1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa theo luật thương mại 2005

65 38 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa theo luật thương mại 2005
Tác giả Trần Ngọc Yến Nhi
Người hướng dẫn Ths. Nguyễn Hoàng Phước Hạnh
Trường học Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Thương mại
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 854,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1..................................................................................................................... 7 (13)
    • 1.1 Khái quát chung về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá (13)
      • 1.1.1 Khái niệm rủi ro và chuyển rủi ro (13)
        • 1.1.1.1 Khái niệm rủi ro (13)
        • 1.1.1.2 Khái niệm chuyển rủi ro (17)
      • 1.1.2 Đặc điểm của rủi ro đối với hàng hoá và phân biệt rủi ro với sự kiện bất khả kháng trong hoạt động mua bán hàng hoá (18)
        • 1.1.2.1 Đặc điểm của rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá (18)
        • 1.1.2.2 Phân biệt rủi ro với sự kiện bất khả kháng (21)
      • 1.1.3 Các loại rủi ro thường gặp và phân loại rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá (22)
        • 1.1.3.1 Phân loại rủi ro (22)
        • 1.1.3.2 Các loại rủi ro thường gặp (24)
      • 1.1.4 Thời điểm chuyển rủi ro (27)
        • 1.1.4.1 Khái niệm thời điểm chuyển rủi ro (27)
        • 1.1.4.2 Đặc điểm thời điểm chuyển rủi ro (30)
        • 1.1.4.3 Mối liên hệ giữa thời điểm chuyển rủi ro và thời điểm chuyển quyền sở hữu (31)
    • 1.2 Ý nghĩa của việc xác định rủi ro, thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hoá (32)
      • 1.2.1 Ý nghĩa của việc xác định rủi ro (32)
      • 1.2.2 Ý nghĩa của việc xác định thời điểm chuyển rủi ro (33)
  • CHƯƠNG 2................................................................................................................... 31 (37)
    • 2.1 Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định (38)
    • 2.2 Chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định (45)
    • 2.3 Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển (49)
    • 2.4 Chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hoá trên đường vận chuyển (52)
    • 2.5 Chuyển rủi ro trong trường hợp khác (56)

Nội dung

Hơn thế nữa, quy định liên quan đến vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá trong Luật Thương mại năm 2005 vẫn còn một số điểm chưa thể hiện sự chặt chẽ, những điểm này đượ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯO ̛ NG MẠI

TRẦN NGỌC YẾN NHI

CHUYỂN RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO LUẬT THƯƠNG MẠI 2005

CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠ NG MẠI

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯO ̛ NG MẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

CHUYỂN RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO LUẬT THƯƠNG MẠI 2005

SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRẦN NGỌC YẾN NHI

KHÓA: 43 MSSV: 1853801011150

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THS NGUYỄN HOÀNG PHƯỚC HẠNH

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được

thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Hoàng Phước Hạnh, đảm

bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

TP HCM, ngày 29 tháng 6 năm 2022

Sinh viên thực hiện

Trần Ngọc Yến Nhi

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CISG 1980

United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods (Công ước Viên năm 1980 về

hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế)

INCOTERMS 2020 Các quy tắc của ICC về sử dụng các điều kiện thương mại

quốc tế và nội địa (phiên bản năm 2020)

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 7

1.1 Khái quát chung về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá 7

1.1.1 Khái niệm rủi ro và chuyển rủi ro 7

1.1.1.1 Khái niệm rủi ro 7

1.1.1.2 Khái niệm chuyển rủi ro 11

1.1.2 Đặc điểm của rủi ro đối với hàng hoá và phân biệt rủi ro với sự kiện bất khả kháng trong hoạt động mua bán hàng hoá 12

1.1.2.1 Đặc điểm của rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá 12

1.1.2.2 Phân biệt rủi ro với sự kiện bất khả kháng 15

1.1.3 Các loại rủi ro thường gặp và phân loại rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá 16

1.1.3.1 Phân loại rủi ro 16

1.1.3.2 Các loại rủi ro thường gặp 18

1.1.4 Thời điểm chuyển rủi ro 21

1.1.4.1 Khái niệm thời điểm chuyển rủi ro 21

1.1.4.2 Đặc điểm thời điểm chuyển rủi ro 24

1.1.4.3 Mối liên hệ giữa thời điểm chuyển rủi ro và thời điểm chuyển quyền sở hữu 25

1.2 Ý nghĩa của việc xác định rủi ro, thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá 26

1.2.1 Ý nghĩa của việc xác định rủi ro 26

1.2.2 Ý nghĩa của việc xác định thời điểm chuyển rủi ro 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

Trang 6

CHƯƠNG 2 31

2.1 Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định 32

2.2 Chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định 39

2.3 Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển 43

2.4 Chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hoá trên đường vận chuyển 46

2.5 Chuyển rủi ro trong trường hợp khác 50

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 53

KẾT LUẬN CHUNG 54

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ hiện nay, cũng như nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới, Việt Nam đã và đang ngày càng nghiêm túc phấn đấu hội nhập vào nền kinh tế quốc tế Trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, Việt Nam đã tham gia các tổ chức kinh tế thương mại khu vực và thế giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương Đặc biệt, dấu ấn tích cực trong tiến trình hội nhập quốc tế là sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) - tổ chức thương mại lớn nhất thế giới, đây là cột mốc quan trọng góp phần đổi mới tư duy chính sách, tạo động lực mạnh mẽ để giúp Việt Nam phát triển kinh tế, ngày càng trở thành một quốc gia cạnh tranh và hiện đại1

Quá trình hội nhập toàn cầu với nhiều thành tựu trên là kết quả của sự nỗ lực, bền

bỉ theo đuổi và học hỏi những chính sách đổi mới tiên tiến Từng giai đoạn hội nhập kinh

tế mang đến cho Việt Nam ngày càng nhiều những cơ hội lớn nhưng bên cạnh đó là không ít những thách thức khi chính thức “đặt dấu chân” mình vươn xa hơn trên đấu trường quốc tế Một trong những thách thức mà nền kinh tế Việt Nam phải quan tâm là việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá Bởi lẽ mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại phổ biến trong nền kinh tế thị trường, là cách thức chủ yếu để tìm kiếm lợi nhuận và

là khâu quan trọng để tái sản xuất sức lao động xã hội; hơn thế nữa, nếu có sự điều tiết chặt chẽ thì hoạt động mua bán hàng hoá sẽ là đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế quốc gia Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng hoạt động mua bán hàng hoá là một trong những mối quan tâm hàng đầu của quốc gia khi hội nhập toàn cầu Khi hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, hoạt động mua bán hàng hóa trong nước lẫn hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đều cần phải được chú trọng nhằm mục tiêu phù hợp và sẵn sàng hoà nhập với xu hướng pháp luật của đa số quốc gia trên thế giới Đánh dấu cho sự nỗ lực đó, Việt Nam đã gia nhập Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Đây được coi là một trong những hiệp định cốt lõi trong thương mại quốc tế được áp dụng phổ biến trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế hiện nay Công ước Viên 1980 cung cấp một chế độ hiện đại, thống nhất và công bằng cho việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc mua bán hàng hóa quốc tế, một khung pháp lý chắc chắn trong trao đổi

1 “Kinh tế hội nhập”, cua-viet-nam-17358.htm, truy cập ngày 24/3/2022

Trang 8

https://vietnamhoinhap.vn/vi/nhung-thanh-tuu-trong-tien-trinh-hoi-nhap-kinh-te-quoc-te-thương mại2 Gia nhập Công ước Viên 1980 là sự kiện đặc biệt giúp Việt Nam hoàn thiện

hệ thống pháp luật, tạo một môi trường kinh doanh an toàn cho các thương nhân Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài Hoạt động mua bán hàng hoá mang tính phức tạp vì mua bán hàng hoá, đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc tế là hoạt động giao thương quốc tế chứa đựng rất nhiều rủi ro Bởi lẽ, các bên giao kết hợp đồng thường là những chủ thể

có quốc tịch khác nhau; khoảng cách khá xa về mặt địa lý; sự khác biệt về truyền thống pháp luật, tập quán thương mại, chính sách kinh tế đối ngoại và đặc biệt là sự khác biệt

về ngôn ngữ dẫn đến nhiều trường hợp các bên không hiểu rõ ý chí của nhau3 Trong lĩnh vực mua bán hàng hoá, chuyển rủi ro là một trong những nội dung quan trọng mà các thương nhân phải nắm bắt trong quá trình ký kết hợp đồng Xác định thời điểm chuyển rủi ro, hậu quả pháp lý khi chuyển rủi ro là mấu chốt trong việc xác định trách nhiệm của các bên vì rủi ro là những thiệt hại không mong muốn tác động tiêu cực đến lợi nhuận cũng chính là mục đích chính của hoạt động thương mại Hơn thế nữa, quy định liên quan đến vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá trong Luật Thương mại năm 2005 vẫn còn một số điểm chưa thể hiện sự chặt chẽ, những điểm này được quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế với những ưu điểm nhất định Điều này đòi hỏi cần phải thực hiện những nghiên cứu thiết thực về vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa sao cho chặt chẽ và phù hợp với xu hướng chung của pháp luật quốc tế từ đó góp phần tạo nền tảng pháp lý cho thương nhân khi tham gia vào hoạt động mua bán hàng hóa trong bối cảnh hiện nay

Với những lý do nêu trên, tác giả nhận thức tầm quan trọng của vấn đề và chọn đề

tài “Chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại 2005”

để nghiên cứu làm khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hoạt động mua bán hàng hoá là một chế định quan trọng trong Luật Thương mại năm 2005 Chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá là bộ phận quan trọng trong chế định đó Vì vậy, vấn đề này đã được các tác giả nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau thông qua các bài viết được công bố trong các sách chuyên khảo, tạp chí chuyên ngành, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp Dưới đây là một vài công trình tiêu biểu:

2 Phùng Bích Ngọc (2018), “Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước viên năm 1980 - So

sánh với pháp luật Việt Nam”, Tạp chí luật học, số 6/2019, tr.49

3 Nguyễn Vũ Hoàng (2001), Những khía cạnh kinh tế và luật pháp về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển trong thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr.9

Trang 9

Bài viết “Chuyển rủi ro đối với hàng hoá trong Công ước Viên 1980: Tiếp cận pháp

lý và khuyến nghị thực thi tại Việt Nam” được đăng trên tạp chí Khoa học Kiểm sát số chuyên đề 01-2021 của tác giả Trần Viết Long và tác giả Bùi Thị Quỳnh Trang Bài viết trình bày những nguyên tắc chuyển rủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên 1980; đồng thời trình bày quy định pháp luật về những trường hợp chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại năm

2005 Tuy nhiên, bài viết chưa xác định các vấn đề liên quan đến bản chất của việc chuyển rủi ro, trách nhiệm pháp lý của các bên khi phải gánh chịu rủi ro, mặt khác chưa

có sự so sánh chặt chẽ giữa các quy định liên quan đến vấn đề chuyển rủi ro trong Công ước Viên 1980 và Luật Thương mại năm 2005 Tác giả sẽ kế thừa những nội dung trong bài viết này, phân tích sâu hơn và bổ sung những vấn đề mà bài viết chưa đề cập

Bài viết “Các trường hợp chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại năm 2005” được đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 11 (260)/2013 của tác giả Bùi Huyền Bài viết cung cấp những nội dung cơ bản của vấn đề chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hoá bằng cách phân tích những quy định của Luật Thương mại năm 2005, đề cập đến những điểm tiến bộ so với Luật Thương mại năm 1997 và những điểm chưa hợp lý trong các điều khoản mới Tác giả cũng tiến hành

so sánh các quy định trên với các quy định trong Công ước Viên 1980 và Các quy tắc của ICC về sử dụng các điều kiện thương mại quốc tế và nội địa (phiên bản năm 2010) Tuy nhiên, bài viết chỉ dừng lại ở mức độ phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam Tác giả sẽ kế thừa những nội dung mà bài viết đã đề cập, tìm hiểu và nghiên cứu một số trường hợp thực tiễn phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật Sách chuyên khảo “Luật hợp đồng thương mại quốc tế” của nhóm tác giả Dương Anh Sơn, Lê Thị Bích Thọ, Nguyễn Văn Luyện của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh năm 2016 Các tác giả đã phân tích quy định pháp luật mới về vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại năm 2005 trên cơ sở so sánh với Luật Thương mại năm 1997 Đồng thời, các tác giả cũng đã đề cập những quy định pháp luật liên quan đến vấn đề chuyển rủi ro trong Công ước Viên năm 1980, Các quy tắc của ICC về sử dụng các điều kiện thương mại quốc tế và nội địa (phiên bản năm 2010) và kiến nghị sửa đổi phù hợp Tác giả sẽ phân tích sâu hơn các vấn đề pháp lý đặt ra lần lượt trong từng điều khoản và đề cập đến các trường hợp chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa trong thực tiễn xét xử

Trang 10

Sách chuyên khảo “Giáo trình pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ”của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Hồng Đức năm 2014 (tái bản năm 2020) Các tác giả đã phân tích, làm rõ quy định pháp luật về các trường hợp chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại năm 2005; đồng thời chỉ một số điểm bất hợp lý trong các quy định này Tác giả sẽ kế thừa nội dung về những vấn đề bất hợp lý trong các quy định của pháp luật hiện hành mà các tác giả đề cập, từ đó đánh giá cụ thể và so sánh với pháp luật quốc tế, đề xuất giải pháp hoàn thiện Luận văn Thạc sĩ Luật “Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa” của tác giả Phan Văn Mạnh thực hiện tại Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 Tác giả đã phân tích

và đánh giá các quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu, thời điểm chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá trong các trường hợp chuyển rủi ro cụ thể, từ đó chỉ

ra một số bất cập và đề xuất các giải pháp định hướng hoàn thiện pháp luật về thời điểm chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro đối với hàng hóa Vì luận văn tập trung vào thời điểm chuyển quyền sở hữu và thời điểm chuyển rủi ro nên chưa làm rõ các vấn đề chuyển rủi ro như đặc điểm, bản chất của rủi ro, địa điểm chuyển rủi ro, trách nhiệm chịu rủi ro

và thực tiễn áp dụng vấn đề chuyển rủi ro

Luận văn Thạc sĩ Luật “Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá” của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Lan thực hiện tại Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2020 Luận văn là nguồn tài liệu quan trọng làm rõ các vấn

đề về rủi ro, thời điểm chuyển rủi ro đồng thời đánh giá và đề xuất giải pháp khắc phục những điểm bất hợp lý trong hoạt động mua bán hàng hóa Với nội dung chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá, điều này vừa là cơ hội thuận lợi để tác giả tham khảo vừa là thách thức khi cả hai công trình nghiên cứu cùng một vấn đề Tuy rằng những quy định pháp luật của Luật Thương mại năm 2005 vẫn còn có hiệu lực và chưa có sự thay đổi nhưng công trình nghiên cứu của tôi sẽ có phương pháp tiếp cận và triển khai vấn đề khác, do đó sẽ mang đến những kết quả khác so với những kết quả của công trình này Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đã trình bày, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành, tiến hành so sánh với Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và đưa ra những điểm bất hợp lý, đề xuất hoàn thiện pháp luật một cách khá

cụ thể Bên cạnh đó, các công trình đều sử dụng Các quy tắc của ICC về sử dụng các điều kiện thương mại quốc tế và nội địa (phiên bản năm 2010) nên công trình nghiên cứu này là cần thiết để giúp các doanh nghiệp nắm quy định vì Bộ quy tắc này vừa được

Trang 11

cập nhật phiên bản mới nhất năm 2020 có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2020 được

áp dụng trong giai đoạn tiếp theo của thương mại toàn cầu Đồng thời, bối cảnh kinh tế

- xã hội toàn cầu vừa trải qua giai đoạn nhiều thay đổi nên vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa cần được đánh giá lại trên những cơ sở đã nghiên cứu, bổ sung thêm những góc độ phát sinh để thích ứng một cách tối ưu, hạn chế những tổn thất

cho nền kinh tế quốc gia Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu đề tài “Chuyển rủi ro trong

hoạt động mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại năm 2005” là cần thiết

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá Thông qua những quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật, tác giả sẽ đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật bằng cách tiếp thu những quy định tiến bộ để đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả, hạn chế những thiệt hại phát sinh từ vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá Đây là một trong những biện pháp nhằm thống nhất với quy định pháp luật của quốc tế và góp phần to lớn vào quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam

Để đạt được mục tiêu mà tác giả đã đề ra, đề tài sẽ có các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, phân tích những vấn đề cơ bản và khẳng định tầm quan trọng của việc xác định rủi ro, thời điểm chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng quy định pháp luật; so sánh và tham khảo những quy định tiến bộ từ các văn bản pháp luật quốc tế về các trường hợp chuyển rủi

ro trong hoạt động mua bán hàng hoá Đồng thời, đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu: tác giả sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa bao gồm rủi ro, thời điểm chuyển rủi ro, hậu quả pháp lý của việc chuyển rủi ro và các trường hợp chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá theo quy định của Luật Thương mại năm 2005

Phạm vi nghiên cứu: tác giả tập trung nghiên về vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá đối với hàng hóa chứ không phải với tất cả tài sản theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 Đồng thời, tác giả chỉ nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa thông thường chứ không nghiên

Trang 12

cứu hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa vì hoạt động này có những đặc trưng riêng Đề tài nghiên cứu các trường hợp chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 Đồng thời trình bày, so sánh, đối chiếu các quy định nêu trên với các quy định về vấn đề chuyển rủi ro trong Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và Các quy tắc của ICC về

sử dụng các điều kiện thương mại quốc tế và nội địa (phiên bản năm 2020)

5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu đề tài

Tác giả sử dụng lý luận triết học Mác-Lê Nin làm cơ sở, phương pháp luận cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn áp dụng của vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa được quy định trong Luật Thương mại năm 2005

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả khóa luận còn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp

so sánh luật, phương pháp phân tích quy phạm pháp luật

Chương 1, tác giả sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp nhằm làm rõ các vấn đề mang tính lý luận chung về chuyển đổi rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

từ kiến thức thực tiễn, các công trình nghiên cứu trước đó để khẳng định tầm quan trọng của việc xác định rủi ro, thời điểm chuyển đổi rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá Chương 2, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích quy phạm pháp luật và phương pháp so sánh luật để trình bày, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam

về vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá đồng thời so sánh với các quy định của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và Các quy tắc của ICC về sử dụng các điều kiện thương mại quốc tế và nội địa (phiên bản năm 2020)

để tìm ra điểm tương đồng, khác biệt nhằm tìm ra những quy định tiến bộ, đánh giá khả năng áp dụng và đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam

6 Bố cục tổng quát của khóa luận

Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của khóa luận gồm có 2 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung lý luận chung về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

Chương 2: Thực trạng về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN RỦI RO TRONG HOẠT

ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HOÁ 1.1 Khái quát chung về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá

1.1.1 Khái niệm rủi ro và chuyển rủi ro

1.1.1.1 Khái niệm rủi ro

Một kế hoạch dù có được chuẩn bị kỹ lưỡng đến đâu cũng sẽ có thể xảy ra những bất trắc, nguy hiểm nằm ngoài mong đợi của chúng ta làm ảnh hưởng đến kết quả dự kiến ban đầu của kế hoạch Những bất trắc, nguy hiểm đó được gọi là rủi ro Theo nghĩa chung nhất, rủi ro được hiểu là những điều không may mắn, không tốt đẹp bất ngờ xảy đến nằm ngoài sự mong đợi của con người Rủi ro hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và không thể liệt kê một cách đầy đủ được

Ngày nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất giải thích như thế nào là rủi ro Xuất phát từ những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau sẽ có những quan điểm định nghĩa rủi ro khác nhau Những định nghĩa này rất đa dạng, phong phú nhưng tựu trung lại có thể chia rủi ro làm hai trường phái lớn: trường phái truyền thống (hay trường phái tiêu cực) và trường phái trung hòa4

Thứ nhất, theo trường phái truyền thống (hay trường phái tiêu cực): rủi ro được xem là sự không may, sự nguy hiểm, sự mất mát, sự tổn thất, Thuộc trường phái này,

ta có một số định nghĩa về rủi ro như sau:

Theo Từ điển Tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2006, “rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến”5

Theo thuật ngữ Luật học, “rủi ro là sự thiệt hại, trở ngại có thể xảy ra, trong giao dịch dân sự, nguyên nhân của sự rủi ro phải là sự kiện bất khả kháng”6

Theo từ điển Oxford, “rủi ro là khả năng có điều gì đó xấu xảy ra tại một thời điểm trong tương lai, tình huống có thể dẫn đến nguy hiểm hoặc có kết quả xấu”7

4 Đoàn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, Hà Đức Sơn (2009), Quản trị rủi ro và khủng hoảng, Nhà xuất bản Lao

Động - Xã Hội, tr 29

5 Hoàng Phê (2006), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr 836

6 Viện Khoa học pháp lý (1999), Từ Điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa, tr 422

7 Risk, https://www.oxfordlearnersdictionaries.com/definition/english/risk_1?q=risk, truy cập ngày 29/3/2022

Trang 14

Một số tác giả khác cho rằng “rủi ro là khả năng có điều gì đó bất lợi, không mong muốn xảy ra” hay “rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không chắc chắn,…”8

Trong lĩnh vực kinh doanh, “rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến” hoặc “rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy

ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp”9 Rủi ro gây khó khăn trở ngại cho chủ thể trong quá trình thực hiện mục tiêu kinh doanh, tàn phá các thành quả đang có, bắt buộc họ phải chi phí nhiều hơn về nhân lực, vật lực, thời gian trong quá trình phát triển của họ

Tóm lại, theo cách hiểu truyền thống: “Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, là những yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”10 Có thể hiểu rủi ro là một sự kiện không lành, không tốt bất ngờ xảy đến nằm ngoài sự mong đợi của con người và gây ra những thiệt hại, bất lợi nhất định Rủi ro là một điều không may mắn, không lường trước một cách chính xác được về khả năng xảy

ra, về thời gian và không gian xảy ra cũng như mức độ nghiêm trọng và hậu quả của nó Thứ hai, theo trường phái trung hòa: rủi ro được hiểu là khả năng có sự sai lệch giữa một bên là những gì xảy ra trên thực tế với một bên là những gì được dự kiến từ trước (mà bình thường đáng lẽ phải diễn ra) Rủi ro khi này là sự bất trắc có thể đo lường trước được Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi, là tổng hợp những yếu tố ngẫu nhiên có thể đo lường được xác suất xảy ra Rủi ro là giá trị và kết quả mà hiện thời chưa biết đến, là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả11 Thuộc trường phái này, ta có thể thấy một số định nghĩa của rủi ro:

Theo tờ nhật báo kinh doanh The Economic Times, “rủi ro là sự không chắc chắn trong tương lai về độ chênh lệch so với thu nhập dự kiến hoặc kết quả dự kiến” 12 Rủi

ro đo lường sự không chắc chắn mà nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận để thu được lợi nhuận

từ một khoản đầu tư

Theo định nghĩa của Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 9000:2015 do Ban kỹ thuật Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN/TC 176 Quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng biên

8 Đoàn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, Hà Đức Sơn, tlđd (1), tr 29

9 Đoàn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, Hà Đức Sơn, tlđd (2), tr 30

10 Phan Văn Mạnh, Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 15

11 Đoàn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, Hà Đức Sơn, tlđd (3), tr 30

12 “What is Risk”, https://economictimes.indiatimes.com/definition/risk, truy cập ngày 30/3/2022

Trang 15

soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố thì rủi ro được định nghĩa là “tác động của sự không chắc chắn”13

Như vậy, theo trường phái trung hòa, rủi ro vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thể mang đến những tổn thất, mất mát cho con người nhưng bên cạnh

đó cũng có thể mang lại những lợi ích, cơ hội khi biết cách giải quyết rủi ro Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, quản trị rủi ro người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp

Tóm lại, theo hai quan điểm trên thì rủi ro được hiểu là sự kiện bất ngờ, xảy ra ngoài mong đợi, gây nên những tổn thất cho con người và có thể đo lường được Pháp luật Việt Nam không quy định như thế nào là “rủi ro” trong hoạt động mua bán hàng hoá Trong Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG 1980) cũng không đưa ra bất kỳ giải thích nào về khái niệm “rủi ro” nhưng việc sử dụng cụm

từ “mất mát hay hư hỏng hàng hóa” cũng chỉ rõ xu hướng của Công ước trong việc xác định nội hàm của khái niệm này Rủi ro đối với hàng hoá được xác định là những mất mát, tổn thất Sự mất mát của hàng hoá bao gồm các trường hợp hàng hóa không thể được tìm thấy, đã bị đánh cắp hoặc đã được chuyển giao cho người khác14 Sự tổn thất của hàng hóa bao gồm hàng hóa bị phá hủy toàn bộ, sự hư hỏng, giảm sút chất lượng hàng hóa và sự thiếu hụt số lượng của hàng hoá trong quá trình vận chuyển hoặc lưu trữ15 Bên cạnh đó, thực tiễn còn cho thấy một số trường hợp rủi ro khác ngoài sự mất mát hay hư hỏng hàng hóa như sự chậm trễ của nhà chuyên chở sau khi người bán chuyển hàng hóa cho người chuyên chở, hay các quy định của chính phủ cấm kinh doanh các mặt hàng mà hai bên mua bán vẫn được xem là rủi ro đối với hàng hóa16

Xã hội loài người càng phát triển, hoạt động của con người ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp thì rủi ro cho con người ngày càng nhiều và đa dạng hơn Trong các lĩnh vực khác nhau sẽ tồn tại các loại rủi ro đặc trưng khác nhau Trong hoạt động mua bán hàng hóa, rủi ro rất đa dạng và phức tạp Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá không những tác động trực tiếp đến hàng hoá trong hoạt động kinh doanh của các

Trang 16

thương nhân gây ra những thiệt hại hoặc mất mát nghiêm trọng đối với tài sản, những cơ hội mà đáng lẽ họ sẽ được hưởng với từng mức độ khác nhau, uy tín kinh doanh trên thị trường mà còn tác động đến tinh thần, thể chất của các thương nhân và nguồn nhân lực của họ Thiệt hại của rủi ro phụ thuộc vào tần suất rủi ro và biên độ rủi ro17 Tần suất rủi

ro được hiểu là số lần xuất hiện rủi ro trong một khoảng thời gian và biên độ của rủi ro được hiểu là tính chất nguy hiểm, mức độ thiệt hại tác động tới chủ thể Khi rủi ro xuất hiện, dù với tần suất và biên độ ít hay nhiều cũng sẽ gắn liền với sự thiệt hại và chi phí liên quan Như đã đề cập, trong từng lĩnh vực thì rủi ro sẽ xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau phụ thuộc vào tính chất đặc thù của lĩnh vực đó Trong hoạt động mua bán hàng hóa, rủi ro có thể xuất hiện bởi những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan Những nguyên nhân khách quan gây ra rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá có thể

kể đến như: những yếu tố bất lợi của môi trường kinh tế như suy thoái kinh tế, lạm phát, thay đổi tỷ giá hối đoái…; sự không ổn định chính trị, thay đổi thể chế, chính sách, luật pháp theo hướng bất lợi; nhân tố từ môi trường văn hóa – xã hội như trở ngại từ định chế

xã hội, truyền thống, thuần phong mỹ tục, tập quán, thói quen tiêu dùng, văn hóa ứng xử…; điều kiện tự nhiên bất lợi như thiên tai, lũ lụt, hạn hán…; tình hình biến động của giá cả, khách hàng, nhà cung cấp18 Dù rủi ro có thể xuất phát từ nguyên nhân khách quan nhưng ít nhiều, trong một số trường hợp rủi ro có thể xuất hiện do những nguyên nhân chủ quan của các chủ thể trong hoạt động mua bán hàng hoá như thiếu kiến thức, kinh nghiệm; sơ xuất, bất cẩn, thiếu trách nhiệm; sai lầm trong lựa chọn, triển khai thực hiện chiến lược, kế hoạch; sai lầm trong ra quyết định và thực hiện quyết định Dù nguyên nhân gây ra rủi ro là khách quan hay chủ quan thì rủi ro luôn là sự kiện không mong đợi xảy ra nằm ngoài dự đoán của con người, đe dọa gây ra thiệt hại về lợi nhuận và làm ảnh hưởng đến những cơ hội mà chủ thể trong hoạt động mua bán hàng hoá lẽ ra được hưởng

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa như sau: “Rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa là sự mất mát, tổn thất ảnh hưởng tới giá trị hàng hóa Đây là sự kiện khách quan, nằm ngoài sự mong đợi của các bên trong hợp đồng nhưng có thể lường trước được”19

17 Nguyễn Ngọc Dương, “Quản trị rủi ro”, https://eldata11.topica.edu.vn/HocLieu/TC308/PDF

slide/TC308_Bai1_v1.0014111204.pdf, truy cập ngày 03/4/2022

18 Nguyễn Ngọc Dương, tlđd (1), tr 8

19 Nguyễn Thị Tuyết Lan (2020), Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá, Luận

văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 9

Trang 17

1.1.1.2 Khái niệm chuyển rủi ro

Rủi ro và trách nhiệm phải gánh chịu những hậu quả mà rủi ro gây ra là vấn đề phức tạp mà các bên trong hoạt động mua bán hàng hóa không mong muốn xảy ra bởi lẽ rủi ro gây ra những hệ quả tiêu cực mà bên gánh chịu rủi ro phải nỗ lực giải quyết để giảm thiểu thiệt hại Chuyển dịch rủi ro chính là một trong những cách thức để các bên trong hoạt động mua bán hàng hóa hạn chế tổn thất Những điều khoản thỏa thuận về vấn đề này trong hợp đồng cần phải chặt chẽ, không bỏ sót những trường hợp có thể phát sinh để tránh tranh chấp khi rủi ro xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng Nếu các bên không thoả thuận trong hợp đồng về điều khoản chuyển rủi ro, quy định của pháp luật sẽ điều chỉnh các vấn đề liên quan đến chuyển rủi ro trong quan hệ này Việc định liệu cách thức ngăn chặn và phân chia trách nhiệm gánh chịu rủi ro được gọi là phân bổ rủi ro CISG 1980 và pháp luật một số quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam định nghĩa việc phân bổ rủi ro này là “chuyển giao rủi ro” nhằm xác định sự chuyển giao trách nhiệm giữa các bên trong quá trình tham gia hợp đồng20

Chuyển dịch là sự thay đổi từ người này sang người khác, từ vị trí này sang vị trí khác21 Theo đó, chuyển rủi ro đối với hàng hoá là sự chuyển dịch những rủi ro từ người này sang người khác, hay sự thay đổi vị trí trách nhiệm gánh chịu rủi ro đối với hàng hóa

từ người này sang người khác Hoạt động mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi trong đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận22 Bên bán và bên mua là chủ thể trong hoạt động mua bán hàng hoá cũng đồng thời là đối tượng của quá trình chuyển dịch rủi ro, có nguy cơ sẽ chịu rủi ro đối với hàng hoá trong quá trình tham gia quan hệ hợp đồng này Như vậy, chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá có thể hiểu là

sự chuyển dịch rủi ro từ người này sang người khác, cụ thể quá trình chuyển dịch này có thể diễn ra từ người mua sang người bán hoặc từ người bán sang người mua trong quan

hệ hợp đồng mua bán hàng hoá Ngoài ra, trong hoạt động mua bán hàng hoá, đặc biệt

là mua bán hàng hóa quốc tế, chuyển dịch rủi ro có thể diễn ra từ người mua hoặc người bán hàng hoá cho người vận chuyển khi giữa họ có có sự ký kết các hợp đồng vận chuyển

20 Phạm Duy Nghĩa (2013), Giáo trình Luật kinh tế, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr 400

21 Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản TP.HCM, tr 371

22 Khoản 8 Điều 3 LTM 2005

Trang 18

Khi xác định được rủi ro đã được chuyển dịch cho chủ thể nào trong hoạt động mua bán hàng hoá thì chủ thể đó sẽ phải có trách nhiệm gánh chịu những hậu quả của sự mất mát, tổn thất đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá Tóm lại, bản chất pháp

lý của việc chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá là xác định thời điểm chuyển rủi ro, địa điểm chuyển rủi ro, bên nào có trách nhiệm gánh chịu những sự mất mát và tổn thất của hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá

1.1.2 Đặc điểm của rủi ro đối với hàng hoá và phân biệt rủi ro với sự kiện bất khả kháng trong hoạt động mua bán hàng hoá

1.1.2.1 Đặc điểm của rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá Trong hoạt động mua bán hàng hóa, rủi ro là vô cùng đa dạng và phức tạp mà chúng

ta không thể nào dự đoán một cách chính xác nó sẽ xảy ra như thế nào, xảy ra tại đâu và vào thời gian nào Việc các chủ thể trong hoạt động mua bán hàng hoá có thể hạn chế thấp nhất những tổn thất là dự đoán một cách tương đối rủi ro, nắm được những thuộc tính cơ bản của rủi ro để phòng ngừa, giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro Thông qua những khái niệm đã phân tích trên, rủi ro sẽ có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá có tính khách quan Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) và Luật Thương mại năm 2005 (LTM 2005) không quy định như thế nào được xem là một sự kiện xảy ra một cách khách quan Tuy vậy, có thể hiểu tính khách quan của rủi ro thể hiện ở việc nó xảy ra mà không phụ thuộc vào ý chí của con người Hay nói cách khác, sự kiện đó không do các bên tạo ra hoặc phát sinh do lỗi chủ quan của các bên và các bên không thể nào thay đổi được Cụ thể, rủi ro đối với hàng hóa có thể xảy ra từ những biến cố tự nhiên như thiên tai, bão lụt, động đất, sóng thần; từ những biến cố xã hội như chiến tranh, biểu tình, bãi công hay

từ những biến cố về mặt pháp lý như sự thay đổi chính sách pháp luật của nhà nước dẫn đến hàng hóa hiện tại theo quy định của pháp luật trở thành hàng hóa cấm lưu thông hoặc tàng trữ23 Các biến cố tự nhiên, xã hội, pháp lý tồn tại khách quan vì những lý do sau: Một là, do rủi ro có thể xảy ra đối với bất kỳ bên nào trong hoạt động mua bán hàng hoá dù là bên mua, bên bán hay bên vận chuyển Mặt khác, rủi ro có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào mà các chủ thể không thể xác định một cách chính xác

23 Nguyễn Thị Tuyết Lan, tlđd (1), tr.18

Trang 19

Hai là, do con người không thể tiếp cận toàn bộ các nguồn thông tin, không có năng lực để tiếp cận nguồn thông tin thể hiện sự tồn tại của rủi ro Lượng dữ liệu mà con người tạo ra mỗi ngày rất lớn và con số này vẫn không ngừng tăng lên khi công nghệ hiện diện trong mọi ngóc ngách cuộc sống Không có gì lạ khi con người ngày càng khó theo kịp tốc độ của thông tin, tiếp cận toàn bộ thông tin và cũng càng khó để xác định thông tin đúng hay sai Mặt khác, khả năng tiếp cận thông tin của mỗi người là khác nhau phụ thuộc vào điều kiện, phương tiện của họ Con người không có năng lực để tiếp cận nguồn thông tin thể hiện sự tồn tại của rủi ro vì tri thức con người là có hạn, con người không thể có “siêu năng lực” như trên phim ảnh để nhận thấy các khả năng có thể xảy ra Con người không thể nhìn thấy tương lai để nhận thấy những biến cố sẽ xảy ra, không có khả năng nghe nhìn trên phạm vi rộng nên không thể nhận biết ở khu vực đó đang xảy ra sự kiện gì Do đó con người không thể ngăn cản những biến cố mà mình không thể tiếp cận

Ba là, con người không đủ khả năng để kiểm soát, đo lường và hạn chế một cách chính xác, tuyệt đối những nguyên nhân của các biến cố Vạn vật trong cuộc sống đều chuyển động không ngừng, mỗi sự vật hay hiện tượng khác nhau lại có một phương thức chuyển động khác nhau Do vậy, không một người nào có thể dự đoán đầy đủ và chính xác sự kiện đó sẽ xảy ra như thế nào, mức độ và phạm vi ảnh hưởng ra sao; cũng không một ai có kiến thức và kinh nghiệm giải quyết mọi tình huống xảy ra

Thứ hai, rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá có tính không mong đợi Rủi ro là sự kiện xảy ra một cách bất ngờ, nằm ngoài sự mong đợi của các bên và không bên nào mong muốn rủi ro xảy ra với mình Vì sự kiện xảy ra nằm ngoài

dự đoán, những quy định mà các bên giao kết trong hợp đồng nên các bên không có sự chuẩn bị để ứng phó, thích nghi nên khi rủi ro xảy ra sẽ dẫn đến một kết quả không được các bên mong muốn Kết quả được mong đợi của các bên giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá là khi mục đích của họ như lợi nhuận, quyền và lợi ích liên quan đến hợp đồng được diễn ra một cách trôi chảy, đạt đúng dự tính của các bên Rủi ro là những nguyên nhân hạn chế kết quả mong muốn, đồng thời gây cản trở quá trình thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu mà các bên trong hợp đồng đề ra

Thứ ba, rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá có tính thiệt hại Xuất phát từ tính không mong đợi, các bên không có sự chuẩn bị nguồn nhân lực, nguồn vật lực hay tài sản để ứng phó với các sự kiện xảy ra nằm ngoài dự tính nên dẫn đến những thiệt hại không mong muốn Thiệt hại mà rủi ro gây ra trong hoạt động mua bán hàng hoá không chỉ tác động đến hàng hoá mà còn tác động đến các bên trong quan hệ

Trang 20

mua bán, hoạt động kinh doanh Thiệt hại đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá mà rủi ro mang lại luôn là thiệt hại vật chất như sự hư hỏng, mất mát, không còn đáp ứng chất lượng và tính năng sử dụng đối với hàng hoá Đối với các bên trong quan hệ mua bán, rủi ro xảy đến ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ khi giao kết hợp đồng, mất đi những cơ hội mà lẽ ra họ được hưởng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần thậm chí là tính mạng của các bên Đối với hoạt động kinh doanh, rủi ro làm ảnh hưởng đến khả năng tái sản xuất của quy trình sản xuất, khả năng xoay chuyển nguồn vốn, chi trả kinh phí cho các nguồn nhân lực và vật lực

Thứ tư, rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá có tính bất định Tính bất định là sự không ổn định, ngẫu nhiên, không chắc chắn, không thể nhận biết về các sự kiện tiếp diễn trong tương lai Tính bất định của rủi ro thể hiện ở việc các bên trong hoạt động mua bán hàng hoá có thể lường trước được rủi ro nhưng không thể đánh giá một cách chính xác về mức độ của rủi ro và khi nào rủi ro xảy ra24 Rủi ro đối với hàng hoá chỉ có thể lường trước được chứ không thể xác định chính xác loại sự cố, diễn

ra vào thời gian và địa điểm nào, mức độ thiệt hại ra sao Sự lường trước rủi ro có thể hiểu đơn giản là sự dự trù đối với hàng hóa như vậy thì chặng đường vận chuyển, nhu cầu của đối tác, chính sách pháp luật của quốc gia nơi đối tác hoạt động, điều kiện tự nhiên có thích hợp để đưa hàng hoá đến nơi nhận hàng an toàn và với những yếu tố như vậy thì có thể xảy ra những loại rủi ro gì, có thể xảy ra trong hoàn cảnh nào để chủ động trong việc ứng phó rủi ro25 Tuy nhiên, sự lường trước đó cũng chỉ mang tính ước lượng,

dự đoán chứ không chính xác, rõ ràng đối với những biến cố có thể xảy đến

Thứ năm, rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá có tính khả năng Các rủi ro nói chung luôn có cơ hội xảy ra, nhưng không thể khẳng định rằng rủi

ro đó 100% sẽ xảy ra hay 0% sẽ không bao giờ xảy ra26 Cho rằng rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa có tính khả năng vì nó là nguy cơ tiềm ẩn không mang tính chắc chắn27 Khẳng định như thế vì rủi ro mang tính xác suất, nghi ngờ, không

cố định nên rủi ro mà chúng ta dự đoán có khả năng xảy ra hoặc không xảy ra trên thực

tế Việc rủi ro có thể phát sinh hay không phụ thuộc vào các yếu tố liên quan tác động đến nó trong những điều kiện nhất định Khi có đầy đủ điều kiện, khả năng sẽ trở thành

24 Nguyễn Thị Tuyết Lan, tlđd (2), tr.19

25 Nguyễn Thị Tuyết Lan, tlđd (3), tr.20

26 Nguyễn Quang Cúc Hoà (2019), “Một số vấn đề về quản trị rủi ro trong doanh nghiệp”, Tạp chí Tài chính, kỳ 2

tháng 5/2019, tr 109

27 Đinh Ngọc Tuấn (2004), Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Ngoại thương, tr 21

Trang 21

hiện thực và ngược lại khi không có hoặc chưa đủ điều kiện thì khả năng chưa được chuyển hoá thành hiện thực Theo quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, khả năng và hiện thực có mối quan hệ biện chứng vì khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, luôn chuyển hóa lẫn nhau28 Do đó, muốn hạn chế được rủi ro trên thực tế phải nhận biết được xác suất, khả năng xảy ra của nó 1.1.2.2 Phân biệt rủi ro với sự kiện bất khả kháng

Từ những đặc điểm và tính chất của rủi ro nêu trên, xét thấy cần phân biệt khái niệm “rủi ro” và “sự kiện bất khả kháng” Bởi lẽ, “rủi ro” và “sự kiện bất khả kháng” đều là những sự kiện mang tính khách quan, nằm ngoài sự mong đợi của các bên trong quá trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá do đó dễ dẫn đến việc nhầm lẫn giữa hai khái niệm này Một sự kiện được coi là khách quan khi sự kiện đó không do các bên tạo ra hoặc phát sinh do lỗi chủ quan của các bên Tuy cùng là sự kiện khách quan nhưng cần nhấn mạnh rằng “rủi ro” và “sự kiện bất khả kháng” lại có bản chất riêng biệt dẫn đến hệ quả pháp lý của hai sự kiện này cũng không giống nhau Việc nhận biết nguyên nhân dẫn đến những thiệt hại về hàng hoá trong quan hệ mua bán hàng hoá do “rủi ro” hay “sự kiện bất khả kháng” giúp các bên xác định được trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan của bản thân đối với sự mất mát hoặc tổn thất của hàng hoá trong quan hệ mua bán hàng hoá đó khi xảy ra các vấn đề tranh chấp trong hợp đồng

Theo quy định của BLDS 2015, “sự kiện bất khả kháng” là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép29 Tóm lại, một sự kiện được coi là bất khả kháng khi đáp ứng đủ các điều kiện: (i) xảy ra khách quan, (ii) không thể lường trước được, (iii) không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép Sự kiện bất khả kháng giải phóng một hay các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá ra khỏi các trách nhiệm pháp lý, nghĩa vụ khi có những tình huống bất thường vượt ngoài tầm kiểm soát của các bên xảy ra và sự việc đó ngăn cản một hay các bên hoàn thành nghĩa vụ của mình trong hợp đồng Tuy nhiên, sự kiện bất khả kháng không miễn trách cho các bên trong trường hợp thiệt hại phát sinh do cho lỗi của các bên xuất phát từ các sơ suất hay hành vi phi pháp hoặc khi các hoàn cảnh can thiệp vào việc thực hiện hợp đồng đã được dự tính một cách rõ ràng Tóm lại, “sự kiện bất khả kháng”

28 “Khả năng và hiện thực (Chủ nghĩa Marx-Lenin)”,

https://vi.wikipedia.org/wiki/Khả_năng_và_hiện_thực_(Chủ_nghĩa_Marx-Lenin) - :~:text=của con người.-,Mối quan hệ biện chứng,khả năng thành hiện thực., truy cập ngày 10/4/2022

29 Khoản 1 Điều 156 BLDS 2015

Trang 22

là sự kiện khách quan xảy ra sau khi ký hợp đồng, không do lỗi của các bên trong hợp đồng và là sự kiện mà các bên trong hợp đồng không thể dự đoán và khống chế được30 Trong khi đó, “rủi ro” là sự kiện khách quan, nằm ngoài sự mong đợi của các bên trong hợp đồng, gây nên những tổn thất cho con người nhưng có thể lường trước được Theo đó, chủ thể nào trong hoạt động mua bán hàng hoá đã được chuyển rủi ro thì chủ thể đó sẽ phải có trách nhiệm gánh chịu những hậu quả của sự mất mát, tổn thất đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá Nội dung này đã được phân tích cụ thể tại phần nội dung 1.1 khái quát chung về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá Như vậy, có sự khác biệt rõ ràng giữa khái niệm và bản chất pháp lý giữa “rủi ro”

và “sự kiện bất khả kháng” theo quy định của pháp luật Theo đó, “sự kiện bất khả kháng”

là sự kiện khách quan không thể lường trước được, không thể khắc phục được, hệ quả pháp lý của sự kiện bất khả kháng là một hoặc các bên được miễn trách nhiệm một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng Trong khi đó, “rủi ro” là sự kiện khách quan xảy ra ngoài sự kiểm soát của con người, có thể lường trước được, đồng thời hệ quả pháp lý của rủi ro là bên gánh chịu rủi ro phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại, tổn thất đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá

1.1.3 Các loại rủi ro thường gặp và phân loại rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá

1.1.3.1 Phân loại rủi ro

Rủi ro tồn tại xung quanh môi trường sống của chúng ta, xuất hiện ở mọi lĩnh vực, mọi nơi và có thể xảy đến với bất kỳ ai Để phân loại rủi ro, người ta thường dựa trên rất nhiều tiêu chí, sau đây là các căn cứ phân loại rủi ro phổ biến: căn cứ vào nguồn gốc rủi

ro, căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng của rủi ro và căn cứ vào tính chất rủi ro

Thứ nhất, phân loại rủi ro căn cứ vào nguồn gốc của rủi ro

Dựa trên nguồn gốc phát sinh của rủi ro, rủi ro được chia thành hai nhóm cơ bản là rủi ro phát sinh do sự thay đổi môi trường kinh doanh và rủi ro phát sinh từ quá trình thực hiện nghiệp vụ mua bán hàng hoá31 Hay nói cách khác, rủi ro có thể xuất hiện vì yếu tố khách quan hoặc yếu tố chủ quan Theo đó:

30 Nguyễn Thị Tuyết Lan, tlđd (4), tr 22

31 Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2018), Pháp luật về thời điểm chuyển rủi ro đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật - Đại học Huế, tr 8

Trang 23

Rủi ro do các yếu tố khách quan là rủi ro nằm ngoài ý muốn của con người và không thể kiểm soát được Những yếu tố khách quan có thể xuất phát từ môi trường thiên nhiên do các hiện tượng tự nhiên; các yếu tố liên quan đến kinh tế, xã hội, chính trị Ngoài ra, rủi ro có thể xuất hiện từ chính bản chất của hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá (bột bị lên men, ngũ cốc bị mốc mọt, sắt thép bị rỉ sét) Ví dụ rủi ro do yếu

tố khách quan: cơn bão ở Đại Tây Dương gây gián đoạn cho các chuỗi cung ứng khi xảy

ra tình trạng tắc nghẽn tại các cảng xuất, nhập khẩu hay trung chuyển hàng kéo dài Rủi ro do các yếu tố chủ quan là rủi ro do hành vi của con người gây ra như hành

vi bất cẩn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kỹ năng trong quá trình đóng gói, vận chuyển, bảo quản hàng hóa không đảm Ngoài ra, loại rủi ro này cũng có thể xuất phát từ chính sách quản lý, chiến lược kinh doanh không đảm bảo an toàn của con người Ví dụ rủi ro do các yếu tố chủ quan: một người không có những kiến thức về vận chuyển bình gas sẽ không biết những nguyên tắc cơ bản khi vận chuyển bình gas bằng xe hai bánh như bình gas phải luôn ở vị trí thẳng đứng, van hướng lên trên, số lượng chuyên chở không được vượt quá hai bình, từ đó dễ xảy ra những tình huống nguy hiểm khi vận chuyển sai cách

Thứ hai, phân loại rủi ro căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng

Dựa vào phạm vi ảnh hưởng của rủi ro, có thể chia rủi ro thành hai nhóm cơ bản là rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt Theo đó32:

Rủi ro cơ bản là những rủi ro phát sinh ngoài sự kiểm soát của tất cả mọi người Hậu quả của rủi ro cơ bản thường rất nghiêm trọng, nó tác động trên một phạm vi rộng lớn hay tác tác động đến tất cả dân số, có ảnh hưởng đến cộng đồng và toàn xã hội Ví dụ: chiến tranh, dịch bệnh toàn cầu, khủng hoảng kinh tế,…

Rủi ro riêng biệt là là những rủi ro phát sinh từ một số hiện tượng cá biệt và ảnh hưởng đến lợi ích của một hoặc một nhóm cá nhân, tổ chức nhất định Hậu quả của rủi

ro cơ bản đối với các chủ thể bị tác động trực tiếp rất nghiêm trọng nhưng không ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế xã hội Ví dụ: đắm tàu, cháy kho, rủi ro thanh toán,…

Thứ ba, phân loại rủi ro căn cứ vào tính chất của rủi ro

Dựa vào phạm vi ảnh hưởng của rủi ro, có thể chia rủi ro thành hai nhóm cơ bản là rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán Như đã đề cập, rủi ro là sự kiện xảy ra ngoài mong

32 Nguyễn Thị Tuyết Lan, tlđd (5), tr.25

Trang 24

đợi của con người và mang lại những thiệt hại, mất mát cho hàng hoá, tuy nhiên rủi ro cũng mang lại cho chúng ta những lợi ích, cơ hội Theo đó:

Rủi ro thuần tuý là loại rủi ro chỉ mang lại những hậu quả không có lợi hoặc những tổn thất, mất mát đối với hàng hoá Tức là, khi xảy ra các rủi ro này thì chắc chắn có thiệt hại mà không thể xoay chuyển tình thế Rủi ro thuần tuý có thể xuất phát từ rủi ro

cá nhân, rủi ro tài sản, rủi ro pháp lý hay rủi ro phát sinh do sự phá sản của người khác33 Rủi ro suy đoán là những rủi ro có thể vừa có thể mang lại những tổn thất, mất mát nhưng cũng có thể mang lại lợi ích Rủi ro suy đoán có thể xuất phát từ rủi ro do sự thay đổi thị hiếu của khách hàng, rủi ro do lạm phát, rủi ro do điều kiện không ổn định của thuế, rủi ro do thiếu thông tin, rủi ro do tình hình chính trị bất ổn34 Đây là loại rủi ro mà các bên trong hoạt động mua bán hàng hoá có thể đưa ra những giải pháp ứng biến linh hoạt phù hợp với hoàn cảnh để “biến bại thành thắng”

1.1.3.2 Các loại rủi ro thường gặp

“Take the risk or lose the chance” – chấp nhận rủi ro hay đánh mất cơ hội là một câu “thần chú” mà các doanh nhân thường áp dụng Trong hoạt động mua bán hàng hóa, rủi ro là một sự kiện không mong đợi với xác suất xuất hiện rất lớn Bởi lẽ, trong giới kinh doanh có câu “no risk no profit” nghĩa là không có rủi ro thì không có lợi nhuận Hoạt động mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại với mục đích chính là sinh lợi Điều này đồng nghĩa với việc thương nhân phải chấp nhận rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng nếu muốn có lợi nhuận Khi tham gia vào hoạt động mua bán hàng hóa, các thương nhân thường gặp rất nhiều rủi ro Mỗi loại rủi ro sẽ có sự ảnh hưởng với mức

độ khác nhau do đó tương ứng với mỗi loại rủi ro, cần phải có những biện pháp phòng ngừa và khắc phục phù hợp Trong hoạt động mua bán hàng hoá sẽ có những loại rủi ro thường xuyên xảy ra mà các bên cần nghiên cứu để phòng ngừa, hạn chế tối đa khả năng xảy ra của nó Một số rủi ro thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hoá như sau:

Thứ nhất rủi ro về mặt chính trị: Chính phủ ở mỗi quốc gia sẽ có những mô hình

tổ chức khác nhau, đồng thời mỗi Chính phủ khi cầm quyền sẽ có những chính sách, cách quản lý khác theo quan điểm của họ Chính vì vậy, nếu các bên không cập nhật và nghiên cứu về thể chế chính trị quốc gia của đối tác trong quan hệ mua bán hàng hoá của mình sẽ dẫn đến những thiệt hại do không hiểu biết, không nắm vững các quy định quan

33 Nguyễn Hải Quang, “Quản trị rủi ro”, 1678520.html, truy cập ngày 15/4/2022

https://tailieu.vn/doc/bai-giang-quan-tri-rui-ro-ts-nguyen-hai-quang-34 Nguyễn Hải Quang, tlđd (1), tr 12

Trang 25

trọng Ở những nước có chế độ chính trị ổn định thì mức độ rủi ro chính trị thấp, ngược lại ở những nước thường xảy ra bạo loạn, đảo chính hay chính sách thường xuyên thay đổi thì rủi ro chính trị sẽ ở mức cao35 Rủi ro chính trị có thể là chiến tranh, xung đột giữa các quốc gia hoặc rủi ro liên quan đến các chính sách pháp luật của mỗi quốc gia như điều kiện gia hạn, hủy bỏ giấy phép xuất, nhập khẩu…36 Ví dụ: sự kiện Liên minh Châu Âu (EU) đề xuất lệnh cấm nhập khẩu dầu từ Nga như một phần của vòng trừng phạt sau cuộc chiến ở Ukraine Các thương nhân Châu Âu sẽ bị tác động trực tiếp đến lợi nhuận trong hoạt động mua bán hàng hoá vì giá xăng dầu tăng đột biến37

Thứ hai, rủi ro về mặt hàng hoá: hoạt động mua bán hàng hoá có đặc thù là phải vận chuyển hàng hoá từ người bán sang người mua với khoảng cách nhất định Trên quãng đường vận chuyển, hàng hoá dễ gặp những rủi ro ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị hàng hoá do các yếu tố khách quan như thiên nhiên hoặc do quá trình đóng gói, bốc hàng, vận chuyển hàng Ngoài ra, có những thiệt hại do hàng hoá tự tạo ra mà không cần có nguyên nhân bên ngoài nào tác động Thiệt hại hàng hóa do một trong các bên vi phạm hợp đồng như giao hàng không phù hợp với hợp đồng, không giao hàng, giao hàng thiếu, giao hàng chậm, người mua từ chối nhận hàng đều không được coi là rủi ro đối với hàng hóa Sau đây là ví dụ cho trường hợp hàng hoá bị thiệt hại do nội tì của hàng hoá38:

Bên mua (người Ai Cập) và bên bán (người Nga) ký hợp đồng mua bán 1000 MT ammonium sulphate Khi hàng được dỡ lên cảng chặng hai để chuyển đi thì rất nhiều bao hàng bị bục, rách trong điều kiện hết sức rồi tệ nên thuyền trưởng từ chối chuyển hàng Tuy nhiên, thuyền trưởng được trao thư bảo đảm miễn mọi trách nhiệm và xếp hàng lên tàu Khi bên mua nhận được hàng hóa, hàng hoá đã trong tình trạng thiếu hụt

và bao bì không đảm bảo làm hàng hóa bị đổ vãi Bên bán và người bảo hiểm đùn đẩy trách nhiệm cho nhau nên bên mua đã kiện ra trọng tài Giám định viên kết luận do tác động ăn mòn của ammonium sulphate nên bao bì bị rách Như vậy, bao bì bị hư hại do tính chất ăn mòn của hàng hóa, nghĩa là tổn thất tự xảy ra do nội tì của hàng hóa Do vậy, người bảo hiểm từ chối bảo hiểm và hội đồng trọng tài kết luận bên bán đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo điều kiện CIF quy định trong hợp đồng Theo đó, bên bán chỉ

35 Nguyễn Thị Tuyết Lan, tlđd (6), tr.28

36 “Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế”, binh-luan/rui-ro-trong-hoat-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te-98051.html, truy cậo ngày 17/4/2022

https://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu trao-doi/trao-doi-37 “EU cấm dầu mỏ Nga tác động thế nào tới giá xăng dầu”, dong-the-nao-toi-gia-xang-dau-1041322.ldo, truy cập ngày 17/4/2022

https://laodong.vn/tu-lieu/eu-cam-dau-mo-nga-tac-38 Trần Hữu Huỳnh (2007), Các quyết định trọng tài quốc tế chọn lọc, Nhà xuất bản Tư pháp, Quyết định số 32,

tr 75

Trang 26

đảm bảo hàng hóa lúc xếp hàng lên tại cảng xếp hàng đúng như quy định trong hợp đồng

và không chịu trách nhiệm về hư hỏng hàng hóa xảy ra sau đó trừ phi tổn thất xảy ra do lỗi của bên bán Bên cạnh đó, bên mua đã không chứng minh được lỗi của bên bán nên Hội đồng trọng tài bác đơn kiện của bên mua và bên bán không phải chịu thiệt hại này

Thứ ba, rủi ro về pháp lý: rủi ro pháp lý là những rủi ro do sự thiếu hiểu biết về môi trường pháp lý hoặc do biến động của môi trường pháp lý như: sự thay đổi về luật pháp, sự chồng chéo không thống nhất các văn bản pháp luật mà gây thiệt hại các bên trong hoạt động mua bán hàng hoá39 Môi trường pháp lý rất phức tạp bởi lẽ mỗi quốc gia sẽ có những quan điểm lập pháp khác nhau phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và chính trị của quốc gia đó Do đó, cần phải có sự am hiểu các quy định pháp luật hiện hành của quốc gia đó nhằm tuân thủ, áp dụng pháp luật một cách chính xác Những rủi

ro pháp lý thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hoá như: rào cản thương mại; doanh nghiệp bị kiện chống bán phá giá và bị áp mức thuế chống bán phá giá; các vấn

đề sở hữu trí tuệ; các quy định xác lập quyền và chuyển dịch quyền sở hữu, quyền quản

lý hàng hóa theo pháp luật; giá cả và phương thức thanh toán

Thứ tư, rủi ro về môi trường văn hoá: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy

đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”40 Rủi ro về môi trường văn hoá xuất phát từ sự không tìm hiểu, thiếu hiểu biết về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lối sống của dân tộc khác Sự thiếu hiểu biết về văn hoá dân tộc của các quốc gia sẽ dẫn đến việc cư xử không phù hợp dẫn đến việc mất đi cơ hội kinh doanh Ví dụ, 60% dân số Israel là người Do Thái có một bộ luật quy định chế độ ăn uống là kashrut Các loại thực phẩm có thể được tiêu thụ gọi chung là thức ăn Kosher, không được trộn chung thịt với sản phẩm từ sữa Tuy nhiên, lớp vỏ bột chiên bao ngoài miếng gà của KFC được làm từ bột sữa bò, tức là món ăn đã trộn chung thịt với sữa Họ cho rằng, sữa tượng trưng cho sự sống còn thịt tượng trưng cho cái chết nên quy định này nhằm tôn vinh sự sống và không muốn trộn lẫn hai biểu tượng trái ngược41 KFC không am hiểu văn hoá của Israel đã làm ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh của họ và minh chứng là họ đã thất bại ba lần tại thị trường Israel

39 Phan Văn Mạnh, tlđd (1) , tr 15

40 Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tr 78

41 Mộc Dương, 22.000 cửa hàng trên toàn thế giới nhưng vì sao KFC mất 40 năm vẫn chưa có chỗ đứng ở Israel? https://cafebiz.vn/22000-cua-hang-tren-toan-the-gioi-nhung-vi-sao-kfc-mat-40-nam-van-chua-co-cho-dung-o- israel-20191224235202982.chn, truy cập ngày 18/4/2022

Trang 27

1.1.4 Thời điểm chuyển rủi ro

1.1.4.1 Khái niệm thời điểm chuyển rủi ro

Như đã đề cập, chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá có thể hiểu là sự chuyển dịch rủi ro từ người này sang người khác, quá trình chuyển dịch này có thể diễn

ra từ người mua sang người bán hoặc ngược lại trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá Sau khi rủi ro được chuyển dịch, chủ thể được chuyển dịch rủi ro sẽ có trách nhiệm gánh chịu những thiệt hại do hàng hóa bị mất mát hay hư hỏng Sự chuyển dịch rủi ro còn có thể diễn ra giữa người bán hoặc người mua cho người vận chuyển hàng hóa vì trong hoạt động mua bán hàng hóa, đặc biệt là hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, phần lớn việc giao hàng thông qua người vận chuyển thông qua hợp đồng vận chuyển Người vận chuyển chỉ gánh chịu thiệt hại nếu họ có lỗi trong quá trình chuyên chở42 Tuy nhiên, hợp đồng vận chuyển không là một phần của hợp đồng mua bán hàng hoá

mà là sự thỏa thuận độc lập của bên bán hoặc bên mua đối với người vận chuyển vì vậy khi nghiên cứu rủi ro hợp đồng mua bán hàng hoá sẽ không đề cập đến sự dịch chuyển rủi ro từ bên mua hoặc bên bán sang người vận chuyển mà chỉ đề cập đến sự chuyển dịch rủi ro giữa bên bán và bên mua

Từ lúc thiết lập hợp đồng mua bán cho đến khi có sự chuyển giao trên thực tế cho bên mua, hàng hoá có thể phải chịu mất mát hoặc hư hại tại nhiều thời điểm bởi lẽ hoạt động thiết lập hàng hoá và hoạt động chuyển giao trên thực tế cho bên mua có thể trùng nhau nhưng cũng có thể cách nhau một khoảng thời gian dài, đặc biệt là trong hợp đồng mua bán hàng hoá có khoảng cách xa43 Trong suốt quá trình này, luôn luôn tồn tại những nguy cơ tiềm ẩn làm hàng hoá có thể bị mất mát, hư hại trước khi được chuyển giao trên thực tế cho bên mua Bởi lẽ vậy, cần phân định trách nhiệm rõ ràng tại một thời điểm cụ thể để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Do đó, có thể nói vấn đề khi nào rủi ro được chuyển và trách nhiệm gánh chịu những thiệt hại hàng hóa được chuyển giao hay nói ngắn gọn là thời điểm chuyển rủi ro là thời điểm nào có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động mua bán hàng hoá Rủi ro là điều không ai mong muốn nên cần xác định thời điểm từ khi nào bên bán hết trách nhiệm chịu rủi ro đối với hàng hoá

và từ thời điểm nào rủi ro đối với hàng hoá chuyển dịch sang cho bên mua Điều này vừa

có ý nghĩa pháp lý, vừa có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng

42 Phan Văn Mạnh, tlđd (2), tr 30

43 Nguyễn Thị Tuyết Lan, tlđd (7), tr 10

Trang 28

Thời điểm chuyển rủi ro không được định nghĩa cụ thể trong BLDS 2015 và LTM

2005 Theo nghĩa thông thường, thời điểm được định nghĩa là một “điểm mốc” trong một khoảng thời gian nào đấy Thời điểm không có độ dài, nghĩa là chỉ được dùng để chỉ “một điểm” để làm “mốc” trong thời gian44 Từ khái niệm về thời điểm cùng với khái niệm của chuyển dịch rủi ro đối với hàng hóa thì thời điểm chuyển dịch rủi ro được hiểu

là một mốc thời gian mà tại đó rủi ro đối với hàng hóa đã được chuyển giao từ bên bán sang bên mua Hay quan điểm của tác giả khác xác định rõ ràng hơn: “thời điểm chuyển dịch rủi ro trong mua bán hàng hoá là một mốc thời gian cụ thể, nhằm xác định được rủi

ro đã được chuyển dịch từ bên bán sang bên mua, theo đó các bên sẽ dựa vào cột mốc này để phân định quyền và nghĩa vụ của mình khi có rủi ro xảy ra trên thực tế”45

Từ thời điểm rủi ro được chuyển sang cho bên mua, bên mua phải chịu mọi hậu quả của việc hàng hoá bị tổn thất do những tình huống bất thường Mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa xảy ra sau thời điểm rủi ro được chuyển cho bên mua không giải phóng cho bên mua khỏi nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng, trừ trường hợp việc mất mát hoặc

hư hỏng đó là do hành động hoặc sơ suất của bên bán46 Đồng nghĩa với việc sau thời điểm chuyển rủi ro, nếu muốn bên bán phải chịu trách nhiệm trước những tổn thất của hàng hoá thì bên mua phải chứng minh sự tổn thất hàng hoá này đã diễn ra trước thời điểm bên bán chuyển rủi ro hàng hoá cho bên mua Như vậy, câu hỏi được đặt ra là như thế nào được xem là “hành động hoặc sơ suất” của bên bán tại Điều 66 CISG 1980

“Hành động hoặc sơ suất” bao gồm tất cả các hành động của bên bán hay chỉ bao gồm những hành động cấu thành các hành vi vi phạm hợp đồng Theo bình luận của Ban thư

ký về Điều 78 của Bản dự thảo 1978 (sau này là Điều 66 CISG 1980)47, Điều 66 không chỉ hướng đến các hành động hoặc sơ suất của bên bán mà nó cấu thành một vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Tức là, bất kỳ hành động nào của bên bán vi phạm nghĩa vụ pháp lý theo quy định của Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dẫn đến những mất mát hoặc

hư hỏng hàng hoá đều được xác định là “hành động hoặc sơ suất” của bên bán

Trên thực tế, rủi ro có thể lường trước được nhưng không thể lường trước một cách chính xác loại rủi ro nào sẽ xảy ra, địa điểm xảy ra, mức độ thiệt hại như thế nào do đó rủi ro có thể sẽ xảy ra dẫn đến những thiệt hại cho hàng hoá và cả những bên liên quan

44 “Thời điểm”, https://vi.wikipedia.org/wiki/Thời_điểm, truy cập ngày 20/4/2022

45 Nguyễn Thị Ngọc Huyền, tlđd (1), tr.8

46 Điều 66 Công ước Viên 1980

47 Michiel Buydaert, “The passing of risk in the international Sale of goods: A comparison between the CISG and the Incoterms”, https://libstore.ugent.be/fulltxt/RUG01/002/060/824/RUG01-002060824_2013_0001_AC.pdf, truy cập ngày 01/5/2022

Trang 29

đến việc thực hiện hợp đồng Lúc này, thời điểm chuyển rủi ro có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó giúp xác định được trách nhiệm chịu rủi ro thuộc về bên nào Nhìn chung, pháp luật của các quốc gia đều quy định thời điểm này do các bên thỏa thuận và khoa học pháp lý ghi nhận các quốc gia quy định về vấn đề này theo ba học thuyết chủ yếu48: Quan điểm thứ nhất: quan điểm của các quốc gia áp dụng luật La Mã cổ đại –Perculum est emptoris như Thụy Sỹ, Hà Lan, Tây Ban Nha và một số nước ở châu Mỹ

La Tinh Theo quan điểm này, thời điểm chuyển rủi ro từ bên bán sang bên mua là thời điểm ký kết hợp đồng mà không phụ thuộc vào việc quyền sở hữu đối với hàng hóa đã chuyển giao cho bên mua vào thời điểm đó hay chưa Quy định này không phù hợp với thực tiễn vì khi ký kết hợp đồng, hàng hoá vẫn nằm trong sự kiểm soát của bên bán, trong khi đó rủi ro đã được chuyển sang bên mua Việc áp dụng nguyên tắc này không đảm bảo quyền lợi của bên mua trong hoạt động mua bán hàng hoá

Quan điểm thứ hai: quan điểm của các nước áp dụng nguyên tắc rủi ro do chủ sở hữu chịu – Res perit domino như nước Anh hoặc Pháp Theo nguyên tắc này, thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa trùng với thời điểm chuyển quyền sở hữu Người sở hữu hàng hoá tại thời điểm hàng hoá bị thiệt hại là người phải chịu tổn thất Trên thực tế, đặc biệt đối với các giao dịch thương mại quốc tế, quyền sở hữu hàng hoá không có mối quan hệ với khái niệm rủi ro Bởi lẽ, bên bán khi giao hàng cho người vận chuyển sẽ không chuyển giao các giấy tờ liên quan đến việc xác lập quyền sở hữu hàng hoá cho đến khi bên mua hoàn thành nghĩa vụ thanh toán Do đó, sẽ có những trường hợp bên bán phải chịu rủi ro đối với hàng hoá khi đang nằm dưới sự kiểm soát của bên mua Quan điểm thứ ba: quan điểm của một số nước khác như Nga, Đức xác định thời điểm chuyển dịch rủi ro trùng với thời điểm người mua hoàn thành nghĩa vụ giao hàng Tức là, bên nào quản lý hàng hóa trên thực tế sẽ phải chịu rủi ro Học thuyết này cho thấy những điểm ưu việt hơn so với các học thuyết còn lại, bởi lẽ bên nào chiếm hữu hàng hóa trên thực tế sẽ có điều kiện tốt hơn trong việc bảo quản, bảo vệ hàng hoá cũng như thực hiện các biện pháp khắc phục những rủi ro đã xảy ra với hàng hoá

Quan điểm của pháp luật Việt Nam về thời điểm chuyển rủi ro được quy định như sau: Theo Luật Thương mại năm 1997, “Người mua phải chịu rủi ro đối với hàng hoá

48 Trần Viết Long, Bùi Thị Quỳnh Trang (2021), “Chuyển rủi ro đối với hàng hoá trong Công ước Viên 1980: tiếp cận pháp lý và khuyến nghị thực thi tại Việt Nam ”, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số chuyên đề 01/2021, tr

122

Trang 30

trên đường vận chuyển kể từ thời điểm quyền sở hữu hàng hoá được chuyển từ người bán sang người mua nếu không phải do lỗi của người bán hoặc của người vận chuyển”49 Tức là, thời điểm chuyển rủi ro trùng với thời điểm chuyển quyền sở hữu Quy định này thể hiện sự không hợp lý ở hai vấn đề: thứ nhất là không đề cập đến sự tự do thỏa thuận của các bên về thời điểm chuyển rủi ro, thứ hai là vấn đề quyền sở hữu không phải lúc nào cũng được chuyển từ bên bán sang bên mua khi bên bán thực hiện xong nghĩa vụ giao hàng của mình Khắc phục các điểm không hợp lý này của Luật Thương mại năm

1997, quy định của LTM 2005 trên hết tôn trọng sự thỏa thuận của các bên về thời điểm chuyển rủi ro bằng cụm từ “trừ trường hợp có thoả thuận khác” tại các điều khoản liên quan đến thời điểm chuyển rủi ro, đồng thời thể hiện tính chặt chẽ hơn khi xác định thời điểm chuyển rủi ro trong từng trường hợp cụ thể chứ không chung chung và kém linh hoạt như quy định cũ Về nguyên tắc chung, pháp luật ưu tiên tôn trọng sự thoả thuận, ý chí của các bên trong hoạt động mua bán hàng hoá Tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của các bên cũng như các điều khoản liên quan khác quy định trong hợp đồng mà trách nhiệm chịu rủi ro đối với hàng hóa sẽ được chuyển cho bên mua hoặc thuộc về bên bán50 Trong trường hợp các bên không thỏa thuận hoặc không đạt được thỏa thuận về vấn đề thời điểm chuyển rủi ro, LTM 2005 sẽ can thiệp điều chỉnh mối quan hệ này

1.1.4.2 Đặc điểm thời điểm chuyển rủi ro

Thứ nhất, thời điểm chuyển rủi ro trong từng trường hợp cụ thể khác nhau sẽ được xác định khác nhau Thời điểm chuyển rủi ro của hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hoá được quy định tại các Điều 57, 58, 59, 60, 61 của LTM 2005 Theo đó, thời điểm chuyển rủi ro sẽ theo thoả thuận của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá Nếu các bên không có thỏa thuận nào về thời điểm chuyển rủi ro được ghi nhận trong hợp đồng thì sẽ áp dụng quy định theo LTM 2005

Theo quy định của LTM 2005, chuyển rủi ro được xác định bằng cách phân chia nhiều trường hợp khác nhau: trường hợp có địa điểm giao hàng xác định theo Điều 57, trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định theo Điều 58, trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển theo Điều 59, trường

49 Điều 76 Luật Thương mại năm 1997

50 Nguyễn Thuỵ Phương (2018), “Hạn chế rủi ro trong giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại”, Tạp chí Kinh

tế Châu Á - Thái Bình Dương, tháng 4 - 2018, tr 18

Trang 31

hợp mua bán hàng hoá đang trên đường vận chuyển theo Điều 60 và chuyển rủi ro trong các trường hợp khác theo Điều 61

Thứ hai, thời điểm chuyển rủi ro không đồng nhất với thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá Pháp luật Việt Nam phân biệt cụ thể hai khái niệm thời điểm chuyển rủi ro và thời điểm chuyển quyền sở hữu mà không gắn hai thời điểm này với nhau vì bản chất của hai sự kiện này là khác nhau hoàn toàn Thời điểm chuyển rủi ro trên thực tế sẽ trùng với thời điểm chuyển quyền sở hữu nhưng cũng

có trường hợp hai thời điểm này không trùng lặp

1.1.4.3 Mối liên hệ giữa thời điểm chuyển rủi ro và thời điểm chuyển quyền sở hữu

Như đã đề cập, thời điểm chuyển rủi ro và thời điểm chuyển quyền sở hữu có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau trên thực tế tuỳ vào từng quan hệ cụ thể

Thời điểm chuyển rủi ro có thể trùng với thời điểm chuyển quyền sở hữu Nguyên tắc này quy định rủi ro đối với hàng hóa được chuyển sang bên mua đồng thời với việc chuyển quyền sở hữu Do đó khi xác định được thời điểm chuyển quyền sở hữu sẽ xác định được trách nhiệm gánh chịu rủi ro của các bên nếu có sự mất mát hay hư hỏng đối với hàng hoá

Thời điểm chuyển rủi ro có thể xảy ra trước thời điểm chuyển quyền sở hữu trong một số trường hợp nhất định, tức là rủi ro đã được chuyển từ bên bán sang bên mua khi hàng hoá chưa thuộc quyền sở hữu của bên mua Ví dụ, theo hợp đồng mua bán điều kiện CIF, bên bán phải chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc hư hại đối với hàng hoá cho đến thời điểm hàng hoá được vận chuyển đi, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hàng hoá được bên bán giao cho người vận chuyển để vận chuyển hàng hoá Còn đối với quyền

sở hữu hàng hoá thì chỉ được chuyển từ bên bán sang bên mua khi bên bán giao chứng

từ liên quan đến hàng hoá cho bên mua, tức là việc chuyển sở hữu hàng hóa vẫn chưa xảy ra tại thời điểm chuyển rủi ro Như vậy, khi nào bên bán còn giữ chứng từ thì khi ấy hàng hoá vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bán

Thời điểm chuyển rủi ro còn có thể xảy ra trước thời điểm chuyển quyền sở hữu trong trường hợp bên mua không tiếp nhận hàng theo quy định của hợp đồng mua bán hàng hoá mà hai bên đã thống nhất hoặc trong trường hợp rủi ro được chuyển giao cho bên mua tại địa điểm giao hàng xác định nhưng bên bán được giữ lại các chứng từ liên quan xác nhận quyền sở hữu hàng hoá

Trang 32

Như vậy, có thể thấy rằng thời điểm chuyển rủi ro và thời điểm chuyển quyền sở hữu có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau Thời điểm chuyển rủi ro và thời điểm chuyển quyền sở hữu là hai khái niệm hoàn toàn khác biệt nhau về bản chất Thời điểm chuyển giao rủi ro được pháp luật quy định rộng rãi như pháp luật quốc gia, CISG 1980, Incoterms 2020 Thời điểm chuyển quyền sở hữu chưa được quy định trong CISG 1980

và Incoterms 2020 mà chỉ được quy định trong pháp luật quốc gia dưới dạng một quy phạm tùy nghi51 Nói thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với hàng hoá là một quy phạm tùy nghi vì thông thường thời điểm này do các bên thỏa thuận, pháp luật chỉ áp dụng khi các bên không thoả thuận về thời điểm này

1.2 Ý nghĩa của việc xác định rủi ro, thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá

1.2.1 Ý nghĩa của việc xác định rủi ro

Một trong những đặc điểm của rủi ro là sự kiện nằm ngoài mong đợi, dự kiến ban đầu của các bên trong hoạt động mua bán hàng hoá nên các bên sẽ không có sự chuẩn

bị, những phương án ứng phó kịp thời dẫn đến hàng hoá là đối tượng của hợp đồng bị tổn thất rất lớn Để hạn chế rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá cũng như những tổn thất đối với hàng hoá, việc chuẩn bị những phương án phòng chống rủi ro có ý nghĩa rất quan trọng Tuy rủi ro nằm ngoài mong đợi nhưng bên cạnh đó, rủi ro cũng có thể lường trước được và chúng ta có thể dự đoán xác suất xảy ra, biên độ thiệt hại của nó

Dự đoán, tính toán rủi ro là một trong những phương pháp nhằm xác định rủi ro có thể xảy ra trên thực tế mà các thương nhân có thể áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hoá Bên bán và bên mua trong hoạt động mua bán hàng hoá khi xác lập hợp đồng cần phải đề cập đến những điều khoản thỏa thuận về cách giải quyết những rủi ro có thể xảy

ra, những trường hợp giả định và các biện pháp khắc phục hay các phương án thay thế khi không thể thực hiện hợp đồng theo dự kiến ban đầu Những thỏa thuận này sẽ là căn

cứ pháp lý quan trọng để xác định thời điểm chuyển rủi ro, địa điểm chuyển rủi ro và trách nhiệm gánh chịu rủi ro Khi nào thương nhân tham gia vào hoạt động mua bán hàng hoá và thỏa thuận những điều khoản này khi ấy thương nhân đã có được thế chủ động trong việc đối mặt với rủi ro từ đó có những biện pháp giảm thiểu rủi ro hay thiệt hại, mất mát đối với hàng hoá có thể xảy ra

51 Phan Văn Mạnh, tlđd (3), tr.38

Ngày đăng: 19/12/2022, 01:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Dương Anh Sơn (Chủ biên) (2016), Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hợp đồng thương mại quốc tế
Tác giả: Dương Anh Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2016
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
9. Đặng Văn Được (2006), Hướng dẫn pháp luật hợp đồng thương mại, Nhà xuất bản Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn pháp luật hợp đồng thương mại
Tác giả: Đặng Văn Được
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2006
10. Đinh Ngọc Tuấn (2004), Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Ngoại thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam
Tác giả: Đinh Ngọc Tuấn
Nhà XB: Trường Đại học Ngoại thương
Năm: 2004
11. Đoàn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, Hà Đức Sơn (2009), Quản trị rủi ro và khủng hoảng, Nhà xuất bản Lao Động - Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro và khủng hoảng
Tác giả: Đoàn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, Hà Đức Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao Động - Xã Hội
Năm: 2009
13. Hoàng Thị Bích Ngọc, Chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá theo Luật Thương mại 2005 , Khoá luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đa ̣i ho ̣c Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá theo Luật Thương mại 2005
Tác giả: Hoàng Thị Bích Ngọc
Nhà XB: Trường Đại học Tp. Hồ Chí Minh
14. Lê Thị Nam Giang (2010), Tư pháp quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư pháp quốc tế
Tác giả: Lê Thị Nam Giang
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2010
16. Nguyễn Quang Cúc Hoà (2019), “Một số vấn đề về quản trị rủi ro trong doanh nghiệp”, Tạp chí Tài chính, kỳ 2 tháng 5/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Quang Cúc Hoà
Nhà XB: Tạp chí Tài chính
Năm: 2019
17. Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2018), Pháp luật về thời điểm chuyển rủi ro đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật - Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về thời điểm chuyển rủi ro đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Huyền
Nhà XB: Trường Đại học Luật - Đại học Huế
Năm: 2018
18. Nguyễn Thị Tuyết Lan (2020), Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Lan
Nhà XB: Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2020
19. Nguyễn Thuỵ Phương (2018), “Hạn chế rủi ro trong giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại”, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, tháng 4 - 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạn chế rủi ro trong giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại
Tác giả: Nguyễn Thuỵ Phương
Nhà XB: Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
Năm: 2018
20. Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị Bích Thọ, Dương Anh Sơn (2006), Giáo trình Luật Hợp đồng Thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Đại học quốc Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hợp đồng Thương mại quốc tế
Tác giả: Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị Bích Thọ, Dương Anh Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2006
21. Nguyễn Vũ Hoàng (2001), Những khía cạnh kinh tế và luật pháp về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển trong thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khía cạnh kinh tế và luật pháp về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển trong thương mại quốc tế
Tác giả: Nguyễn Vũ Hoàng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2001
22. Phạm Duy Nghĩa (2013), Giáo trình Luật kinh tế, Nhà xuất bản Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật kinh tế
Tác giả: Phạm Duy Nghĩa
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2013
23. Phan Văn Mạnh, Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá
Tác giả: Phan Văn Mạnh
Nhà XB: Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh
24. Phùng Bích Ngọc (2018), “Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước viên năm 1980 - So sánh với pháp luật Việt Nam”, Tạp chí luật học, số 6/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước viên năm 1980 - So sánh với pháp luật Việt Nam
Tác giả: Phùng Bích Ngọc
Nhà XB: Tạp chí luật học
Năm: 2018
25. Trần Viết Long, Bùi Thị Quỳnh Trang (2021), “Chuyển rủi ro đối với hàng hoá trong Công ước Viên 1980: tiếp cận pháp lý và khuyến nghị thực thi tại Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số chuyên đề 01/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển rủi ro đối với hàng hoá trong Công ước Viên 1980: tiếp cận pháp lý và khuyến nghị thực thi tại Việt Nam
Tác giả: Trần Viết Long, Bùi Thị Quỳnh Trang
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Kiểm sát
Năm: 2021
26. Trần Hữu Huỳnh (2007), Các quyết định trọng tài quốc tế chọn lọc, Nhà xuất bản Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quyết định trọng tài quốc tế chọn lọc
Tác giả: Trần Hữu Huỳnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2007
27. Trường Đại học ngoại thương – Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (2016), 101 câu hỏi – đáp về Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG), Nhà xuất bản thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: 101 câu hỏi – đáp về Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)
Tác giả: Trường Đại học ngoại thương – Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Niên
Năm: 2016
28. Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (2002), 50 phán quyết trọng tài quốc tế chọn lọc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 phán quyết trọng tài quốc tế chọn lọc
Tác giả: Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w