Vấn đề gia hạn thực hiện nghĩa vụ

Một phần của tài liệu Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo luật thương mại 2005 (Trang 24 - 27)

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG

1.5. Vấn đề gia hạn thực hiện nghĩa vụ

Để áp dụng chế tài BTHĐHĐ, LTM 2005 cho phép bên bị vi phạm có thể “gia hạn một thời gian hợp lý để bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng” . Tuy nhiên, thế nào là một khoảng thời gian “hợp lý” để bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng? LTM 2005 không quy định cụ thể và việc không quy định đó cũng là điều dễ hiểu. Bởi lẽ, tùy từng quan hệ hợp đồng mà khoảng thời gian này sẽ khác nhau và

25 Điều 7.2.2 PICC 2004, bản dịch được tham khảo từ trang web:

[http://tailieuxnk.com/upload/sanpham/thumb/Tai-lieunguyen-tac-unidroit-ve-hop-dong-thuong-mai- 317191556747.pdf], truy cập lần cuối ngày 28/5/2021

19

hợp lý ở quan hệ hợp đồng này có thể sẽ không hợp lý ở quan hệ hợp đồng khác, vì vậy khó có thể cô đọng hay điều chỉnh tất cả các trường hợp để đảm bảo tính ổn định lâu dài của luật . Đối với một số quan hệ hợp đồng mà đối tượng là hàng hóa mang tính chất mùa, vụ, hay công việc mang tính chất thời điểm thì bên bị vi phạm có xu hướng rút ngắn khoảng thời gian gia hạn này. Việc gia hạn thời gian thường dựa vào thiện chí của bên bị vi phạm cũng như là sự đánh giá, cân nhắc của họ khi xét đến lợi ích của việc hợp đồng được thực hiện. Trong khi đó, đánh giá mức độ “hợp lý” của khoảng thời gian nêu trên nếu xảy ra tranh chấp dựa vào sự đánh giá của cơ quan giải quyết tranh chấp trên cơ sở cân nhắc các yếu tố khác nhau chẳng hạn như tính chất của đối tượng hợp đồng, mức độ vi phạm hợp đồng,… Có ý kiến cho rằng việc gia hạn một thời gian để bên bị vi phạm khắc phục vi phạm và nếu hết thời gian ấn định mà bên vi phạm không khắc phục vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện khiến cho bản chất chế tài BTHĐHĐ ở đây chuyển thành “việc các bên thỏa thuận gia hạn thời gian thực hiện nghĩa vụ hợp đồng”26. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả thì bản chất chế tài này không phải là

“thỏa thuận” gia hạn thời gian nghĩa vụ hợp đồng mà việc “gia hạn” của bên bị vi phạm chỉ là một hành vi pháp lý đơn phương, thể hiện yêu cầu, mong muốn bên vi phạm khắc phục vi phạm hợp đồng của mình. Ngoài ra, nếu việc gia hạn mang tính chất “thỏa thuận” lại thời gian nghĩa vụ hợp đồng như quan điểm nêu trên thì sẽ kéo theo việc thay đổi nội dung của hợp đồng về nghĩa vụ của các bên được xác lập trước đó, trái với bản chất và hệ quả pháp lý của việc áp dụng chế tài BTHĐHĐ (nội dung được trình bày tại Mục 1.6 của khóa luận).

Bên cạnh đó, quy định hiện nay của LTM 2005 tại Điều 299 LTM sử dụng cụm từ “trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng” theo tác giả là không hợp lý, dễ dẫn đến sự khó hiểu khi áp dụng. LTM nên sử dụng cụm từ “trong thời gian gia hạn thực hiện nghĩa vụ” để đồng nhất với quy định tại điều luật trước đó về quy định gia hạn thực hiện nghĩa vụ hoặc sử dụng cụm “trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định” để phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 299 LTM 2005 nhằm giúp việc xác định thời gian này dễ dàng hơn. Việc quy định theo hướng này cũng là phù hợp với các quy định quốc tế, chẳng hạn là với Điều 47 CISG27 khi mà khoản 1

26 Lê Hồng Hạnh (2002), Những nền tảng pháp lý cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Hà Nội, tr.26

27 Điều 47 CISG: “1. Người mua có thể cho người bán thêm một thời hạn bổ sung hợp lý để người bán thực hiện nghĩa vụ.

2. Trừ phi người mua đã được người bán thông báo rằng người bán sẽ không thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời hạn bổ sung đó, người mua không được sử dụng đến bất cứ biện pháp bảo hộ pháp lý nào trong trường hợp người bán vi phạm hợp đồng trước khi thời hạn bổ sung kết thúc. Tuy nhiên ngay cả trong trường hợp này người mua cũng không mất quyền đòi bồi thường thiệt hại do người bán chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình.”

20

Điều 47 quy định người mua có thể gia hạn một khoảng thời gian bổ sung hợp lý để bên bán thực hiện nghĩa vụ và khoản 2 quy định người mua không được áp dụng biện pháp nào khác “trong thời hạn bổ sung đó”. Đồng thời cũng phù hợp với cách quy định của PICC 2004 khi mà tại khoản 1 Điều 7.1.5 của PICC 2004 quy định “bên có quyền có thể thông báo gia hạn thêm cho bên có nghĩa vụ một thời hạn bổ sung” và tại khoản 2 Điều này quy định “trong suốt thời gian trước khi thời hạn này kết thúc”28 bên bị vi phạm không được viện dẫn các biện pháp nào khác để giải quyết (trừ biện pháp ngừng thực hiện hợp đồng hoặc buộc bồi thường thiệt hại). Như vậy cả CISG và PICC 2004 đều theo hướng quy định không áp dụng biện pháp nào khác (trừ buộc bồi thường thiệt hại và tạm ngừng thực hiện hợp đồng) trong “thời gian bổ sung” để bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ .

Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 299 LTM 2005 cho phép bên bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi của mình trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài BTHĐHĐ trong thời gian ấn định – thời gian được gia hạn để thực hiện nghĩa vụ. Như vậy, khi hết thời hạn trên mà bên vi phạm không khắc phục vi phạm thì liệu rằng bên bị vi phạm sẽ được áp dụng ngay các chế tài khác mặc cho không đủ điều kiện để áp dụng các chế tài này (như điều kiện vi phạm cơ bản hợp đồng đối với chế tài hủy hợp đồng, đình chỉ hợp đồng) hay phải thỏa mãn các điều kiện cụ thể của các chế tài đó thì mới được áp dụng? Điều 293 LTM 2005 quy định không được phép áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng đối với các vi phạm không phải là vi phạm cơ bản trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Tham khảo một số quy định quốc tế, tại khoản 3 Điều 7.3.1 của PICC 2004 cho phép áp dụng chế tài hủy hợp đồng nếu “trong trường hợp chậm trễ bên có nghĩa vụ không thực hiện trong thời hạn được quy định tại Điều 7.1.5”, Điều 7.1.5 quy định về việc gia hạn thời hạn hợp lí để thực hiện nghĩa vụ. Như vậy, theo PICC thì hết thời hạn bổ sung mà bên vi phạm không khắc phục vi phạm thì bên bị vi phạm được áp dụng ngay chế tài hủy bỏ hợp đồng mà không cần đáp ứng điều kiện riêng của chế tài này (điều kiện vi phạm cơ bản). Trong khi đó, đối với CISG cũng theo hướng bên bị vi phạm được áp dụng ngay chế tài khác (hủy bỏ hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng) mà không cần chứng minh điều kiện có hành vi vi phạm cơ bản.29

28 Điều 7.1.5 PICC 2004: “1. Trong trường hợp không thực hiện, bên có quyền có thể thông báo gia hạn thêm cho bên có nghĩa vụ một thời hạn bổ sung để bên này thực hiện nghĩa vụ.

2.Trong suốt thời gian trước khi thời hạn này kết thúc, bên có quyền có thể dừng thực hiện các nghĩa vụ liên quan của mình và đòi bồi thường thiệt hại, nhưng không được viện dẫn bất kỳ biện pháp giải quyết nào khác..."

29 Đặng Hoa Trang, tlđd (5), tr.43

21

Tóm lại, nếu xem xét việc gia hạn thực hiện nghĩa vụ tại Điều 298 LTM 2005 là một “cơ chế phá vỡ nguyên tắc” chỉ áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng đối với các vi phạm cơ bản thì rõ ràng quy định tại Điều 293 LTM 2005 đã bỏ sót trường hợp “trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” (ở đây là quy định tại Điều 298, Điều 299 LTM 2005) hay nói cách khác là có sự mâu thuẫn giữa quy định tại khoản 2 Điều 299 với Điều 293 LTM 2005. Ngược lại, nếu xem xét việc gia hạn nghĩa vụ tại Điều 298 LTM 2005 không có tác dụng “phá vỡ nguyên tắc” đã nêu ở trên thì rõ ràng khoản 2 Điều 299 LTM 2005 đã bỏ sót cụm từ “nếu đáp ứng các điều kiện của các chế tài đó” và hiểu theo cách này cũng sẽ là không phù hợp với các quy định quốc tế tác giả đã nêu đồng thời cũng đi trái với thực tiễn thương mại khi mà “một bên đã dùng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng nhưng không đem lại hiệu quả hơn mong đợi thì họ hoàn toàn có quyền tìm kiếm một giải pháp khác, thậm chí là hủy bỏ hợp đồng khi bên kia đã không có thiện chí hoặc hoàn toàn không có khả năng thực hiện”30.

Một phần của tài liệu Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo luật thương mại 2005 (Trang 24 - 27)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(85 trang)