Phần 10 của cuốn sách viết bởi tác giả Peter Huber đã cung cấp những phân tích sâu sắc về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng qua các khía cạnh: vi phạm hợp đồng, bảo hộ pháp luật quốc
ÁP DỤNG CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG
Điều kiện chung cho việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
CISG nổi tiếng với số lượng thành viên lớn và sự đa dạng của hệ thống pháp luật được áp dụng Các quy định của CISG được áp dụng phổ biến kể cả giữa các thương nhân từ các quốc gia không là thành viên Công ước Vienna, minh chứng bằng khối lượng án lệ lớn áp dụng Công ước này Khi một bên vi phạm hợp đồng, bên bị thiệt hại có thể lựa chọn nhiều chế tài để bồi đắp tổn thất, như hủy bỏ hợp đồng, tìm đối tác khác, yêu cầu bồi thường thiệt hại, hoặc đòi giảm giá và lãi suất chậm trả Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, bồi thường thiệt hại, hủy bỏ hợp đồng hoặc các chế tài khác không thể bù đắp hết những thiệt hại hay đáp ứng đầy đủ mong muốn ban đầu khi giao kết Buộc thực hiện đúng hợp đồng theo CISG cho thấy ưu thế ở những tình huống bên có quyền muốn duy trì mối quan hệ hợp đồng và quyền được hưởng không thể được thay thế bằng bất cứ biện pháp khắc phục hay chế tài nào khác.
CISG không quy định theo cách liệt kê các chế tài được phép áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng như không tập trung các điều kiện áp dụng và ràng buộc của mỗi chế tài; thay vào đó, hệ thống điều luật của CISG được cấu trúc từ các điều luật nằm khá rời rạc nhưng liên kết chặt chẽ với nhau Điều 46(1) và Điều 62 cho phép bên mua và bên bán yêu cầu bên kia thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng Ngoài quyền buộc thực hiện đúng hợp đồng nói chung, bên mua trong các trường hợp cụ thể còn có thể yêu cầu sửa chữa hàng hóa khiếm khuyết hoặc yêu cầu giao hàng thay thế nếu vi phạm của bên bán cấu thành vi phạm cơ bản Việc áp dụng các chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng gắn với các điều kiện nhất định và các ràng buộc được trình bày liên quan đến các trường hợp cụ thể.
- Chứng minh tồn tại vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và tính hợp lý của yêu cầu;
- Thông báo cho bên kia theo đúng quy định tại Điều 39;
- Nghĩa vụ không đƣợc miễn trừ do bất khả kháng (Điều 79) hoặc do hoàn cảnh thay đổi cơ bản (hard ship);
- Bên có quyền không áp dụng các chế tài mâu thuẫn;
As of December 2016, more than 4,500 CISG-related cases had been resolved, reflecting the extensive application of the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods in international trade For a comprehensive overview of CISG case law, consult the Digest of Case Law on the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG Digest 2016) at http://www.uncitral.org/pdf/english/clout/CISG_Digest_2016.pdf, last accessed on 14 July 2017.
- Không bị từ chối áp dụng theo Điều 28;
- Thời hạn bổ sung hợp lý cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên vi phạm;
- Nghĩa vụ hạn chế tổn thất theo Điều 77; và
- Vi phạm cơ bản trong trường hợp cụ thể theo Điều 25 và Điều 46(2)
1.1.1 Vi phạm của một bên
Trong quan hệ hợp đồng, vi phạm của một bên là điều kiện cơ bản để xác định chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng Để yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng cam kết, bên bị vi phạm trước hết phải chứng minh sự tồn tại của nghĩa vụ được thể hiện trong hợp đồng và việc bên kia đã vi phạm nghĩa vụ đó.
Tiền thân của CISG là ULIS (Công ước về luật hợp đồng mua bán quốc tế thống nhất), quy định điều kiện khá chặt chẽ cho quyền buộc thực hiện đúng hợp đồng của bên mua; theo Điều 25 ULIS, bên mua nếu có thể mua hàng hóa thay thế trong khả năng hợp lý và phù hợp với tập quán thì không có quyền buộc bên bán thực hiện đúng hợp đồng Tuy nhiên, khi CISG chính thức ra đời, Công ước đã không còn giới hạn quyền này chỉ dành cho bên mua hay quy định áp đặt điều kiện thực hiện như trước đó nữa; vi phạm hợp đồng của một bên, bất kể bên bán hay bên mua, trở thành căn cứ để bên còn lại thực thi quyền yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng.
CISG không đưa ra định nghĩa cụ thể về vi phạm hợp đồng, nhưng theo cách hiểu từ các chế tài như buộc thực hiện đúng hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng và bồi thường thiệt hại, vi phạm hợp đồng được hiểu là mọi hành vi không tuân thủ cam kết, bất kể đó là nghĩa vụ chính hay phụ, kể cả những trường hợp được miễn trách nhiệm Hiểu rõ các dạng vi phạm hợp đồng là bước cơ bản để nhận diện điều kiện và cơ chế áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo CISG, từ đó xác định phạm vi áp dụng và mức bồi thường trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế.
Theo CISG, hợp đồng mua bán hàng hóa quy định bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền và nhận hàng, còn bên bán có nghĩa vụ giao hàng, giao chứng từ và chuyển giao quyền sở hữu cho bên mua Bất kỳ hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ trên—ví dụ bên mua thanh toán không thanh toán, thanh toán chậm, thanh toán thiếu, không nhận hàng, hoặc bên bán giao hàng chậm, giao hàng thiếu, giao hàng không phù hợp, giao chứng từ không đúng hoặc việc chuyển giao quyền sở hữu không đúng—đều là vi phạm hợp đồng Trên cơ sở các vi phạm này, Điều 46 và Điều 62 CISG cho phép bên còn lại buộc bên kia thực hiện đúng hợp đồng hoặc đòi bồi thường thiệt hại phát sinh từ vi phạm.
Nhƣ vậy, vi phạm hợp đồng với tính chất là cơ sở để yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng, có thể đƣợc chia làm 4 nhóm chính:
7 UNCITRAL (1977), "Report of the Committee of the Whole I Relating to the draft Convention on the International Sale of Goods", UNCITRAL Yearbook, VIII, tr 42
8 Điều 53 CISG: “Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng theo quy định của hợp đồng và của Công ƣớc này”
Điều 30 CISG quy định nghĩa vụ của bên bán gồm ba nội dung chính: giao hàng đúng hợp đồng, giao các chứng từ liên quan đến hàng hóa và chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho người mua, tất cả được thực hiện theo đúng quy định của hợp đồng và của Công ước này.
(1) Không thực hiện nghĩa vụ;
(2) Chậm thực hiện nghĩa vụ;
(3) Thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ; và
(4) Thực hiện nghĩa vụ không phù hợp
Việc không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng được thể hiện qua thực tế bên bán không giao hàng, không giao chứng từ và không chuyển giao quyền sở hữu cho bên mua; ngược lại bên mua có thể không thanh toán hoặc không nhận hàng Trong vụ án “đồng hồ đeo tay”, hai hợp đồng được ký lần lượt ngày 30 tháng 3 năm 1994 (Bên mua 1) và ngày 15 tháng 5 năm 1994 (Bên mua 2) về phân phối độc quyền đồng hồ đeo tay trên toàn Mexico Tuy nhiên, cho đến tháng 12 năm 2000, bên mua vẫn chưa thực hiện thanh toán cho bên bán Bên bán đã viện dẫn Điều 62 và Điều 78 để yêu cầu bên mua thực hiện đúng hợp đồng bằng cách thanh toán cho bên bán và đồng thời đòi lãi chậm trả 10%.
Khác với các vi phạm khác cùng mức độ, vi phạm không nhận hàng của bên mua thường khiến bên bán không được buộc thực hiện hợp đồng và cơ quan tòa hiếm khi ra phán quyết buộc bên mua nhận hàng; chế tài được áp dụng chủ yếu là hủy bỏ hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại Thực tế, bên bán đã không chọn biện pháp buộc bên mua nhận hàng hóa là “ô tô” khi bên mua cho biết không thể nhận hàng do dao động cực đoan của tỉ giá hối đoái Thay vào đó, bên bán yêu cầu thanh toán tiền bảo lãnh và bồi thường thiệt hại, mặc dù cuối cùng phán quyết của Tòa án là không chấp nhận yêu cầu của bên bán Vụ án “áo khoác Lambskin” là minh chứng cho việc Tòa án đã không đưa ra phán quyết buộc bên mua nhận hàng khi bên mua từ chối nhận hàng hóa không phù hợp và thông báo cho bên bán không đúng thời điểm.
Nhóm thứ (2) tập trung vào các vi phạm chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, trong đó bên bán thể hiện bằng các hành động như chậm giao hàng, chậm giao chứng từ và chậm chuyển giao quyền sở hữu, còn bên mua có thể vi phạm bằng chậm thanh toán hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ nhận hàng Thông thường, dựa trên thiện chí, bên bị vi phạm sẽ gia hạn thêm thời hạn thực hiện nghĩa vụ cho bên kia Tuy nhiên, khi lợi ích kinh doanh bị ảnh hưởng và thiệt hại phát sinh, bên vi phạm sẽ phải đối mặt với các chế tài khác cùng với biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng.
Nhóm thứ (3) mô tả các trường hợp thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ trong giao dịch, được nhận diện qua các dấu hiệu như giao thiếu hàng, giao thiếu chứng từ liên quan hoặc chuyển giao quyền sở hữu không đầy đủ, và nghĩa vụ nhận hàng, thanh toán của bên mua không được thực hiện đầy đủ Cụ thể, giao thiếu hàng có thể là giao 100 chiếc nhưng chỉ giao 80 chiếc trong thời gian đã thỏa thuận; giao thiếu chứng từ hoặc chuyển giao quyền sở hữu không đầy đủ có thể là bán 100 xe ô tô nhưng chỉ chuyển giao quyền sở hữu cho 80 chiếc; bên cạnh đó, nghĩa vụ nhận hàng hoặc thanh toán của bên mua cũng có thể không được thực hiện đầy đủ.
10 Quyết định của Tòa Thương mại Bern (Thụy Sỹ) ngày 22 tháng 12 năm 2004, số HG 02 8934/STH/STC, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/041222s1.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017
11 Quyết định của Tòa Phúc thẩm München (Đức) ngày 08 tháng 02 năm 1995, số 7 U 1720/94, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/950208g1.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017
12 Quyết định của Tòa Thương mại Zürich (Thụy Sỹ) ngày 30 tháng 10 năm 1998, số HG 930634/O, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/981130s1.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017
13 Chi tiết đƣợc trình bày ở mục 1.3.1 Gia hạn thời gian thực hiện nghĩa vụ, tr 24 của đề tài này
9 Đối với nhóm vi phạm hợp đồng số (4), thực hiện nghĩa vụ không phù hợp, thường liên quan đến nghĩa vụ giao hàng hóa phù hợp với hợp đồng của bên bán, sẽ được phân tích rõ hơn ở phần dưới đây
Một vấn đề cần lưu ý liên quan đến việc bên bán giao thiếu chứng từ hoặc giao chứng từ 14 không phù hợp Điều 30 CISG cho thấy ngoài nghĩa vụ giao hàng, bên bán còn có nghĩa vụ giao chứng từ Vậy thì, nếu bên bán vi phạm một trong các nhóm vi phạm vừa nêu thì sao? Bên mua có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa hay thay thế các chứng từ này hay không? Theo tác giả, bên mua không thể viện dẫn quy định tại Điều 46 (2) và 46 (3) để yêu cầu bên bán thay thế hay sửa chữa chứng từ không phù hợp, đơn giản vì các quy định này chỉ áp dụng cho đối tƣợng là hàng hóa Theo quan điểm của tác giả, bên mua trong trường hợp này không mất đi quyền buộc thực hiện đúng hợp đồng mà vẫn có thể viện dẫn Điều 46 (1) - áp dụng cho các trường hợp chung để yêu cầu bên bán thực hiện đúng hợp đồng
Ghi chú: Hợp đồng được xem xét phải thuộc phạm vi áp dụng của CISG Các bên không thỏa thuận từ chối áp dụng CISG và cũng không quy định loại trừ việc áp dụng một số điều khoản liên quan đến chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo CISG.
1.1.2 Thông báo của bên bị vi phạm cho bên vi phạm
Một số vấn đề liên quan đến biến thể của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Yêu cầu giao hàng hóa thay thế và sửa chữa khi hàng hóa không phù hợp với hợp đồng được xem là hai biến thể của quyền của bên mua đối với bên bán nhằm thực hiện đúng hợp đồng Biến thể này tồn tại vì bên mua chỉ có quyền yêu cầu sửa chữa hoặc thay thế khi hàng hóa giao không phù hợp với hợp đồng và kèm theo một số điều kiện khác so với các điều kiện áp dụng khi yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng theo Điều 46(1) Hai trường hợp này được quy định riêng tại hai khoản thuộc Điều 46(1).
43 Quyết định của Tòa Phúc thẩm Hamburg (Đức), ngày 26 tháng 11 năm 1999, số 1 U 31/99 http://www.unilex.info/case.cfm?pid=1&doe&idE0&step=FullText, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017
Bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Hương và Ngô Nguyễn Thảo Vy (2017) phân tích thời hạn thực hiện nghĩa vụ kiểm tra và thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa theo CISG, làm rõ mối liên hệ giữa việc kiểm tra sau khi giao hàng và quyền thông báo nhằm bảo vệ lợi ích của người mua đồng thời duy trì tính ràng buộc của hợp đồng trong thương mại quốc tế Tác giả xem xét các yếu tố như tính chất của hàng hóa, phương thức giao nhận và thực tiễn thương mại để xác định thời hạn hợp lý cho việc kiểm tra và gửi thông báo không phù hợp, từ đó đề xuất khung thời gian linh hoạt nhưng nhất quán với các nguyên tắc của CISG Bài viết nhấn mạnh rằng sự chậm trễ hoặc thiếu kiểm tra và thông báo có thể ảnh hưởng đến quyền đòi lại hàng hóa, sửa chữa hoặc bồi thường, đồng thời gợi ý áp dụng các tiêu chí thực tế để làm rõ thời hạn trong từng trường hợp giao dịch cụ thể.
Đoạn này giới thiệu bài viết "1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế – Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế", được Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 5 năm 2017, trang 80-81 Nội dung tập trung làm rõ trách nhiệm pháp lý phát sinh khi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, bao gồm cơ sở pháp lý, phạm vi bồi thường và các biện pháp khắc phục cho các bên liên quan trong giao dịch thương mại quốc tế Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho người nghiên cứu và thực hành luật thương mại quốc tế, đặc biệt về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
20 Điều 46 (2) đi kèm các quy định liên quan tại Điều 35, Điều 39, Điều 50, Điều 51 CISG
1.2.1 Giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
Vấn đề đầu tiên cần làm rõ trước khi xem xét yêu cầu sửa chữa hoặc thay thế hàng hóa là thế nào được coi là hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Theo Điều 35(1), hàng hóa phù hợp với hợp đồng được xác định dựa trên các tiêu chí: số lượng, chất lượng, bao bì hay đóng gói và những mô tả trong hợp đồng Việc giao hàng hóa không đáp ứng các tiêu chí này được xem là hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Tuy nhiên, trên thực tiễn, một số phán quyết của Tòa án cho thấy các tiêu chí này chỉ được cân nhắc ở mức độ nghiêm trọng để xác định tính không phù hợp Ví dụ vụ án “áo khoác Lamskin” cho thấy thực tế có một số áo khoác được xác nhận là khiếm khuyết, chứ không phải toàn bộ số lượng thỏa thuận ban đầu như cáo buộc của bên mua Số áo khoác khiếm khuyết này được sắp xếp bởi thỏa thuận bổ sung của các bên Do vậy, kể cả khi khiếm khuyết được phát hiện và bên bán phải giao hàng thay thế cho phù hợp với hợp đồng, sự không phù hợp đó vẫn có thể không cấu thành vi phạm hợp đồng nếu hàng hóa đã giao có giá trị ngang bằng và công dụng của nó không suy giảm so với hàng hóa đã thỏa thuận.
Thứ nhất, về tiêu chí số lượng hàng hóa
Có nhiều quan điểm về việc giao hàng không đầy đủ là vi phạm nghĩa vụ hay chỉ là thực hiện không phù hợp Tuy nhiên, dựa trên lý luận logic và tham chiếu thực tế, giao thiếu hàng hóa về số lượng không được xem là căn cứ để yêu cầu giao hàng thay thế theo Điều 46(2) hoặc sửa chữa hàng hóa theo Điều 46(3) Việc giao thiếu hàng hóa chỉ có thể được coi là vi phạm để buộc bên bán thực hiện đúng hợp đồng bằng cách giao đủ số lượng hàng hóa đã cam kết theo Điều 46(1).
Thứ hai, về tiêu chí chất lượng hàng hóa
Chất lượng hàng hóa là yếu tố quan trọng nhất quyết định tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng Việc đánh giá chất lượng bao gồm hàm lượng một số chất và thành phần được quy định trong hợp đồng, xem đây là một yếu tố điển hình trong đánh giá Ví dụ một chiếc ô tô cũ khoảng hai năm có sự chênh lệch giữa thông tin trên chứng từ và thực tế, đồng hồ đo trên xe không khớp với mô tả, từ đó hàng hóa được xem là không phù hợp với hợp đồng Hàng hóa được cho là không phù hợp khi các tiêu chí chất lượng và thành phần như yêu cầu về đất sét (ví dụ 40 kg đất sét trên mỗi mét vuông) không được đáp ứng trong thực tế Trong một trường hợp khác, Tòa án kết luận không vi phạm theo điều luật liên quan.
35(1) Khi bên bán giao hàng hóa có chứa tỷ lệ Cadmium (Cd) cao và hai bên không quy định trong hợp đồng mức tối đa cho chất này trong hàng hóa, việc quản lý chất lượng sẽ gặp khó khăn và rủi ro pháp lý tăng lên Thiếu điều khoản giới hạn Cadmium khiến các bên khó xác định trách nhiệm và biện pháp xử lý khi hàm lượng Cadmium vượt ngưỡng cho phép Để tránh tranh chấp và đảm bảo an toàn, nên bổ sung điều khoản về giới hạn Cadmium trong hợp đồng mua bán hàng hóa và tiến hành kiểm tra chất lượng, tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường liên quan.
45 UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods
(2012), Digest of Article 35 case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012-35.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017
46 Quyết định của Tũa Phỳc thẩm Kửln (Đức) ngày 21 thỏng 05 năm 1996, số 22 U 4/96, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/960521g1.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017
47 Quyết định của Tòa Phúc thẩm Arnhem (Hà Lan) ngày 18 tháng 07 năm 2006, số Rolnummer 2005/1005, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/060718n1.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017
Vụ án này được xét xử năm 1994, và Tòa phúc thẩm kết luận rằng tỷ lệ cadmium cao không cấu thành sự không phù hợp theo Điều 35(2) vì nó chưa vượt ngưỡng tối đa và vẫn ở mức an toàn về thực phẩm Vì vậy, chất lượng hàng hóa có thể được xác định dựa trên tỷ lệ của một chất nhất định trong hàng hóa và phải được các bên thỏa thuận trước trong hợp đồng Ngoài ra, hàng hóa đảm bảo chất lượng còn phải đúng loại đã giao trong hợp đồng, không bị hư hỏng và đảm bảo mục đích sử dụng.
Thứ ba, bao bì hay đóng gói, các mô tả khác trong hợp đồng
Cách thức đóng gói và hình thức bao bì có thể được các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhằm đảm bảo an toàn, chất lượng và tiện lợi cho quá trình vận chuyển và giao nhận hàng hóa Các điều khoản về đóng gói quy định rõ tiêu chuẩn bao bì, trách nhiệm của bên bán và các biện pháp thực hiện khi giao hàng Nếu hàng hóa được giao mà bao bì, đóng gói không đáp ứng các yêu cầu đã thỏa thuận, bên bán có thể bị yêu cầu thay thế hoặc sửa chữa hàng hóa để đảm bảo đúng tiêu chuẩn đóng gói theo hợp đồng.
Mô tả bổ sung trong hợp đồng mang tính tùy nghi và được xác định tùy theo từng trường hợp cụ thể; các mô tả mà các bên có thể thỏa thuận và được xem xét thực tế có thể kể đến như chứng từ đi kèm hàng hóa, địa điểm và thời gian nhận hàng Việc giao chứng từ không phù hợp với nguồn gốc hàng hóa đường tinh thể trắng của bên bán đã được Trọng tài kết luận là giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo Điều 35(1).
Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận khác trong hợp đồng, căn cứ Điều 35(2), các diễn giải sau đây sẽ được áp dụng để xác định tính không phù hợp của hàng hóa.
Thứ nhất, hàng hóa không thích hợp với các mục đích sử dụng mà hàng hóa cùng loại vẫn thường đáp ứng Mục đích được xem xét ở đây liên quan đến cách sử dụng và sự tương quan với hàng hóa cùng loại thông thường, bao gồm chất lượng và mô tả khác trong hợp đồng 52.
Thứ hai, hàng hóa không phù hợp với bất kỳ mục đích sử dụng cụ thể nào mà bên bán đã biết trực tiếp hoặc gián tiếp vào thời điểm ký hợp đồng sẽ bị coi là không phù hợp, trừ khi căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể cho thấy việc đó không dựa vào ý kiến hay phán đoán của bên bán hoặc nếu đối với họ làm như vậy là không hợp lý.
48 Quyết định của Tòa án tối cao Đức ngày 08 tháng 3 năm 2005, số VIII ZR 159/94, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/950308g3.html, truy cập lần cuối ngày 15/07/2017
49 Quyết định của Tòa Phúc thẩm Frankfurt (Đức) ngày 20 tháng 4 năm 1994, số 13 U 51/93, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/940420g1.html, , truy cập lần cuối ngày 15/07/2017
50 UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods
(2012), Digest of Article 35 case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012-35.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017
51 Quyết định của Trọng tài quốc tế Serbia ngày 23 tháng 8 năm 2008, số T - 9/07, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/080123sb.html#cabc, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017
Quyết định của Tòa Phúc thẩm Grenoble (Pháp) ngày 15 tháng 5 năm 1996, số 94/0258, được lưu ý và có đường link tham khảo http://cisgw3.law.pace.edu/cases/960515f1.html, là nguồn tham khảo quan trọng về cách áp dụng Công ước CISG trong tranh chấp thương mại quốc tế; Quyết định của Tòa án quận Trier ngày 15 tháng 10 năm (năm chưa được nêu) được đưa vào để làm rõ cách các tòa án châu Âu diễn giải và áp dụng các điều khoản của CISG trong thực tiễn Những quyết định này đóng góp vào việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và minh họa vai trò của án lệ trong tư pháp thương mại ở cấp độ quốc tế.
Key sources cited include the 1995 case 7 HO 78/95 (http://cisgw3.law.pace.edu/cases/951012g1.html); the New York court decision dated August 23, 2006, Case No 00 Civ 5189 (http://www.unilex.info/case.cfm?pid=1&doe&id37&step=FullText); last accessed on July 14, 2017.
Các quy định liên quan đến chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
1.3.1 Gia hạn thời gian thực hiện nghĩa vụ (Nachfrist)
Điều 47 (1) và Điều 63 (1) quy định bên bị vi phạm có quyền gia hạn cho bên vi phạm một khoảng thời gian vượt quá thời hạn thực hiện nghĩa vụ ban đầu trong hợp đồng Quy định này tương tự với nguyên tắc "Nachfrist" trong pháp luật Đức nên thường được các học giả gọi là "Nachfrist" Vai trò chính của cơ chế gia hạn là hỗ trợ cho chế tài hủy bỏ hợp đồng Khi hết thời hạn gia hạn mà bên vi phạm không thực hiện nghĩa vụ hoặc không có ý định thực hiện, bên có quyền có thể tuyên bố hủy bỏ hợp đồng mà không cần viện dẫn một vi phạm cơ bản (Điều 49 (1) (b) và Điều 64 (1) (b)) Ngoài ra, phạm vi nghiên cứu cho đề tài này cho thấy gia hạn thực hiện nghĩa vụ còn là quy định bổ sung cho quyền buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Điều 46 và 62.
Khi gia hạn thời hạn thực hiện nghĩa vụ, bên có quyền phải thông báo cho bên kia Tuy nhiên, không nên hiểu rằng việc gia hạn thêm thời gian cho bên vi phạm sẽ cho bên vi phạm quyền yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng; quyền này vẫn phụ thuộc vào nội dung thỏa thuận trong hợp đồng và các quy định của pháp luật liên quan.
Thời gian gia hạn thêm phải phù hợp với yêu cầu theo Điều 47 (1) và Điều 63
Thời hạn được coi là hợp lý cho việc thực hiện nghĩa vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như tính chất của hàng hóa, khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên vi phạm, khoảng cách địa lý giữa hai bên, thời gian hai bên đã thỏa thuận ban đầu và các yếu tố khác tùy từng trường hợp, miễn sao được xem xét kỹ lưỡng dựa trên nghĩa vụ của bên vi phạm và đánh giá xem bên vi phạm có đầy đủ năng lực và nỗ lực để hoàn tất nghĩa vụ bị vi phạm Ví dụ, hai tuần cho việc giao ba máy từ Đức về Ai Cập được cho là quá ngắn so với yêu cầu hợp lý nêu trên.
62 Ảnh hưởng của Đức đối với CISG chủ yếu được nhận diện qua tên của Ernst Rabel Dự thảo đầu tiên của ông, năm 1935, đã bao gồm hai chế định chứng minh nguồn gốc pháp luật Đức trong CISG: thủ tục thông báo và một chế định khác liên quan đến nguồn gốc pháp luật.
"Nachfrist" Xem: Ulrich Magnus (2010) The Vienna Sales Convention (CISG) between Civil And Common Law - Best of All Worlds, Journey of Civil Law Students, vol 03, tr.84
Theo các tham chiếu được đề cập, khoảng thời gian 7 tuần được xem là hợp lý cho nội dung liên quan đến mục 25 (tham chiếu 63) Trong khi đó, thời gian 3–4 tuần để bên bán giao xe từ Đan Mạch đến Đức được xem là hợp lý (tham chiếu 64).
Thời điểm kết thúc thời gian được gia hạn hoặc khi bên bị vi phạm nhận được câu trả lời cho thấy bên vi phạm không thực hiện nghĩa vụ là thời điểm chấm dứt tính khả thi của yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng.
1.3.2 Quyền tự khắc phục vi phạm của bên bán
Quyền tự khắc phục vi phạm của bên bán là một quyền riêng biệt và không phải là điều kiện để yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng Quyền này nhằm duy trì hợp đồng và mối quan hệ thiện chí giữa các bên, đồng thời tương đồng với chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng đang được xem xét.
Với vị thế là bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, bên bán vẫn phải tuân thủ các điều kiện quy định tại Điều 48(1), gồm: (1) không kéo theo sự chậm trễ vô lý; (2) không gây ra cho bên mua những trở ngại phi lý; và (3) đảm bảo sẽ hoàn trả chi phí cho bên mua Tóm lại, bên bán phải bằng mọi khả năng để tránh gây ra bất lợi cho bên mua, như ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, gia tăng chi phí hoặc chậm trễ trong việc hoàn trả các chi phí mà bên mua phải gánh chịu Điều 48(1) nhắc đến Điều 49 và nảy sinh nhiều quan điểm về mối quan hệ giữa quyền được quy định và vi phạm cơ bản 65 Theo quan điểm của tác giả, Điều 48
Điều 49 được nhắc đến với ý nghĩa như sau: Thứ nhất, quyền này không bị giới hạn miễn sao nó đáp ứng đầy đủ các điều kiện và đồng thời phù hợp với lợi ích của bên mua.
Thứ hai, nếu tồn tại các biện pháp khác ngoài biện pháp khắc phục thì các biện pháp đó vẫn phải tuân theo Điều 49 và các điều kiện thích hợp khác liên quan Một vấn đề có thể đặt ra là nếu bên mua tuyên bố hủy bỏ hợp đồng trước khi bên bán đưa ra đề nghị khắc phục, và ngược lại thì cách thức lựa chọn áp dụng các biện pháp sẽ được xác định như thế nào Theo từ ngữ tại Điều 49 và các quy định liên quan, quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ được cân nhắc dựa trên từng tình huống và thời điểm vi phạm để bảo đảm công bằng và hiệu quả trong xử lý tranh chấp hợp đồng.
Về mặt pháp lý, cụm từ 'tuân theo Điều 49' thể hiện ưu tiên của Điều 49 so với quyền này Khi có yêu cầu hủy bỏ hợp đồng trước và đáp ứng điều kiện áp dụng, chế tài hủy bỏ hợp đồng sẽ được áp dụng Tuy nhiên, nếu bên mua không đủ điều kiện hoặc không đưa ra yêu cầu hủy bỏ hợp đồng thì bên bán vẫn có quyền khắc phục Ngược lại, nếu đề nghị khắc phục được đưa ra trước và có sự đồng ý của bên mua cùng với các yêu cầu thực tế để xem xét hủy bỏ hợp đồng thay vì khắc phục.
Về biện pháp khắc phục khi giao hàng không phù hợp với hợp đồng, trong trường hợp có sự lựa chọn giữa sửa chữa và thay thế, hai biện pháp này phải thể hiện sự phù hợp và tương thích với nhau; địa điểm và thời gian thực hiện khắc phục phải phù hợp và thuận tiện cho cả bên mua lẫn bên bán Quyền khắc phục của bên bán không làm mất hoặc hạn chế quyền đòi bồi thường thiệt hại của bên mua Do đó, như đã nêu ở trên, dù vi phạm có tính chất cơ bản hay không, nếu các yêu cầu được đáp ứng đầy đủ thì bên bán vẫn có quyền khắc phục vi phạm.
Lịch sử quy định Điều 48 cho thấy bản kiến nghị hình thành Công ước không đề cập tới Điều 49 và đã bị từ chối tại Hội nghị Viên; từ đó ta thấy rõ hơn thứ tự ưu tiên được áp dụng trong quá trình hình thành và thảo luận các điều khoản của Công ước.
63 Quyết định của Tòa Phúc thẩm Celle (Đức), ngày 24 tháng 05 năm 1995, số 20 U 76/94, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/950524g1.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017
64 Quyết định của Tòa Phúc thẩm Naumburg (Đức), ngày 27 tháng 04 năm 1999, số 9 U 146/98, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/990427g1.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017
Trong cơ chế hai chế tài, quyền hủy bỏ hợp đồng của bên mua không bị hạn chế bởi quyền tự khắc phục vi phạm của bên bán Tuy nhiên, xét trên cơ sở thiện chí giữa hai bên và quan hệ hợp đồng, hủy bỏ nên được ưu tiên chỉ khi bên mua có quyền áp dụng ngay lập tức với đầy đủ điều kiện cần thiết; các trường hợp điển hình là niềm tin giữa các bên bị phá hủy nghiêm trọng do vi phạm của bên bán, ví dụ vi phạm gian dối đến mức không thể chấp nhận, bên mua bị ràng buộc nghĩa vụ với bên thứ ba hoặc không còn trông đợi gì ở hợp đồng nữa Theo đó, hủy bỏ hợp đồng nên được áp dụng Quyền khắc phục của bên bán lúc này chỉ làm mất thời gian và chi phí của cả hai bên Tòa án cấp phúc thẩm Đức từng đưa ra phán quyết (14/10/2002) về vụ án hàng hóa là quần áo có chất lượng kém, nhiều mặt hàng trong lô hàng đầu tiên bị thiếu sót nghiêm trọng do quá nhỏ, dễ rách và đường may kém; hàng hóa không thể sử dụng và bên mua có thể dự đoán nguy cơ vi phạm cao ở các lô hàng tiếp theo Tòa cho rằng do tính nghiêm trọng của vi phạm, bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng ngay lập tức.
Chương 1 với cấu trúc 3 phần nhằm làm rõ những nội dung cơ bản liên quan đến việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bao gồm: 1 các điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng; 2 một số điều kiện áp dụng riêng cho yêu cầu thay thế hoặc sửa chữa hàng hóa không phù hợp và 3 các quy định liên quan Nhìn chung các quy định áp dụng cho chế tài này đều dựa trên nền tảng thiện chí và hợp lý từ việc đƣa ra thông báo phù hợp về nội dung và thời hạn, không câu nệ hình thức thông báo, gia hạn thực hiện nghĩa vụ cũng nhƣ cân nhắc hoàn cảnh cụ thể để lựa chọn yêu cầu Ngoài ra, bên bán cũng có quyền tự mình khắc phục những vi phạm mà mình đã thực hiện