dẫn các quy định miễn trách nhiệm để từ chối yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng của bên bị vi phạm Cụ thể, các trường hợp được miễn trách nhiệm sẽ được phân tích chi tiết ở phần tiếp theo.

1.3.1 Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong trường hợp mà các bên đã thỏa thuận

Một trong những nguyên tắc của pháp luật thương mại đó chính là nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận Theo đó “các bên có quyền tự do thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó” Tại điểm a khoản 1 Điều 294 LTM 2005 quy định bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm khi xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận Như vậy, bằng việc quy định thỏa thuận là một trong các trường hợp miễn trách nhiệm khi có sự vi phạm hợp đồng thương mại hay trường hợp miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng đã thể hiện sự tôn trọng và bảo hộ quyền tự do thỏa thuận của Nhà nước trong lĩnh vực thương mại

Phân tích quy định về trường hợp miễn trách nhiệm do các bên đã thỏa thuận có những điểm cần lưu ý như sau:

Thứ nhất, điều kiện để miễn trách nhiệm là các bên “đã” có thỏa thuận về việc miễn trách nhiệm nếu xảy ra tình huống như các bên đã thỏa thuận Như vậy, xét về mặt thời điểm thì việc thỏa thuận này phải xảy ra trước khi bên bị vi phạm áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Về thời điểm được coi là đã có thỏa thuận miễn trách nhiệm và hình thức của thỏa thuận này, pháp luật thương mại hiện không có quy định rõ ràng về hình thức, nhưng căn cứ Điều 24 và Điều 74 LTM 2005 về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng dịch vụ cho phép các hợp đồng có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể nếu not có quy định khác; thỏa thuận miễn trách nhiệm được xem như một nội dung của hợp đồng và do vậy có thể thể hiện ở dạng văn bản (trong hợp đồng, phụ lục hoặc tài liệu kèm theo được coi là bộ phận không tách rời) hoặc ở dạng lời nói/hành vi; tuy nhiên, việc chứng minh sự tồn tại của thỏa thuận về miễn trách nhiệm hay việc miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ bằng lời nói hoặc hành vi là vấn đề khó khăn; trên thực tế, thỏa thuận miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ bằng lời nói hay hành vi cụ thể hiếm khi xảy ra vì các hợp đồng thương mại được giao kết bằng lời nói hoặc hành vi thông thường có giá trị không lớn và mang tính chất nhỏ lẻ, nên các bên thường bỏ qua các vấn đề như chế tài, miễn trách nhiệm.

1.3.2 Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng

Trong LTM 2005, sự kiện bất khả kháng chưa được định nghĩa Do đó, theo nguyên tắc áp dụng luật chung để giải quyết những vấn đề luật chuyên ngành không quy định được ghi nhận tại khoản 3 Điều 4 LTM 2005, tác giả sẽ viện dẫn quy định của BLDS để định nghĩa sự kiện này Theo quy định của BLDS 2015, “sự kiện bất khả kháng” được định nghĩa như một biến cố khách quan, xảy ra ngoài ý chí của các bên, nằm ngoài khả năng kiểm soát và có thể khiến một bên không thể thực hiện hoặc trì hoãn thực hiện nghĩa vụ.

17 Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, tlđd (9), tr.442

Theo Khoản 3 Điều 4 Luật Thương mại năm 2005, khi một hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại hoặc các văn bản pháp lý khác, thì các quy định của Bộ luật Dân sự sẽ được áp dụng.

Khái niệm sự kiện bất khả kháng là những sự kiện xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép Theo LTM 2005, sự kiện bất khả kháng được liệt kê vào một trong 4 trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm Do đó, việc áp dụng chế tài hay cụ thể là chế tài BTHĐHĐ khi hành vi vi phạm của bên vi phạm là do xảy ra sự kiện bất khả kháng là không đúng quy định của pháp luật Một số sự kiện bất khả kháng có thể kể đến đó là thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh, đình công… Tuy nhiên, để được miễn trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng hay miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ thì các sự kiện mà các bên cho rằng đó là sự kiện bất khả kháng phải thỏa mãn những điều kiện sau đây:

(i) Sự kiện xảy ra một cách khách quan;

(ii) Sự kiện xảy ra không thể lường trước được;

(iii) Sự kiện xảy ra không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép và;

(iv) Sự kiện nêu trên gây cản trở dẫn đến việc bên vi phạm không thể thực hiện hay không thể thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng

1.3.3 Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng khi hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia

Bên vi phạm được giải phóng khỏi trách nhiệm khi việc vi phạm hợp đồng của mình xuất phát từ chính lỗi của bên kia Như vậy, khi một bên vi phạm hợp đồng nhưng nguyên nhân là hoàn toàn do lỗi của bên còn lại thì bên vi phạm có quyền từ chối việc áp dụng chế tài BTHĐHĐ Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là xác định “lỗi của bên kia” là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp dẫn đến việc không thực hiện đúng hợp đồng để bên vi phạm viện dẫn quy định miễn trách nhiệm hay từ chối thực hiện chế tài? LTM 2005 không có câu trả lời song cách quy định chung là lỗi thì có thể hiểu lỗi ở đây là bao gồm cả lỗi là nguyên nhân trực tiếp và lỗi là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến việc không thực hiện đúng hợp đồng Đối với trường hợp lỗi là nguyên nhân trực tiếp thì câu trả lời khá rõ ràng, bởi vì ở đây quan hệ nguyên nhân – kết quả trực tiếp dẫn đến việc vi phạm thì “theo lẽ công bình người gây ra việc không thực hiện đúng hợp đồng không thể viện dẫn việc này để đem lại lợi ích cho mình” Trong khi đó, trường hợp lỗi của bên bị vi phạm là nguyên nhân gián tiếp của việc không thực hiện đúng hợp đồng thể hiện ở các hình thức như vi

20 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam tập II, Nhà xuất bản Tư pháp, tr.310

21 Đỗ Văn Đại, tlđd(8), tr.221

16 phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ và từ việc này dẫn đến việc bên vi phạm hợp đồng không thể thực hiện đúng hợp đồng 22

Trong trường hợp miễn trách nhiệm hoặc miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ, tình huống phổ biến là một bên vi phạm nghĩa vụ trong khi bên kia áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng Việc áp dụng chế tài tạm ngừng hợp đồng của bên bị vi phạm được coi là một sự vi phạm hợp đồng, nhưng sự vi phạm này xuất phát từ lỗi của bên kia Vì vậy, để đánh giá đúng bản chất và quyền lợi liên quan, cần cân nhắc kỹ các điều khoản hợp đồng và các quy định pháp lý liên quan nhằm cân bằng nghĩa vụ và quyền lợi của các bên.

Cả LTM 2005 và BLDS 2015 đều quy định miễn trách nhiệm khi lỗi thuộc về bên kia ở mức độ hoàn toàn Điều kiện để bên vi phạm viện dẫn quy định này là lỗi phải hoàn toàn thuộc về bên bị vi phạm, nhưng các văn bản hiện hành thiếu quy định về trường hợp lỗi xuất phát từ cả hai bên hoặc lỗi một phần của bên bị vi phạm Theo tác giả, nên theo hướng quy định miễn trách nhiệm hoặc miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ tương ứng với mức độ và phạm vi lỗi của bên có lỗi, từ đó dẫn tới hành vi vi phạm của bên kia.

1.3.4 Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng khi hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng

Theo quy định LTM 2005, một trường hợp miễn trách nhiệm xảy ra khi hành vi vi phạm của một bên phát sinh từ việc thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được tại thời điểm giao kết hợp đồng Căn cứ này nhằm đảm bảo tính uy quyền và sự tuân thủ của mệnh lệnh hành chính Khi một quyết định hành chính được ban hành, bên vi phạm trong hợp đồng có thể bị cấm đoán thực hiện một hành vi (như xuất khẩu, nhập khẩu) hoặc buộc phải thực hiện một hành vi (như nộp hàng hóa theo quyết định trưng thu) Ở đây, bên vi phạm hợp đồng có hai lựa chọn: hoặc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và tuân theo quyết định hành chính của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, hoặc làm trái quyết định của cơ quan nhà nước nhưng thực hiện đúng hợp đồng Trên tinh thần thượng tôn pháp luật, bất kể quyết định hành chính đó là hợp pháp hay không thì cách xử sự được ưu tiên là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và tuân theo quyết định hành chính nhà nước.

Quy định năm 2005 được xây dựng theo hướng khuyến khích các bên xử sự theo quyết định hành chính nhà nước bằng cách quy định một trường hợp miễn trách nhiệm, nhằm tạo động lực tuân thủ và giảm nhẹ rủi ro pháp lý khi thực hiện đúng quyết định Cơ chế miễn trách nhiệm được mô tả rõ ràng và áp dụng trong các tình huống nhất định, bảo đảm tính công bằng và minh bạch cho cả bên liên quan lẫn cơ quan nhà nước Việc xác định phạm vi và điều kiện miễn trách nhiệm giúp cân bằng quyền lợi của các bên với mục tiêu quản lý hành chính của nhà nước, đồng thời tăng tính dự báo và ổn định cho hoạt động của tổ chức và cá nhân liên quan.

22 Đỗ Văn Đại, tlđd (8), tr.222

23 Nguyễn Thị Như Anh (2018), Miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng theo Luật Thương mại 2005 và

Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật,

Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr.32

Việc thi hành quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn được tiến hành ngay cả khi có thể xem đây là một trường hợp miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng Trong bối cảnh này, quyền miễn trách nhiệm có thể được xem xét khi sự kiện bất khả kháng làm cho việc thực thi quyết định gặp khó khăn hoặc không thể thực hiện theo yêu cầu Tuy nhiên, quyết định miễn trách nhiệm hoặc các biện pháp khắc phục sẽ được xác định căn cứ vào quy định của pháp luật và thực tế thi hành, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan và đảm bảo tính công bằng trong quá trình thi hành.

Phân tích quy định về miễn trách nhiệm hoặc miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ khi vi phạm hợp đồng phát sinh do quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được tại thời điểm ký kết, cho thấy bên vi phạm có thể viện dẫn quy định này để từ chối hoặc làm giảm trách nhiệm trong việc thực hiện chế tài BTHĐHĐ; để việc viện dẫn được chấp nhận, cần thỏa mãn một chuỗi điều kiện do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm tính khách quan và công bằng giữa các bên và phù hợp với ngữ cảnh hợp đồng và quy định hiện hành.

(i) Nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm của một bên là do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền

(ii) Các bên không thể biết được quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền này tại thời điểm giao kết hợp đồng

Vấn đề giới hạn việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Như đã phân tích ở trên, hiện nay LTM Việt Nam có 04 trường hợp về việc giới hạn áp dụng chế tài BTHĐHĐ Ngoài ra, Điều 420 BLDS 2015 còn có một quy định về việc thực hiện hợp đồng khi có hoàn cảnh thay đổi cơ bản xảy ra Theo đó, khi có hoàn cảnh thay đổi cơ bản xảy ra bên có lợi ích bị ảnh hưởng có thể yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý Trường hợp các bên không thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định hoặc sửa đổi hợp đồng để cân bằng lợi ích giữa các bên Tuy nhiên, tại khoản 4 Điều 420

BLDS 2015 lại quy định“Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng,

Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo

24 Khoản 2 Điều 294 và khoản 3 Điều 295 LTM 2005

18 hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Như vậy, mặc dù tinh thần tại Điều

420 BLDS 2015 là tiến bộ song khó có thể vận dụng vào thực tiễn miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ

Nhìn chung, các quy định về giới hạn áp dụng chế tài BTHĐHĐ đối với các nghĩa vụ phi thanh toán còn nhiều thiếu sót và mang hướng bảo vệ quá mức bên bị vi phạm nghĩa vụ hợp đồng So với luật so sánh, số lượng cũng như phạm vi các trường hợp giới hạn áp dụng chế tài BTHĐHĐ vẫn còn khiêm tốn, chưa tính đến các tình huống đặc biệt để cân bằng lợi ích cũng như hậu quả kinh tế của các bên Tham khảo các quy định quốc tế, chẳng hạn Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT 2004, cho thấy việc giới hạn áp dụng chế tài BTHĐHĐ đối với các nghĩa vụ không phải là nghĩa vụ thanh toán không chỉ dừng lại ở các trường hợp (i) và (ii) mà còn mở rộng ra ở các trường hợp (iii), (iv) và (v).

Khi không thể thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hoặc trên thực tế, việc thực hiện nghĩa vụ hoặc, nếu có thể, các phương thức để thực hiện sẽ đòi hỏi sự nỗ lực đáng kể và chi phí bất hợp lý.

(iii) Bên có quyền có thể nhận một cách hợp lý được việc thực hiện nghĩa vụ bằng phương pháp khác

(iv) Việc thực hiện mang tính tuyệt đối cá nhân; hay

Bên có quyền không yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn hợp lý kể từ thời điểm bên này biết hoặc lẽ ra phải biết về việc không thực hiện nghĩa vụ Quy định này xác định thời hạn để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên và đảm bảo sự công bằng trong quá trình xử lý vi phạm.

Để đảm bảo cân bằng lợi ích giữa bên vi phạm và bên bị vi phạm và tránh hậu quả quá nặng nề cho bên vi phạm hợp đồng, tác giả đề xuất theo xu hướng quốc tế là thu hẹp phạm vi áp dụng chế tài BTHĐHĐ bằng cách mở rộng các trường hợp được giới hạn việc áp dụng chế tài này, và tham khảo các quy định của Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế để hướng dẫn thực hành.

Vấn đề gia hạn thực hiện nghĩa vụ

Để áp dụng chế tài BTHĐHĐ, LTM 2005 cho phép bên bị vi phạm có thể gia hạn một thời gian hợp lý để bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Tuy nhiên, thế nào là một khoảng thời gian “hợp lý” vẫn chưa được LTM 2005 quy định cụ thể, và điều này dễ hiểu bởi khoảng thời gian này phụ thuộc vào đặc thù của từng quan hệ hợp đồng Do đó, khoảng thời gian được coi là hợp lý sẽ khác nhau tùy từng trường hợp, dựa trên nội dung nghĩa vụ, tính cấp thiết, điều kiện thực hiện và các thỏa thuận giữa các bên.

25 Điều 7.2.2 PICC 2004, bản dịch được tham khảo từ trang web: [http://tailieuxnk.com/upload/sanpham/thumb/Tai-lieunguyen-tac-unidroit-ve-hop-dong-thuong-mai-

317191556747.pdf], truy cập lần cuối ngày 28/5/2021

Trong quan hệ hợp đồng, sự hợp lý của thời hạn gia hạn có thể khác nhau giữa các trường hợp nên khó có thể cô đọng hay điều chỉnh hết thảy để đảm bảo tính ổn định lâu dài của luật Đối với một số quan hệ hợp đồng có đối tượng là hàng hóa mang tính mùa vụ, theo vụ hoặc mang tính thời điểm, bên bị vi phạm có xu hướng rút ngắn khoảng thời gian gia hạn Việc gia hạn thường dựa vào thiện chí của bên bị vi phạm và sự đánh giá của họ khi cân nhắc lợi ích của việc thực hiện hợp đồng Khi xảy ra tranh chấp, mức độ “hợp lý” của thời hạn gia hạn được đánh giá bởi cơ quan giải quyết tranh chấp dựa trên các yếu tố như tính chất của đối tượng hợp đồng và mức độ vi phạm Có ý kiến cho rằng việc gia hạn để bên vi phạm khắc phục vi phạm và nếu hết thời hạn mà vẫn chưa khắc phục thì bên bị vi phạm có thể áp dụng các biện pháp khác để bảo đảm hợp đồng được thực hiện, khiến bản chất chế tài ở đây chuyển thành sự thỏa thuận gia hạn thời gian thực hiện nghĩa vụ Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, bản chất chế tài này không phải là một chế tài mang tính bắt buộc, mà là một cơ chế linh hoạt dựa trên thỏa thuận gia hạn giữa các bên.

“Thỏa thuận” gia hạn thời gian nghĩa vụ hợp đồng là hành vi pháp lý đơn phương của bên bị vi phạm, thể hiện yêu cầu khắc phục vi phạm và mong muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, nếu việc gia hạn được xem là một thỏa thuận có tác động thay đổi nội dung nghĩa vụ của các bên đã được xác lập trước đó, thì sẽ trái với bản chất và hệ quả pháp lý của việc áp dụng chế tài theo hợp đồng, như được phân tích trong Mục 1.6 của khóa luận.

Quy định hiện hành của LTM 2005 tại Điều 299 sử dụng cụm từ “trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng”, theo tác giả là không hợp lý và dễ gây hiểu nhầm khi áp dụng LTM nên thay bằng cụm từ “trong thời gian gia hạn thực hiện nghĩa vụ” để đồng nhất với quy định trước đó về gia hạn thực hiện nghĩa vụ, hoặc dùng cụm “trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định” để phù hợp với khoản 2 Điều 299 LTM 2005, từ đó việc xác định thời hạn này dễ dàng hơn Việc quy định theo hướng này cũng phù hợp với các quy định quốc tế, chẳng hạn Điều 47 CISG (khoản 1), nhằm tăng tính tương đồng và dễ áp dụng trong thực tiễn thương mại quốc tế.

26 Lê Hồng Hạnh (2002), Những nền tảng pháp lý cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Hà Nội, tr.26

27 Điều 47 CISG: “1 Người mua có thể cho người bán thêm một thời hạn bổ sung hợp lý để người bán thực hiện nghĩa vụ

2 Trừ phi người mua đã được người bán thông báo rằng người bán sẽ không thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời hạn bổ sung đó, người mua không được sử dụng đến bất cứ biện pháp bảo hộ pháp lý nào trong trường hợp người bán vi phạm hợp đồng trước khi thời hạn bổ sung kết thúc Tuy nhiên ngay cả trong trường hợp này người mua cũng không mất quyền đòi bồi thường thiệt hại do người bán chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình.”

Điều 47 quy định người mua có quyền gia hạn thêm một khoảng thời gian hợp lý để bên bán thực hiện nghĩa vụ, và khoản 2 quy định người mua không được áp dụng bất kỳ biện pháp nào khác trong suốt thời gian gia hạn đó Tương tự, PICC 2004 quy định tại Điều 7.1.5 khoản 1 bên có quyền có thể thông báo gia hạn thêm cho bên có nghĩa vụ, và tại khoản 2 nêu rõ trong suốt thời gian trước khi thời hạn kết thúc bên bị vi phạm không được viện dẫn các biện pháp khác để giải quyết (trừ biện pháp ngừng thực hiện hợp đồng hoặc buộc bồi thường thiệt hại) Như vậy cả CISG và PICC 2004 đều theo hướng quy định không áp dụng biện pháp nào khác (trừ buộc bồi thường thiệt hại và tạm ngừng thực hiện hợp đồng) trong “thời gian bổ sung” để bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ.

Khoản 2 Điều 299 LTM 2005 cho phép bên bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi của mình khi bên vi phạm không thực hiện chế tài BTHĐHĐ trong thời gian ấn định, thời gian này được gia hạn để thực hiện nghĩa vụ Như vậy, khi hết thời hạn mà bên vi phạm không khắc phục vi phạm, câu hỏi đặt ra là bên bị vi phạm có được áp dụng ngay các chế tài khác mặc dù chưa đủ điều kiện áp dụng hay phải đáp ứng các điều kiện cụ thể của từng chế tài như chế tài hủy hợp đồng hay đình chỉ hợp đồng? Điều 293 LTM 2005 quy định không được phép áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng đối với các vi phạm không phải là vi phạm cơ bản trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Theo PICC 2004, tại khoản 3 Điều 7.3.1 cho phép áp dụng chế tài hủy hợp đồng khi bên có nghĩa vụ chậm trễ và không thực hiện trong thời hạn được quy định tại Điều 7.1.5, với Điều 7.1.5 quy định về gia hạn thời hạn hợp lí để thực hiện nghĩa vụ; do đó, khi hết thời hạn bổ sung mà bên vi phạm không khắc phục vi phạm, bên bị vi phạm được áp dụng ngay chế tài hủy bỏ hợp đồng mà không cần đáp ứng điều kiện riêng của chế tài này (điều kiện vi phạm cơ bản) Trong khi đó, CISG cũng theo hướng bên bị vi phạm được áp dụng ngay các chế tài khác (hủy bỏ hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng) mà không cần chứng minh điều kiện có hành vi vi phạm cơ bản.

Theo Điều 7.1.5 PICC 2004, khi một bên không thực hiện nghĩa vụ, bên có quyền có thể thông báo gia hạn thêm một thời hạn bổ sung cho bên có nghĩa vụ để họ có thêm thời gian thực hiện nghĩa vụ.

Trong suốt thời gian trước khi thời hạn này kết thúc, bên có quyền có thể tạm ngừng thực hiện các nghĩa vụ liên quan và đòi bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, bên có quyền không được viện dẫn hay áp dụng bất kỳ biện pháp giải quyết nào khác ngoài quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

29 Đặng Hoa Trang, tlđd (5), tr.43

Việc xem xét gia hạn thực hiện nghĩa vụ tại Điều 298 LTM 2005 được hiểu như một cơ chế phá vỡ nguyên tắc khi chỉ áp dụng các biện pháp hủy bỏ hợp đồng, tạm ngừng hoặc đình chỉ thực hiện hợp đồng đối với các vi phạm cơ bản; tuy nhiên, quy định tại Điều 293 LTM 2005 dường như bỏ sót trường hợp “trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”, được hiểu là các quy định tại Điều 298 và Điều 299 LTM 2005; nói cách khác, có sự mâu thuẫn giữa khoản 2 Điều 299 và Điều 293 LTM, dẫn tới thiếu sự đồng bộ trong việc điều chỉnh các trường hợp gia hạn thực hiện nghĩa vụ theo các quy định liên quan.

2005 Ngược lại, khi xem xét việc gia hạn nghĩa vụ tại Điều 298 LTM 2005, nếu biện pháp này không có tác dụng phá vỡ nguyên tắc đã được nêu ở trên, thì rõ ràng khoản 2 Điều 299 LTM vẫn áp dụng.

Năm 2005 đã bỏ sót cụm từ “nếu đáp ứng các điều kiện của các chế tài đó” và hiểu theo cách này cũng sẽ là không phù hợp với các quy định quốc tế tác giả đã nêu, đồng thời đi ngược với thực tiễn thương mại khi một bên đã dùng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng nhưng không mang lại hiệu quả như mong đợi; họ có quyền tìm kiếm một giải pháp khác, thậm chí là hủy bỏ hợp đồng khi bên kia đã không có thiện chí hoặc hoàn toàn không có khả năng thực hiện 30.

Hệ quả pháp lý của việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Việc xem xét hệ quả pháp lý của việc áp dụng chế tài BTHĐHĐ và nhận diện các hệ quả do chế tài này gây ra không chỉ giúp đánh giá mối quan hệ giữa chế tài BTHĐHĐ với các chế tài khác trong thương mại mà còn hỗ trợ nghiên cứu sâu hơn về khung pháp lý thực thi hợp đồng Chế tài BTHĐHĐ có chức năng cơ bản là bảo đảm hợp đồng được thực hiện, nên việc áp dụng chế tài này không tác động đến hiệu lực của hợp đồng Các thỏa thuận ban đầu trong hợp đồng vẫn là căn cứ để xác định các vấn đề pháp lý liên quan và quyền, nghĩa vụ của các bên.

Trong trường hợp bên bị vi phạm áp dụng chế tài bằng cách yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng và gia hạn một khoảng thời gian hợp lý để bên vi phạm khắc phục vi phạm, thời hạn theo hợp đồng vẫn là mốc để tính thời hạn khiếu nại, thời hiệu khởi kiện, thiệt hại xảy ra và lãi suất chậm trả Chỉ khi hai bên cùng nhau đạt được thỏa thuận gia hạn thêm về thời hạn thì thời hạn mới này mới trở thành mốc tính thời hạn khiếu nại và thời hiệu khởi kiện.

Trong khi đó, nếu bên bị vi phạm áp dụng các biện pháp khác để thực hiện hợp đồng, các yếu tố như số tiền chênh lệch, chi phí liên quan và chi phí thực tế hợp lý sẽ được xác định dựa trên những thỏa thuận trong hợp đồng và điều kiện thực tế phát sinh Chẳng hạn, khi có sự chênh lệch giá hoặc chi phí phát sinh từ việc thực hiện biện pháp khắc phục, các khoản này sẽ phải phù hợp với các điều khoản đã thỏa thuận giữa hai bên và được xem xét trên cơ sở chi phí thực tế hợp lý để đảm bảo tính công bằng và hiệu lực của hợp đồng.

30 Nguyễn Thị Hoa (2015), Chế tài hủy bỏ hợp đồng thương mại, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật, trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh, tr.23

31 Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, tlđd (9), tr.460

Hai bên ký kết hợp đồng cung ứng dịch vụ với tổng giá trị A Tuy nhiên, bên cung ứng không thực hiện đúng nghĩa vụ nên bên nhận dịch vụ phải thuê một bên thứ ba để thực hiện công việc với chi phí B, cao hơn giá trị A của hợp đồng Trong trường hợp này, bên vi phạm phải thanh toán cho bên bị thiệt hại khoản chênh lệch B − A, căn cứ vào nội dung thỏa thuận trong hợp đồng ban đầu giữa hai bên.

Khoản 4 Điều 297 của hợp đồng LTM 2005 quy định về nghĩa vụ của bên bị vi phạm khi bên vi phạm khắc phục vi phạm: sau khi bên vi phạm đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo yêu cầu của bên bị vi phạm, bên bị vi phạm phải nhận hàng, nhận dịch vụ và thanh toán tiền hàng, thù lao dịch vụ.

Ý nghĩa của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Ý nghĩa đối với nền kinh tế: Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài và giao lưu, hợp tác thông qua các hợp đồng kinh tế đóng vai trò then chốt cho tăng trưởng và ổn định kinh tế Luật Thương mại năm 2005 quy định các chế tài trong hợp đồng thương mại, tạo khuôn khổ pháp lý và cơ chế thi hành rõ ràng, qua đó tăng cường tính ràng buộc và tin cậy cho các đối tác nước ngoài, đồng thời nâng cao hiệu quả của các hoạt động hợp đồng và hợp tác kinh tế.

“đảm bảo” cho các bên giao kết các hợp đồng thương mại Ý nghĩa đối với các bên trong hợp đồng thương mại: đây là chế tài có ý nghĩa vô cùng quan trọng, thông qua bản chất của chế tài là buộc các bên tham gia hợp đồng tuân thủ các cam kết đã đưa ra vào thời điểm giao kết hợp đồng, từ đó các nghĩa vụ trong hợp đồng thương mại được thực hiện, mục đích giao kết hợp đồng đạt được Các bên có thể an tâm khi giao kết hợp đồng thương mại, bởi nếu không có thỏa thuận hay trường hợp miễn trách khác thì bất cứ hành vi vi phạm của bên còn lại đều có thể là điều kiện để áp dụng chế tài BTHĐHĐ Ngoài ra, việc cho phép áp dụng chế tài BTHĐHĐ theo cách thức thứ hai – bên bị vi phạm sử dụng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện trong rất nhiều trường hợp sẽ giúp giảm thiểu những thiệt hại không đáng có Chẳng hạn, A và B giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, A cung cấp hàng hóa cho B, B sử dụng hàng hóa đó tiến hành việc chế biến để cung cấp cho một đối tác nước ngoài là C Việc A vi phạm nghĩa vụ giao hàng dẫn đến việc B không có nguyên liệu sản xuất để cung cấp cho C có thể dẫn đến nguy cơ B vi phạm hợp đồng với C và phải gánh chịu các khoản phạt vi phạm hay bồi thường thiệt hại Lúc này, cho phép B quyền mua hàng hóa từ một bên thứ ba để có nguyên liệu sản xuất, giao hàng cho C sẽ giúp giảm thiểu các khoản phạt hay bồi thường thiệt hại không đáng có mà A chỉ phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan.

32 Số liệu thống kê từ Tổng cục thống kê cho thấy năm 2020 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 543,9 tỷ USD, thu hút vốn đầu tư nước ngoạt đạt 28,53 tỉ USD

Chế tài BTHĐHĐ là một trong những chế tài trong thương mại, thường được sử dụng để giải quyết các vi phạm nghĩa vụ trong các hợp đồng thương mại Trong Chương 1, tác giả làm rõ khái niệm chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng từ các góc độ lý luận và quy định của pháp luật, từ đó định hình vai trò của chế tài này trong thực thi hợp đồng và bảo vệ quyền lợi các bên tham gia hợp đồng thương mại.

Chế tài BTHĐHĐ có các đặc điểm cơ bản là chủ thể áp dụng chế tài là các bên trong hợp đồng thương mại Đây là chế tài căn bản nhất để bảo vệ quan hệ hợp đồng và đảm bảo tính ràng buộc giữa các bên Chế tài này có thể được áp dụng đồng thời với các chế tài khác trong thương mại nhằm tăng cường hiệu quả xử lý vi phạm và cân bằng quyền lợi giữa các bên.

Chương 1 trình bày khái quát quá trình hình thành và phát triển chế tài BTHĐHĐ trong pháp luật Việt Nam và nêu các trường hợp được miễn áp dụng chế tài này theo quy định của LTM 2005; bên cạnh đó, tác giả mở rộng vấn đề bằng cách phân tích các quy định của LTM 2005 và so sánh với một số văn bản pháp luật quốc tế để làm rõ giới hạn khi áp dụng chế tài, từ đó đề xuất bổ sung các quy định về giới hạn việc áp dụng chế tài BTHĐHĐ nhằm tăng tính phù hợp và đồng bộ với hệ thống pháp luật quốc tế.

Trong Chương 1, tác giả phân tích vấn đề gia hạn thực hiện nghĩa vụ khi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng (BTHĐHĐ) và nhận diện một số thiếu sót của quy định pháp luật liên quan, đồng thời trình bày hệ quả pháp lý của việc áp dụng chế tài này, cho thấy việc áp dụng chế tài BTHĐHĐ không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng.

Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là một trong những chế tài quan trọng nhất trong lĩnh vực thương mại, thể hiện vai trò bắt buộc và tính đáng tin cậy của các cam kết trong giao dịch Ý nghĩa của chế tài này được thể hiện thông qua vai trò của nó đối với quan hệ giữa các bên tham gia hợp đồng thương mại và ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế Việc thực thi đúng hợp đồng mang lại sự ổn định cho thị trường, giảm rủi ro cho doanh nghiệp và thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển bền vững.

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG

Thực trạng pháp luật về điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

2.1.1 Thực trạng quy định pháp luật về điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quy định tại Điều 297 LTM 2005 được áp dụng khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: (i) có hành vi vi phạm hợp đồng; (ii) hợp đồng bị vi phạm là hợp đồng có hiệu lực; và (iii) không thuộc các trường hợp miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ Nội dung miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ đã được trình bày tại Mục 1.3, Chương 1 của khóa luận.

Điều kiện để xác định hành vi vi phạm hợp đồng không chỉ là nền tảng của chế tài bắt buộc thực hiện đúng hợp đồng mà còn là phần của các chế tài trong lĩnh vực thương mại Theo khoản 12 Điều 3 LTM 2005, vi phạm hợp đồng được định nghĩa là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này Dựa trên định nghĩa trên, vi phạm hợp đồng có thể biểu hiện ở ba dạng chính: (i) hành vi không thực hiện nghĩa vụ, (ii) hành vi thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, và (iii) hành vi thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Vi phạm hợp đồng xảy ra khi một bên không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của luật thương mại, và vì vậy được xem là hành vi vi phạm hợp đồng Về bản chất, phạm vi vi phạm không chỉ giới hạn ở các thỏa thuận trong hợp đồng thương mại mà còn mở rộng ra các quy định của luật thương mại Nói một cách khác, hành vi vi phạm hợp đồng không chỉ là vi phạm các cam kết và điều khoản trong hợp đồng mà còn có thể là vi phạm các nghĩa vụ phát sinh từ các quy định của pháp luật liên quan đến hợp đồng đó.

Xem xét cụ thể từng dạng thể hiện của hành vi vi phạm:

Hành vi không thực hiện nghĩa vụ là hình thức vi phạm hợp đồng ở dạng không hành động Theo đó, bên vi phạm không tiến hành thực hiện các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng và theo các quy định của LTM Ví dụ, bên bán không giao hàng hóa; bên cung ứng dịch vụ không tiến hành cung cấp dịch vụ hoặc không thực hiện công việc cho bên nhận dịch vụ Đối với bên mua, hành vi vi phạm điển hình là không nhận hàng hóa và/hoặc không thanh toán tiền hàng, tiền dịch vụ, hoặc từ chối nhận hàng hóa và/hoặc từ chối nhận cung ứng dịch vụ.

Việc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ là hành vi vi phạm hợp đồng ở dạng không hành động đầy đủ; dù đã thực hiện một phần nghĩa vụ, bên vi phạm vẫn không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ còn lại Đối với bên bán, vi phạm này thể hiện khi giao hàng hóa nhưng không đảm bảo đúng số lượng hoặc khối lượng đã thỏa thuận; đối với bên mua, vi phạm được thể hiện ở việc thanh toán không đủ tiền hàng hóa và chi phí cung ứng dịch vụ.

Hành vi thực hiện không đúng nghĩa vụ là dạng vi phạm ở hình thức hành động, khi bên vi phạm đã tiến hành thực hiện nhưng không đúng nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng Đối với bên bán, hành vi này có thể là giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, hoặc giao hàng hóa không đúng thời gian và địa điểm đã thoả thuận Trong khi đó, đối với bên mua, hành vi này có thể là việc bên nhận cung ứng cung cấp sai thông tin cần thiết cho bên bán hoặc cho bên cung ứng dịch vụ.

Về vi phạm hợp đồng, LTM 2005 chia thành hai loại: vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ bản Vi phạm cơ bản là hành vi vi phạm của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho mục đích giao kết hợp đồng không đạt được Ngược lại, vi phạm không cơ bản tuy không làm mất đi mục tiêu chính của hợp đồng nhưng vẫn được xem là vi phạm và có mức độ ảnh hưởng nhẹ hơn.

37 Nguyễn Thị Dung (chủ biên) và tập thể giảng viên bộ môn Luật Thương mại đại học Luật Hà Nội (2017),

Luật Kinh tế, NXB Lao Động, tr 685

Theo định nghĩa số 28 của LTM 2005, vi phạm hợp đồng có thể được hiểu là một vi phạm nhưng không rơi vào dạng vi phạm cơ bản, tức là sự vi phạm của một bên không làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng LTM 2005 cũng không quy định trực tiếp điều kiện để coi một hành vi vi phạm hợp đồng là căn cứ áp dụng chế tài Do đó, câu hỏi liệu BTHĐHĐ có bắt buộc phải là vi phạm cơ bản hay không vẫn chưa được làm rõ trong văn bản hiện hành.

Theo Điều 293 Luật Thương mại 2005 về chế tài trong thương mại đối với vi phạm không cơ bản, các chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng chỉ được áp dụng khi hai bên không có thỏa thuận khác; điều này ngụ ý rằng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng không bị giới hạn ở vi phạm không cơ bản và có thể áp dụng đối với mọi vi phạm hợp đồng, trừ khi các bên có thỏa thuận khác Tác giả đồng ý với cách hiểu này Bản chất của chế tài là buộc thực hiện đúng hợp đồng, nên khi nghĩa vụ bị vi phạm dẫn tới sự sai lệch so với nghĩa vụ hợp đồng dù ở mức độ nào, vẫn được coi là vi phạm và có thể áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng Ví dụ, hành vi không thanh toán một phần tiền trong giao dịch mua bán hàng hóa (không thanh toán 1% số tiền) dù mục đích giao kết hợp đồng của bên bán đã được đáp ứng ở mức 99% vẫn nên và phải xem xét để áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng nhằm bảo vệ quyền lợi của bên bán.

Theo Điều 297 LTM 2005 quy định chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, nhằm xử lý các hành vi thực hiện không đúng hợp đồng và buộc các bên khắc phục để hợp đồng được thi hành đầy đủ Đối với bên bán hàng hoặc bên cung cấp dịch vụ, phổ biến là giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng, đồng thời có thể gặp tình trạng giao hàng và cung ứng dịch vụ thiếu sót hoặc kém chất lượng Ngược lại, các vi phạm của bên mua thường là không trả tiền, không nhận hàng và các nghĩa vụ khác của bên mua được quy định trong hợp đồng và trong LTM 2005.

Có ý kiến cho rằng khái niệm "vi phạm hợp đồng" với nội hàm hiện tại chưa đủ để xác định và buộc thực hiện đúng hợp đồng Theo quan điểm này, nên dùng thuật ngữ "không thực hiện đúng hợp đồng" thay cho "vi phạm hợp đồng" để phản ánh đúng bản chất hành vi và nâng cao tính thực thi trong quá trình xác định nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng.

39 Đỗ Văn Đại (2010), tlđd (8), tr.25 – tr.29

Quan điểm này cho thấy có những trường hợp thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” không phù hợp, chẳng hạn khi một bên “chậm thực hiện” nghĩa vụ, vì Điều 12 Khoản 3 LTM 2005 quy định vi phạm hợp đồng là hành vi “không thực hiện”, “thực hiện không đầy đủ” hoặc “thực hiện không đúng nghĩa vụ”; tuy nhiên, tác giả công trình nêu trên nhìn nhận từ góc độ so sánh luật và cho rằng xu hướng hiện nay trên thế giới là không dùng thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” mà thay bằng “không thực hiện đúng”; tuy nhiên, quan điểm của khóa luận cho rằng nên duy trì thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” thay vì “không thực hiện đúng hợp đồng”, bởi các trường hợp như “chậm thực hiện” đã là việc “không thực hiện đúng nghĩa vụ” và nếu thời hạn thực hiện đã được xác định mà bên vi phạm lại thực hiện chậm thì đã vi phạm nghĩa vụ đã đặt ra; bên cạnh đó, cần xem xét bản chất của từ “không đúng” tại Khoản 12 Điều 3 LTM là bất cứ sự sai khác nào về nghĩa vụ so với những thỏa thuận trong hợp đồng và những nghĩa vụ là hệ quả của hợp đồng; tham khảo quy định PICC 2004 của Unidroit tại Điều 7.1.1 định nghĩa.

Vi phạm hợp đồng xảy ra khi một bên không thực hiện một nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, hoặc thực hiện không đúng nội dung, hoặc thực hiện chậm trễ Hành vi này làm giảm hiệu lực của cam kết và gây thiệt hại cho các bên liên quan, đồng thời có thể dẫn tới trách nhiệm bồi thường thiệt hại và các biện pháp khắc phục theo quy định pháp luật.

Quy định trong PICC 2004 dùng thuật ngữ "không thực hiện hợp đồng" để chỉ các vi phạm như "thực hiện chậm trễ" và "thực hiện không đúng hợp đồng" Theo quan điểm của tác giả, cách diễn đạt này không phù hợp vì "thực hiện không đúng hợp đồng" có thể là một hành động, nhưng lại nằm trong nội hàm của khái niệm "không thực hiện hợp đồng" ở dạng không hành động Do đó, sự phân loại theo PICC 2004 có thể làm lu mờ bản chất của vi phạm hợp đồng và gây nhầm lẫn về phạm vi trách nhiệm khi một hành vi vi phạm đồng thời mang yếu tố hành động nhưng được xem như không thực hiện hợp đồng.

Điều kiện để xem một vi phạm hợp đồng là có hợp đồng còn hiệu lực Đây là yếu tố căn bản để bên bị vi phạm nghĩa vụ hợp đồng có thể áp dụng các chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng Bởi lẽ, hợp đồng là căn cứ xác lập quan hệ hợp đồng giữa các bên; nếu hợp đồng bị vi phạm và không còn hiệu lực, tức là không tồn tại nghĩa vụ theo hợp đồng giữa các bên (bao gồm nghĩa vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng và nghĩa vụ phát sinh từ các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng đó) thì không thể cho rằng một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng để áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được.

Thực trạng pháp luật về cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

2.2.1 Thực trạng quy định pháp luật về cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Mặc dù tên gọi của chế tài là “buộc thực hiện đúng hợp đồng” có thể tạo ra hiểu nhầm rằng đây chỉ là chế tài bắt buộc bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng khắc phục vi phạm của mình, tuy nhiên giới hạn của chế tài BTHĐHĐ còn mở rộng ra với việc bên bị vi phạm có thể áp dụng các biện pháp nhằm khắc phục vi phạm và bên vi phạm phải có nghĩa vụ gánh chịu những chi phí, tổn thất mà bên vi phạm đã phải thực hiện để tiến hành việc khắc phục đó LTM 2005 quy định hai cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng khác nhau: Cách thứ nhất là bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng và cách thứ hai là bên vi phạm dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện Sau đây tác giả đi vào phân tích từng cách thức áp dụng chế tài này.

2.2.1.1 Bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng

Theo Luật Thương mại 2005, quyền của bên bị vi phạm là yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng, với các yêu cầu tương ứng với từng vi phạm; trường hợp bên vi phạm giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng hoặc cung ứng đúng hợp đồng, còn nếu hàng hóa giao không đạt chất lượng hoặc dịch vụ không đáp ứng yêu cầu thì phải khắc phục bằng cách loại bỏ khuyết tật, sửa chữa hoặc thay thế bằng hàng hóa, dịch vụ phù hợp Khoản 2 Điều 297 Luật Thương mại 2005 liệt kê hai hành vi vi phạm của bên bán là (i) giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng; (ii) giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ kém chất lượng, nội dung yêu cầu khi áp dụng chế tài phù hợp với hai nhóm vi phạm này Tuy nhiên cách quy định theo danh sách này còn có thiếu sót, vì nó chỉ tập trung vào nghĩa vụ giao hàng, cung ứng dịch vụ phù hợp hợp đồng mà bỏ sót các trường hợp bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng, cung ứng đúng thời gian và địa điểm Hơn nữa, quy định này không bao quát hết các trường hợp giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng khi chỉ đề cập tới vi phạm liên quan đến chất lượng hàng hóa (được ghi nhận tại điểm c khoản 1 Điều 39 Luật Thương mại 2005) mà bỏ sót các vi phạm khác về hàng hóa phù hợp với hợp đồng.

Trong trường hợp bên vi phạm là bên mua, Khoản 5 Điều 297 LTM 2005 quy định bên bán có quyền yêu cầu bên mua thanh toán, nhận hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác của bên mua được quy định trong hợp đồng và trong LTM 2005 Các nghĩa vụ của bên mua được quy định cụ thể tại Điều 44 (nghĩa vụ kiểm tra hàng hóa), Điều 50 (nghĩa vụ thanh toán), Điều 56 (nghĩa vụ nhận hàng) và Điều 85 (nghĩa vụ của khách hàng trong hợp đồng cung ứng dịch vụ), bao gồm cả nghĩa vụ thanh toán tiền cung ứng dịch vụ và nghĩa vụ cung cấp kịp thời các kế hoạch, chỉ dẫn và chi tiết khác để dịch vụ được thực hiện không bị trì hoãn hay gián đoạn Cách quy định đối với vi phạm của bên mua và quyền của bên bán khi áp dụng chế tài được thể hiện rõ trong các điều khoản liên quan, đảm bảo bên bán có cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi và xử lý vi phạm của bên mua.

42 Điểm c khoản 1 Điều 39 LTM 2005: “Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hoá mà bên bán đã giao cho bên mua”

43 Các vi phạm khác được nêu ở đây liên quan đến hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, thuộc điểm a, b, d khoản 1 Điều 39 LTM 2005 Cụ thể, các trường hợp này gồm: (a) hàng hóa không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của cùng loại hàng hóa; (b) hàng hóa không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng; và (d) hàng hóa không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hóa đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hóa trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường.

Việc điều chỉnh các quy định về vi phạm hợp đồng giữa bên bán và bên mua được xem là hợp lý và đầy đủ hơn so với cách quy định hiện hành Theo đó, vi phạm của bên mua được căn cứ vào các nghĩa vụ mà họ phải thực hiện theo hợp đồng và theo Luật Thương mại năm 2005, từ đó bên bán có quyền yêu cầu bên mua thực hiện đúng hợp đồng dựa trên những nghĩa vụ ấy Tuy nhiên, quy định tại khoản 5 Điều 297 Luật Thương mại 2005 vẫn còn bỏ sót những trường hợp mà bên mua, dù không vi phạm các nghĩa vụ được quy định trong Luật Thương mại, lại bị xem là vi phạm theo những hoàn cảnh cụ thể khác.

Như đã nêu ở mục 2005, hợp đồng này không vi phạm những nghĩa vụ được ghi nhận trong hợp đồng nhưng lại vi phạm những nghĩa vụ khác, chẳng hạn như những nghĩa vụ mà các bên mặc nhiên thừa nhận hoặc những nghĩa vụ là tập quán thương mại áp dụng cho các hợp đồng thương mại trong lĩnh vực này.

Xem xét quy định của PICC 2004 tại các Điều 7.2.1 và 7.2.2 cho thấy chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng dựa trên nội dung vi phạm; đối với vi phạm nghĩa vụ thanh toán, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ thanh toán; với vi phạm nghĩa vụ phi tiền tệ, bên có quyền yêu cầu thực hiện các nghĩa vụ phi tiền tệ tương ứng Theo tác giả, để hoàn thiện các quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều 297 LTM 2005, cách quy định của PICC 2004 là một hướng tham khảo đáng cân nhắc bởi tính cô đọng, súc tích mà vẫn bao quát được mọi trường hợp vi phạm và quyền yêu cầu khắc phục tương ứng.

Vấn đề thể hiện "yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng" được đặt ra vì LTM 2005 chưa quy định rõ hình thức và thời hạn cụ thể của yêu cầu này; về hình thức thể hiện, nó có thể được diễn đạt dưới dạng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể, tương tự như hình thức thể hiện của hợp đồng thương mại hay các thỏa thuận miễn trách nhiệm Bản chất của yêu cầu này là một hành vi pháp lý đơn phương gắn với nghĩa vụ của bên vi phạm phải khắc phục vi phạm, do đó hình thức thể hiện nên được thể hiện bằng văn bản để thuận tiện chứng minh khi có tranh chấp Ngoài ra, việc khởi kiện của bên bị vi phạm yêu cầu Tòa án buộc bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng liệu có phải là một trong các hình thức thể hiện của cách thức nêu trên hay không? Theo tác giả, việc khởi kiện yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng được xem là một trong các hình thức thể hiện của “yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng”; theo đó, bên bị vi phạm thể hiện yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng thông qua “đơn khởi kiện” trong đó có nội dung.

44 Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

Các vấn đề cụ thể mà Tòa án cần giải quyết đối với bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là những nội dung then chốt được nêu trong bài viết Về thời hạn thực hiện, tác giả đề xuất tham khảo quy định của PICC tại điểm e Điều 7.2.2 về trường hợp giới hạn áp dụng chế tài BTHĐHĐ, theo đó bên bị vi phạm được bắt buộc thực hiện yêu cầu khắc phục trong một thời hạn hợp lý.

Điều 46 của LTM 2005 quy định bên vi phạm không được giao hàng hóa khác chủng loại hoặc loại dịch vụ khác để thay thế nếu không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm Quy định này làm nổi bật yếu tố bắt buộc thực hiện đúng hợp đồng trong chế tài này Bởi vì nếu bên bị vi phạm từ chối biện pháp khắc phục bằng giao hàng hóa khác chủng loại hoặc loại dịch vụ khác, hành vi vi phạm được coi là không đúng hợp đồng; ngược lại, nếu bên bị vi phạm đồng ý với biện pháp thay thế, lúc ấy hợp đồng được coi là đã được thực hiện đầy đủ thông qua sự đồng ý đó.

“thay đổi” và khi ấy sẽ có thể coi như là đúng theo “hợp đồng mới”

2.2.1.2 Bên vi phạm dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện

Khoản 3 Điều 297 LTM 2005 nêu ra cách thức thứ hai để thực hiện chế tài BTHĐHĐ Đó là việc bên bị vi phạm sử dụng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện LTM 2005 không xác định rõ thứ tự thực hiện của cách thức này so với việc yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng Tuy nhiên, dựa vào câu chữ tại khoản 3 Điều 297 LTM 2005 có thể nhận thấy rằng tinh thần của điều luật là việc áp dụng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện được áp dụng sau khi đã áp dụng việc đề nghị bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng Cụ thể, điều kiện để áp dụng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện đó là bên vi phạm không khắc phục vi phạm tại khoản 2 Điều 297 mặc dù đã được yêu cầu (tức là dù đã được yêu cầu khắc phục vi phạm nhưng bên vi phạm vẫn không tiến hành các hành vi thực hiện đúng hợp đồng như giao đủ hàng, cung ứng đúng dịch vụ, loại trừ khuyết tật của hàng hóa, dịch vụ, giao hàng thay thế,…) Ngoài ra, khi áp dụng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện thì bên bị vi phạm vẫn phải có nghĩa vụ thông báo cho bên vi phạm biết Bởi lẽ, “hành vi vi phạm của một bên không loại trừ nghĩa vụ thông tin của bên kia và cũng không vô hiệu hóa nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng” 47

Việc quy định hai cách thức áp dụng chế tài BTHĐHĐ tại Điều 297 LTM 2005 dẫn đến các cách hiểu khác nhau về việc áp dụng hai cách thức này Cách hiểu thứ nhất cho rằng LTM 2005 không ưu tiên bất cứ cách thức nào trong việc áp dụng chế tài, nghĩa là hai phương thức có giá trị bình đẳng và được lựa chọn tùy theo từng hoàn cảnh Cách hiểu thứ hai cho rằng có sự ưu tiên hoặc có thứ tự áp dụng giữa hai cách thức, khiến cơ quan có thẩm quyền cân nhắc lựa chọn một phương thức nhất định nhằm đạt được hiệu quả xử lý và mục tiêu của chế tài được đề ra.

45 Điểm g khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

47 Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, tlđd (9), tr.459

Có hai cách hiểu về LTM 2005: cách hiểu thứ nhất cho rằng LTM 2005 ưu tiên áp dụng cách thức thứ nhất Theo cách hiểu này, vì LTM 2005 dùng từ nối “hoặc” để nối hai cách thức áp dụng chế tài BTHĐĐ nên Luật cho phép bên bị vi phạm có quyền chọn yêu cầu BTHĐĐ hoặc biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện mà không phải tiến hành các cách thức này theo trình tự 48 Tuy nhiên, tác giả khóa luận cho rằng lập luận này không hợp lý, bởi khoản 3 Điều 297 LTM đã có nội dung mang ý nghĩa tương tự với việc sắp xếp thứ tự áp dụng các cách thức; cụ thể là “trường hợp bên vi phạm không thực hiện theo quy định tại khoản 2” thì “bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ…”, và quy định tại khoản 2 là dẫn giải cho cách thức thứ nhất (yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng), quy định tại khoản 3 mang tính chất dẫn giải cho cách thức thứ hai (sử dụng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện) Và như vậy, mặc dù không minh thị, LTM có quy định thể hiện tinh thần áp dụng cách thứ nhất trước tiên.

Xem xét các biện pháp mà bên bị vi phạm có thể áp dụng cho cách thức thứ hai, LTM 2005 quy định bên bị vi phạm có quyền mua hàng hóa hoặc nhận cung ứng dịch vụ từ bên thứ ba để thay thế đúng loại hàng hóa, dịch vụ ghi trong hợp đồng, đồng thời cho phép tự sửa chữa khuyết tật của hàng hóa hoặc thiếu sót của dịch vụ; quy định này nhằm ngăn tình trạng bên bị vi phạm lợi dụng chế tài BTHĐHĐ để gây khó khăn cho bên vi phạm Tuy nhiên, khi áp dụng biện pháp mua hàng hóa hoặc nhận cung ứng từ bên thứ ba, bên mua và bên nhận cung ứng phải đảm bảo đúng loại hàng hóa, dịch vụ ghi trong hợp đồng; vẫn tồn tại hạn chế khi hàng hóa, dịch vụ mang tính đặc định cao hoặc có những tính chất mà chỉ bên bán mới có thể cung cấp, khiến bên bị vi phạm vẫn có nghĩa vụ và bên bị vi phạm không thực hiện, để bảo đảm cho sản xuất, kinh doanh bên bị vi phạm nên được phép dùng hàng hóa, dịch vụ “không hoàn toàn đúng với hợp đồng” từ nguồn cung cấp thứ ba Tác giả đề xuất nên vận dụng hoặc dẫn chiếu các quy định về “hàng hóa phù hợp với hợp đồng” để cho phép bên bị vi phạm thực hiện quyền của mình, ví dụ như khi hợp đồng mua bán có các tính chất A, B, C (C do bên bán đáp ứng) nhưng bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng, bên mua có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ hoặc tìm nguồn thay thế phù hợp từ bên thứ ba.

48 Mã Thị Bích Mai, tlđd (14), tr.20

Trong 37 vụ và các trường hợp gia hạn đồng thời, bên bán vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình Do đó, nên cho phép bên bán mua hàng hóa từ bên thứ ba, miễn là bên mua đã thông báo cho bên bán và hàng hóa từ bên thứ ba đáp ứng các điều kiện A, B và C’; C’ được đánh giá là phù hợp và có khả năng thay thế cho C.

Ngày đăng: 15/04/2022, 18:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w