Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại đồng thời làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại ở Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin về Nhà nước và pháp luật, phương pháp nghiên cứu luật học, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp…để hoàn thiện luận văn Trên cơ sở phân tích, đánh giá một số vấn đề liên quan đến chấm dứt hợp đồng thương mại, việc thi hành pháp luật về chấm dứt hợp đồng thương mại, luận văn đưa ra một số giải pháp cụ thể để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại. Luận văn làm rõ bản chất pháp lý và thực tiễn các quy định về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại Việt Nam hiện nay. Đồng thời rút ra những điểm thành công, hạn chế của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại. Từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại ở Việt Nam, cũng như nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại.
Trang 1NGUYEN THANH TAM
NGANH: LUAT KINH TE
Trang 2DANH MUC TU VIET TAT
HDDS : Hop déng dân sự
BLDS : Bộ luật Dân sự
HĐTM : Hợp đồng thương mai
DPCDTH : Đơn phương chấm dứt thực hiện
Trang 3MUC LUC PHAN MO DAU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đ
Š Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
7 Kết cấu của luận văn
CHUONG 1 NHUNG V
HIỆN HỢP ĐÒNG THUONG MAI VA PHAP LUAT VE CHAM DUT
THUC HIỆN HỢP DONG THƯƠNG MẠI -. 55555552 7
1.1 Khái quát về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
1.1.1 Khái quát về hợp đông thương mại
1.1.2 Khái niệm chấm dứt thực hiện hợp đông thương mại
1.1.3 Đặc điểm dia chấm dứt thực hiện hợp đông thương mại
1.1.4.Ý nghĩa của việc chấm dứt thực hiện hop đồng thương mại
1.1.5 Những)iấu tổ Xác động trà ảnh hông \iền chaniditt thuec hi
thực hiện hợp đông thương mại
1.2.2 Khái niệm pháp luật và
thương mại
1.2.3 Nội dung pháp luật về cham dứt thực hiện hợp động thương
mại.355
Kết luận chương l - + 2 2 2221222211223 122211 E231 csee 36
CHUONG 2 THUC TRẠNG PHAP LUAT VE CHAM DUT THUC
HIEN HOP DONG THUONG MAT VÀ THỰC TIEN AP DUNG PHAP LUAT VE CHAM DUT THUC HIEN HOP DONG THUONG MAI 377 2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
21d; Hop động thương mại châm dứt thực hiện khi các bên đã hoàn thành hợp đô Nng -552255St2S+vt2EYxtt2E E222 t.EEESErrrrrrrrrrrrree 37
Trang 42.1.2 Hợp đồng thương mại chấm dứt thực hiện theo thỏa thuận của các bên
hiện hợp đông thương mại tại Việt Nam
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện quy định về đình chỉ thực hiện hợp đồng
trong Luật Thương mại 2005
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện quy định
trong Bộ luật Dân sự 2015 6
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu lực thực hiện pháp luật v chấm dứt
Trang 5PHAN MO BAU
1 Tính cấp thiết cúa đề tài nghiên cứu
Qua nhiều giai đoạn lịch sử, tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi đầu cho công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Chúng ta đã xác định, xây dựng những quan niệm mới, tư duy mới về công
nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh
tế thị trường, nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa
Nền tảng pháp lý xây dựng kinh tế thị trường là những đạo luật về kinh
doanh thương mại Đây là những đạo luật điều chỉnh hoạt động gia nhập thị trường, sản xuất, kinh doanh của các thương nhân trên thị trường Khi tham
gia vào các giao dịch thương mại, các bên đều bị điều chỉnh bởi các quy định
của pháp luật, trước hết là pháp luật về hợp đồng - vấn đề cơ bản nhất đề cầu
thành hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Hợp đồng được giao
¡địa lý, hình thức da dang,
phong phú và diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Thực tiễn cho
kết bắt kể không gian; thời gian, và khoảng, cá
thấy, số lượng hợp đồng được giao kết nhiều và đa dạng nhất hiện nay chủ yếu liên quan đến lĩnh vực dân sự, kinh doanh - thương mại Khi hợp đồng
được ký kết, các bên đều mong muốn thực hiện tốt hợp đồng, đem lại các giá
trị lợi ích về thương mại cho cả hai bên Hợp đồng chấm dứt thực hiện khi các
bên đã hoàn thành xong công việc, thực hiện xong nghĩa vụ hợp đồng đã được
thỏa thuận Trong trường hợp đó, các bên kết thúc hợp đồng khi đều đáp ứng
được mục đích của nhau Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng không thể tránh khỏi các mâu thuẫn phát sinh do nhiều lý do Vì vậy, còn có
những trường hợp mà hợp đồng chấm dứt thực hiện do ý chí của một bên,
việc châm dứt thực hiện trước thời hạn này có thể do thỏa thuận của các bên, nhưng cũng có thể do ý chí đơn phương của một bên
Do đó, trong nội dung của pháp luật về hợp đồng nói chung, hợp đồng thương mại nói riêng, ngoài các quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng,
1
Trang 6quyền và nghĩa vu cơ bản của các bên cũng như thực hiện hợp đồng, còn có
các quy định về chấm dứt thực hiện hợp đồng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên Tuy nhiên, hiện nay thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thỉ hành các quy định về châm dứt thực hiện hợp đồng nhất là hợp đồng
thương mại còn nhiều vướng mắc, khó khăn, đặc biệt là khi các bên không
thỏa thuận được về việc châm dứt thực hiện hợp đồng trước thời hạn
Nhận thức rõ điều đó tác giả đã lựa chọn đề tài: “Chấm dứt thực hiện
hợp đồng thương mại theo quy định của Luật Thương mại 2005 — thực trạng và hướng hoàn thiện ” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chấm dứt hợp đồng là vấn đề pháp lý quan trọng đối với hệ thông pháp
luật điều chỉnh về hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng thương mại Cho đến nay,
tác giả nhận thấy có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến vấn
đề chấm dứt thực hiện hợp đồng: BH luật điều chỉnh về ‘cham dứt thực hiện
Mo Ha Nc
hợp đồng như:
- Hoàng Thị Hà Phương, N tai do vi phạm hợp đằng thương mại - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”; Luận văn thạc sỹ luật học năm 2016, Trường Đại học Luật Hà Nội
- Đỗ Văn Đại, "Vấn đề huỷ bỏ, đình chỉ hợp dong đo bị vi phạm ", tạp
chí Nghiên cứu lập pháp, số 9/2004
- Nguyễn Ngọc Oanh, "Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp dong theo
pháp luật dân sự Việt Nam", Luận văn thạc sĩ luật học 2010 - Đại học Luật Hà
Nội Luận văn đã làm sáng tỏ những vấn đẻ lý luận cơ bản về chấm dứt thược hiện hợp đồng, phân tích sâu về chấm dứt thược hiện hợp đồng dân sự có sự
vi phạm của bên đối tác và chấm dứt thược hiện hợp đồng không có sự vi phạm của bên đối tác theo quy định của BLDS năm 2005 Tuy nhiên, luận văn chưa tập trung đi sâu phân tích và đánh giá thực trạng quy định pháp luật thương mạu về chấm dứt thược hiện hợp đồng thương mại
Trang 7- Hướng Thị Hà Thu, "Pháp luật về chế tài do vì phạm hợp đồng thương mại — Thực trạng và giải pháp hoàn thiện ", Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội năm 2019
Nhìn chung các công trình ké trên đã tập trung nghiên cứu, phản ánh ở
các góc độ khác nhau về chấm dứt thực hiện hợp đồng, như chế tài đình chỉ
thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng được quy định trong Luật Thương
mại 2005 mà có một số nội dung chưa nghiên cứu toàn diện về mặt lý luận
cũng như thực trạng pháp luật Việt Nam về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại, các giải pháp hoàn thiện loại chế định này Tuy nhiên, các công trình này đặt nền móng cho việc tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện
về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
Đề tài này được tác giả tiếp thu có chọn lọc và kế thừa các kết quả
nghiên cứu của các công trình đã đưa ra nhằm nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại theo pháp luật
Việt Nam: nghiền Wind (ôäỳ thể %àïšãu yề phần lý fuận; Về thực trạng pháp luật
chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại; đánh giá khả năng áp dụng của pháp luật trong thực tiễn, từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại ở Việt nam
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tập trung phân tích các quy định của pháp luật
về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại đồng thời làm rõ những vấn đề
lý luận và thực tiễn của pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
ở Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cụ thẻ đề tiếp tục hoàn thiện pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
Để thực hiện được mục đích trên, các nhiệm vụ mà luận văn phải giải quyết bao gồm:
- Nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề liên quan đến lý luận về
chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại và pháp luật điều chỉnh chấm dứt
3
Trang 8thực hiện hợp đồng thương mại như: Làm rõ khái niệm, cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn của việc quy định về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại theo
pháp luật Việt Nam; thực trạng pháp luật điều chỉnh chấm dứt thực hiện hợp
đồng thương mại ở Việt Nam hiện nay;
- Nghiên cứu chính sách và các quy định pháp luật liên quan đến chấm
dứt thực hiện hợp đồng thương mại của một số quốc gia, vùng lãnh thổ điển
hình trên thế giới có hệ thống pháp luật phát triển, có điều kiện lịch sử, văn
hóa, kinh tế tương đồng với Việt Nam Từ các kết quả nghiên cứu cụ thể nêu trên, trên cơ sở so sánh, đối chiếu đề tiếp thu chọn lọc các yếu tó tiến bộ, hợp lý
Trên cơ sở việc thực hiện các mục đích nêu trên, nhiệm vụ chính của đề
tài là đưa ra những đề xuất thiết thực liên quan đến vấn đề lý luận về chấm
dứt thực hiện hợp đồng thương mại; các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật,
nâng cao hiệu quả thực thi chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại ở Việt
Nam mà mục đícRhinh là để báð Vệ lổCnhất đuyển lợi €iằ dắt bên trong việc
chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại, thúc đây các hoạt động mua, sử
dụng hàng hóa, dịch vụ phát triển một cách lành mạnh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu luận văn là những vấn đề về chấm dứt thực hiện
hợp đồng thương mại như: điều kiện, các yếu tố tác động và hậu quả pháp lý
của chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào những vấn đề chung về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại nói chung, đi sâu vào phân tích đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại nói riêng; những học thuyết
pháp lý cơ bản về hợp đồng có liên quan tới chế định chấm dứt thực hiện hợp
đồng thương mại Những học thuyết này là nền tảng lý luận đề từ đó, luận văn
triển khai nghiên cứu cụ thể các quy định của Bộ luật Dân sự 2015, Luật
Trang 9Thuong mai 2005 về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại trong đó tập trung nghiên cứu các quy định của Luật Thương mại 2005 về vấn đề này
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật Sử dụng các quan điểm của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa
Ngoài ra, để giải quyết cụ thể các vấn đề đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp trong từng chương cụ thẻ của luận văn
Chương I luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp đề xây dựng cơ sở lý thuyết nghiên cứu về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại Chương 2 luận văn sử dụng phương pháp phân tích, so sánh luật học đề phân tích thực trạng pháp luật cũng mỹ = tién thi ¬ pháp luật về chấm
dứt thực hiện hợp đồng tRùươngmảiC Dai hoc Mo Ha Nx
Chương 3 luận văn sử dụng phương pháp tông hop dé dé xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Thứ nhất, đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu lý luận về chấm dứt
thực hiện hợp đồng thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
Thứ hai, luận văn làm rõ bản chất pháp lý của việc chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại, phân tích các căn cứ chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại hợp pháp, cũng như thực tiễn các quy định về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại
Việt Nam hiện nay.
Trang 10Thứ ba, luận văn rút ra những điểm thành công, han chế của pháp luật
và thực tiễn áp dụng pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
Từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về cham dirt thực hiện hợp đồng thương mại ở Việt Nam, cũng như nâng
cao hiệu quả thi hành pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu gồm ba chương như sau:
- Chương 1: Khái quát pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng
thương mại
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại và thực tiễn áp dụng pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
- Chương 3: Phương hướng và gi phap hoàn thiện pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương ñiậi Jai hoc Mc
Trang 11CHUONG 1
NHUNG VAN DE LY LUAN VE CHAM DUT THUC HIEN HOP
DONG THUONG MAI VA PHAP LUAT VE CHAM DUT THUC HIEN
HỢP ĐỎNG THUONG MAI
1.1 Khái quát về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
1.1.1 Khái quát về hợp đồng thương mại
Trong mọi hoạt động của xã hội, cũng như hoạt động kinh tế, hình thức
ghi nhận của các giao dịch về tài sản nói chung, giao dịch về thương mại nói
riêng chính là hợp đồng "Hop dong là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí của
các chủ thể nhằm xác lập xác lập, thay đổi, chắm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trên cơ sở tự do và bình đẳng" Nhưng không phải thỏa thuận nào cũng được coi là hợp đồng và được Nhà nước đảm bảo cơ chế thực thi Những thỏa thuận này phải bảo đảm các nguyên tắc về giao kết, mục đích và hình thức xác lập thỏa thuận Đây cũng là các quy định về hợp đồng Một
hợp đồng hợp pháp phải đáp dg được)€ác Vêu cầu 8ó: 2 `
Hệ thống các văn bản pháp luật chứa đựng các quy phạm về hợp đồng nói chung và hợp đồng trong kinh doanh, thương mại nói riêng rất đa dạng, bao gồm từ các quy định cơ bản về quyền tự do kinh doanh được ghi nhận trong Hiến pháp, đến các đạo luật cơ bản như Bộ luật Dân sự, tới các văn bản luật chuyên ngành như Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành Đây là công cụ chủ yếu để thông qua đó, các thương nhân thực hiện hoạt
động kimh doanh, thương mại, tìm kiếm lợi nhuận Tuy nhiên, phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khác nhau như lịch sử, tư duy lập pháp quy định về hợp đồng
có sự khác nhau ở các quốc gia trên thể giới
Các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law, đại diện bởi Pháp, Đức đưa ra khái niệm học thuật về hợp đồng, không phân biệt mục đích dân sự hay ' Bùi Ngọc Cường (2004), Một số ván đề về quyên tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế
hiện hành ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội: tr.!09
7
Trang 12kinh doanh thuong mai, str dung chung cho ca cac giao dich thuong mai va
các giao dịch dân sự Tuy nhiên, căn cứ vào hành vi thương mại, các hợp
đồng được xác lập từ nhóm hành vi này được điều chỉnh bởi Bộ luật Thương
mại, các nội dung khác được điều chỉnh chung bởi Bộ luật Dân sự” Các quốc
gia theo hệ thống luật thành văn sử dụng tiêu chí về chủ thể thực hiện giao
dịch, nội dung của hành vi (khách thể) dé xác định hành vi thương mại, từ đó
làm căn cứ để xác định loại hợp đồng được giao kết Mục 1 chương I Bộ luật
Thương mại Nhật Bản quy định: “Bộ luật Dân sự là bộ luật điều chỉnh những quan hệ trong đời sống xã hội nói chung, còn Bộ luật Thương mại thì điều chỉnh các quan hệ trong đời sông của một doanh nghiệp Tuy nhiên, một số vấn đề thuộc về doanh nghiệp vẫn được quy định từng phân trong Bộ luật
Dân sự Như vậy, Bộ luật Dân sự là một đạo luật chung, còn Bộ luật Thương
mại là một đạo luật chuyên ngành" Trong từng lĩnh vực thương mại cụ thể như kinh doanh bảo hiểm, tài chính ngân hàng, hàng hải, xây dựng có luật
riêng, chuyên ngài tiiều! chíah''Tfohb'mỗi 'quàn he girà Mật chung và luật
chuyên ngành, luật pháp thừa nhận luật chuyên ngành có thể có những quy
định không đồng nhất với luật chung, nhưng những quy định này phải đảm
bảo tính thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật, không chồng chéo và gây khó khăn khi áp dụng Nguyên tắc luật chung - luật chuyên ngành không chỉ giải quyết vấn đề xác định các văn bản nào chứa đựng quy phạm điều chỉnh quan hệ đó mà còn đưa ra nguyên tắc áp dụng pháp luật
Các nước theo truyền thống pháp luật Common Law, đại diện bởi Anh,
Hoa Kỳ, và một số nước châu Âu không phân biệt giữa hợp đồng thương mại và hợp đồng dân sự Các quy định chung về hợp đồng được áp dụng cho các quan hệ hợp đồng dân sự đến hợp đồng kinh doanh, thương mại, hợp đồng lao động Hệ thống pháp luật của Anh Quốc cho rằng hợp đồng là
? Vũ Thị Lan Anh (2008), "Hợp đồng thương mại và pháp luật về hợp đồng thương mại của một
số nước trên thế giới", Tạp chí luật học, (11); tr4— 10
Trang 13những cam kết mà các bên phải thực hiện, bên nào vi phạm thì phải chịu trách nhiệm hay chế tài Còn theo Hoa Kỳ, hợp đồng là một hay nhiều cam kết, đây
là những nghĩa vụ của các bên trong cam kết và khi có bên vi phạm các cam kết này thì bên kia có quyền áp dụng các hình thức trách nhiệm, chế tài theo quy định
Trước đây, tại Việt Nam, Điều 388 Bộ luật Dân 2005 quy định: "ợp
đồng dan sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" Quy định này được hiểu rằng các quy định
về hợp đồng dân sự được áp dụng chung cho các loại hợp đồng như lao động,
thương mại tuy nhiên, trên thực tế, gây nhiều nhằm lần, khó hiểu vì thuật
ngữ “hợp đằng dân sự” Hiện nay Bộ luật Dân sự 2015 quy định tại Điều 385 không còn sử dụng thuật ngữ “hợp đồng dân sự” mà chỉ quy định “Hợp đông
là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyên, nghĩa vụ dân sự” Trong luận văn a tác giả sử dụng thuật ngữ hợp đồng
thương mại trong tiùátình thục iện '
Theo đó, hợp đồng thương mại là một loại hình hợp đồng nói chung,
được phân biệt với hợp đồng trong các lĩnh vực khác dựa vào các đặc điểm
riêng, khác biệt Hợp đồng dân sự là cái chung, hợp đồng thương mại là cái riêng Các quy định chung về hợp đồng trong bộ luật Dân sự cũng được áp dụng cho hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, tuy nhiên trong lĩnh vực thương mại có những quy định chuyên ngành được phát triển từ những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Dân sự, chỉ áp dụng cho loại hợp đồng này Với cách hiểu như vậy, những yếu tố cơ bản của một hợp đồng như vấn
đề về giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, giải quyết hợp đồng vô hiệu được quy định chung trong Bộ luật Dân sự và áp dụng chung cho mọi quan hệ hợp đồng Những nội dung riêng, chuyên ngành của hợp đồng thương mại
như vấn đề về chủ thể, hình thức hợp đồng, nghĩa vụ đặc thù của thương
nhân được quy định ở Luật Thương mại
9
Trang 14Trong tiến trình lịch sử cũng như pháp luật ở Việt Nam, kế từ khi mới
giành được độc lập, hậu quả sau chiến tranh nặng nề, cả nước chủ trương
khắc phục hậu quả chiến tranh, thực hiện nền kinh tế tập trung có kế hoạch để phát huy sức mạnh tập thể và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam Thời
kỳ này, tư duy về hợp đồng nói chung, hợp đồng kinh tế nói riêng được quan niệm là mệnh lệnh, tuân theo các mục tiêu, kế hoạch của Nhà nước Kể từ
năm 1986, khi Việt Nam thừa nhận và phát triển nền kinh tế thị trường, nhiều
thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã ban hành pháp lệnh Hợp đồng kinh tế vào năm 1989 điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế
Theo đó, hợp đồng kinh tế được nhận diện bởi các yếu tố như sau: Chủ thẻ là
pháp nhân, cá nhân; mục đích nhằm thực hiện sản xuất, trao đôi hàng hóa,
nghiên cứu khoa học ; được ký kết dưới hình thức văn bản Hiện nay, Voi
việc Quốc hội ban hành Bộ luật Dân sự 1995, Luật Thương mại 1997, qua các lần sửa đổi, bổ sung và ban hành mới, hiện nay các quy định về hợp đồng nói
chung, hợp đòng)iưởng'mại!ä6ï 1iêng (được đgiềú hinh Đởi Bộ luật Dân sự
2015 và Luật Thương mại 2005
Theo nguyên tắc luật chung, luật riêng, hợp đồng trong kinh doanh, thương mại là một dạng của hợp đồng dân sự, được nhận biết giữa theo các
yêu t6 sau:
Thứ nhất, về chu thé của hợp đồng thương mại Chủ thể của hợp đồng
trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại bao gồm hai bên, chủ yếu được ký kết giữa thương nhân với thương nhân, giữa thương nhân với cá nhân
Các quốc gia khác nhau có cách xác định chủ thể của hợp đồng thương mại khác nhau Tại nước Đức, một trong các bên của hợp đồng là thương nhân, có phát sinh các hành vi thương mại thì có thể sử dụng luật thương mại
để áp dụng trong quan hệ hợp đồng này Nhưng ở Pháp, tùy thuộc vào chủ thể
là thương nhân hay không phải thương nhân mà phan chia thành hợp đồng thương mại, hợp đồng hỗn hợp Trong trường hợp hai bên ký kết đều là
Trang 15thương nhân mới có thé coi đây là hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Đối với hợp đồng hỗn hợp, bên ký kết không phải thương nhân có quyền lựa chọn luật áp dụng là luật thương mại hoặc dân sự thuần túy
Ở Việt Nam, theo nguyên tắc áp dụng của Luật Thương mại 2005, chủ
thể tham gia ký kết, thực hiện hợp đồng trong lĩnh vực thương mại chủ yếu là
thương nhân Theo đó, có những quan hệ hợp đồng thương mại được ký kết giữa một bên là thương nhân, một bên là cá nhân không phải thương nhân tùy thuộc vào bản chất của quan hệ thương mại diễn ra giữa các bên Trong những hợp đồng này, việc lựa chọn luật áp dụng theo ý chí của bên không có
hoạt động thương mại với mục đích sinh lời
Thứ hai, về hình thức của hợp đồng thương mại Tôn trọng quyền tự do kinh doanh, pháp luật về hợp đồng nói chung, hợp đồng thương mại nói riêng, không quy định hình thức cụ thể của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Do
sự lựa chọn của các bên, hình thức này có thể là văn bản, lời nói, hoặc hành
vi Chi trong một Sế tiuani hệ Tiệp đồng đặc biệt, kõ ỗi tường đặc biệt, cần rõ
ràng, bảo vệ quyền và lợi ích các bên, pháp luật yêu cầu hình thức cụ thể, thường là văn bản hoặc tương đương văn bản Tương tự như nguyên tắc trên, Luật Thương mại 2005 cũng tôn trọng, tối đa sự lựa chọn của các bên tham gia
hợp đồng, ngoài ra cũng có quy định về các hình thức tương đương văn bản
như telex, điện báo, fax, thông điệp dữ liệu
Thứ ba, mục đích của các bên trong hợp đồng thương mại Như bản
chất của thương nhân, các thương nhân tham gia thị trường kinh doanh nhằm
tìm kiếm lợi nhuận, do đó mục đích lợi nhuận gắn chặt với các giao kết kinh
doanh, thương mại của thương nhân Đây là mục đích suy đoán, các bên khi tham gia giao kết hợp đồng thương mại đều phục vụ hoạt động thương mại, tìm kiếm lợi nhuận trong phạm vi hoạt động kinh doanh của minh Vi mang
tính suy đoán nên mục đích lợi nhuận này gắn liền với tư cách thương nhân
của các bên trong hợp đồng Nếu một bên hợp đồng không phải thương nhân,
11
Trang 16ví dụ như hợp đồng giao kết giữa thương nhân và người tiêu dùng thì về
nguyên tắc, việc áp dụng Luật Thương mại hay Bộ Luật Dân sự là do bên
không có mục đích lợi nhuận lựa chọn
Thứ tư, yêu cầu về thương nhân tham gia quan hệ hợp đồng Pháp luật một số quốc gia yêu cầu những nghĩa vụ cẩn trọng, trung thực đối với thương nhân khi giao kết hợp đồng Ngoài ra là những nguyên tắc hợp lý, tận tâm Đối với Luật Thương mại 2005, những nguyên tắc này được quy định trong các điều luật của Luật Thương mại về những quyền cũng như nghĩa vụ trung thực, cần trọng cũng như tôn trọng lợi ích các bên khi giao kết hợp đồng 1.1.2 Khái niệm chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại Luật Thương mại không đưa ra các quy định riêng về nguyên tắc giao
kết, cách thức thực hiện, cũng như việc chấm đứt thực hiện hợp đồng thương
mại, những quy định này được áp dụng theo luật chung, tức quy định của Bộ luật Dân sự
1.1.2.1 Thự hiện (họp đồiig inà¿ng ñ@¡ I0 TIa
Sau khi các bên ký kết hợp đồng nói chung, hay hợp đồng thương mại nói riêng phù hợp với quy định pháp luật và có hiệu lực Điều đó có nghĩa, các bên có quyền và nghĩa vụ đối với nhau Theo nội dung của hợp đồng, các bên lần lượt tiến hành các hành vi mang tính nghĩa vụ theo đúng các quy định
của các điều khoản trong hợp đồng về đối tượng, thời hạn, địa điểm
Thực hiện hợp đồng là một khái niệm mang tính chất pháp lý mà các
chủ thể có bộn phận phải hành động, cụ thẻ hóa những quyền và nghĩa vụ đã
được thỏa thuận trong hợp đồng
Thực hiện hợp đồng nói chung, bao gồm cả hợp đồng thương mại là
việc các bên tiến hành các hành vi mà mỗi bên tham gia hợp đồng phải thực
hiện nhằm đáp ứng những quyền tương ứng của bên kia, nhằm thực hiện những nghĩa vụ phát sinh trong hợp đồng Những thỏa thuận trong hợp đồng
Trang 17có hiệu lực sẽ có giá trị ràng buộc các bên, tức là hợp đồng có tính chất là
"luật" giữa các bên
Việc thực hiện hợp đồng thương mại phải tuân theo những nguyên tắc sau: Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng
loại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác; thực hiện một cách trung
thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn
nhau; mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái
đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể
khác tôn trọng (Điều 3 BLDS năm 2015)
1.1.2.2 Chấm dứt thực hiện hợp đông thương mại
Chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại được hiểu là kết thúc việc
thực hiện hợp đồng hay chấm dứt thực hiện các thỏa thuận mà các bên đã đạt
được khi giao kết hợp đồng thương mại Bên có quyền không thể buộc bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện các công việc đã thỏa thuận được nữa và ngược
lại, bên có nghĩa 3ÿ Rhiêäb cỏ1ä4€H nhiệin Bếp: tù thực 'hiện Èác công việc đã
thỏa thuận đó
Theo đó, chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại bao gồm: (i) chấm
dứt thực hiện hợp đồng thương mại khi không có vi phạm hợp đồng (hết thời
hạn, do các bên thỏa thuận ); (1) chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
khi có vi phạm hợp đồng (hủy bỏ hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ) và (iii) cham dứt thực hiện hợp đồng thương mại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Như phân tích ở trên, nội dung về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương
mại không được Luật Thương mại quy định cụ thể, mà áp dụng các quy định
chung của Bộ luật Dân sự Bộ luật Dân sự 2015 quy địmh cụ thể các trường hợp Hợp đồng chấm dứt theo Điều 422 BLDS 2015 và được áp dụng cho cả các hợp đồng thương mại, cụ thể như sau:
Trang 18Thứ nhất: Hợp đồng châm dứt khi các bên đã hoàn thành hợp đồng
Một hợp đồng khi được các bên thực hiện trọn vẹn, toàn bộ nội dung về
quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đáp ứng được nhu cầu cũng như mục đích của việc giao kết thì hợp đồng được coi là đã hoàn thành Trong trường hợp này, các bên thường lập biên bản thanh lý hợp đồng làm căn cứ cho việc chấm dứt mọi quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng và không có bất kỳ mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh nào từ hợp đồng đó
Thứ hai: Hợp đồng châm dứt theo thỏa thuận của các bên Trong một
số trường hợp đặc biệt, sau khi ký hợp đồng và thực hiện được một phần hợp đồng (hoặc có thể chưa thực hiện hợp đồng) nhưng phát sinh những yêu cầu đặc biệt trên thị trường cũng như do yêu cầu của một trong các bên mà bên
kia có thể đáp ứng được Các bên hoàn toàn có thẻ thỏa thuận về việc cham
dứt thực hiện hợp đồng, hợp đồng được coi là châm dứt tại thời điểm các bên đạt được sự thỏa thuận về việc chấm dứt thực hiện
Thứ ba: Chữ thế-glao Kết Rợp đồng Không tồn lại lài(òn tại thời điểm
đó Ví dụ vì hoàn cảnh, chủ thể giao kết hợp đồng là cá nhân chết, hoặc pháp nhân thương mại không còn tồn tại như đã giải thể, phá sản thì hợp đồng
chấm dứt thực hiện bởi không còn bên có thể thực hiện các nghĩa vụ theo hợp
đồng
Thứ tr: Hợp đồng bị đình chỉ, bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện Đây vừa là các chế tài, vừa là hành vi đơn phương khi xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng Trường hợp này cũng dễ xảy ra vi phạm nhất khi có một trong các bên đơn phương châm dứt thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng Luận văn tập trung phân tích các trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
Việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được thực hiện theo
quy định tại Điều 428 BLDS 2015 Khi đơn phương đình chỉ hợp đồng thì
phần hợp đồng chưa thực hiện sẽ chấm dứt, nghĩa là hợp đồng được coi là
Trang 19chấm dứt từ thời điểm bên vi phạm nhận được thông báo chấm dứt hợp đồng
từ bên bị vi phạm
Khi hợp đồng bị chấm dứt, bên có nghĩa vụ không phải tiếp tục thực
hiện nghĩa vụ của mình nhưng các bên phải thanh toán phần hợp đồng đã
được thực hiện Quy định trên được Luật Thương mại 2005 phát triển thành
chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng được quy định tại Điều 310 Luật Thương
mại 2005 Khi một bên đình chỉ thực hiện hợp đồng, bên đó chấm dứt thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng đã thỏa thuận Việc áp dụng chế tài này có căn cứ khi
xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận đề đình chỉ, hoặc hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
Thứ năm: Hợp đồng không thê thực hiện được do đối tượng của hợp
đồng không còn và các bên có thể thỏa thuận thay thế đối tượng khác hoặc
bồi thường thiệt hại
Các bên trong hợp đồng cùng thỏa thuận, ký kết hợp đồng vì một đối tượng quan tâm chi cửa cảihái bến Ví dụ phư ‘hop đồng mùa bán hàng hóa, một bên có nhu cầu mua và một bên có nhu cầu bán loại hàng hóa đó Và như vậy, rõ ràng khi đối tượng của hợp đồng không còn thì các bên không thể thực hiện hợp đồng được nữa, do đó, hợp đồng đương nhiên chấm dứt Tuy nhiên, trong trường hợp này pháp luật cũng đã dự liệu trường hợp các bên có thể
thỏa thuận thay thế đối tượng khác
Qua đó, có thể hiểu đây là việc chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có, đã
thỏa thuận, ký kết; và giao kết một hợp đồng mới thay thế
Thứ sáu: Hợp đồng chấm dứt khi hoàn cảnh thay đôi cơ bản (Điều 420
BLDS 2015), Hoàn cảnh được coi là thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện
sau day: (i) viée thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau
khi các bên đã giao kết hợp đồng; (ii) tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên hoàn toàn không thê biết trước được về những sự thay đổi của hoàn cảnh này;
(ii) hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên có khả năng biết trước
15
Trang 20thì hợp đồng đã không được các bên giao kết hoặc nếu được các bên giao kết thì sẽ có những nội dung hoàn toàn khác biệt với hợp đồng đã ký; (iv) việc
tiếp tục thực hiện hợp đồng đó mà không có sự thay đổi nội dung đặc biệt, sẽ
gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên; và cuối cùng (v) bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thẻ ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh
hưởng đến lợi ích
Do đó, trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, pháp luật cho phép bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng
trong một thời hạn hợp lý Trường hợp các bên không thẻ thỏa thuận được về
việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thé
yêu cầu Tòa án để chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định; hoặc sửa
đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn
cảnh thay đổi cơ bản Tuy nhiên Tòa án chỉ được quyết định sửa đổi hợp đồng trong trường hợp \ệẻ chấm đửi Hộp đồng 36 $ây thiệt bạ lớn hơn so với các
chỉ phí đề thực hiện hợp đồng nếu được sửa đi Đây là một trong những nội
dung mới của Bộ luật Dân sự 2015
Thứ bảy, Các trường hợp khác do pháp luật quy định (Điều 424 BLDS năm 2015)
1.1.3 Đặc điểm của chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
() Hợp dong được chấm dứt do ý chỉ của các bên chủ thể hoặc đơn phương một bên trong hợp đông
Đây là yếu tố quan trọng nhát, thẻ hiện bản chất của việc chấm dứt thực hiện hợp đồng cũng như hợp đồng thương mại Hợp đồng là sự tự do thỏa
thuận, do đó các bên có toàn quyền tự do thỏa thuận đề thiết lập hợp đồng,
cũng như chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
Hợp đồng thương mại chấm dứt theo ý chí của các bên trong hợp đồng
thể hiện sự đồng ý, nhất trí, thống nhất về việc chấm dứt hợp đồng Các bên
Trang 21có thể thỏa thuận ngay từ thời điểm giao kết hợp đồng thương mại về các
trường hợp mà đó là căn cứ để nếu xảy ra, các bên sẽ chấm dứt thực hiện hợp
đồng Hoặc khi đang thực hiện hợp đồng, vì sự thay đổi của thị trường, nhu cầu, hoàn cảnh các bên có thể thỏa thuận với nhau việc chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
Trong trường hợp một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng,
có nghĩa một bên thông báo chấm dứt thực hiện hợp đồng do phía họ mong muốn và đề đạt, thể hiện ý chí đơn phương của họ trong quá trình đang thực hiện hợp đồng Vào thời điểm thực hiệc việc đơn phương chấm dứt hợp đồng,
thể hiện ý chí đơn phương của bên chấm dứt thực hiện hợp đồng, nhưng nếu
việc đơn phương châm dứt thực hiện hợp đã được thỏa thuận từ khi giao kết
hợp đồng từ ban đầu, thì trong trường hợp này cũng thể hiện ý chí của các bên
các bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì rõ ràng, hợp đồng
mới chỉ hoàn thành được một phần
Trong trường hợp có bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, bên đó định lượng được mức độ ảnh hưởng của việc tiếp tục thực hiện hợp
đồng với mình nên có ý chí đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Vì
nguy cơ quyền lợi của mình bị ảnh hưởng so với mục đích ban đầu khi giao
kết hợp đồng mà bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng muốn việc
thực hiện "dừng lại" càng sớm càng tốt, đó không chỉ là mốc về hoạt động
(thực hiện nghĩa vụ đến đâu) mà còn là mốc về thời gian Vì thế đơn phương
17
Trang 22chấm dứt thực hiện hợp đồng là chấm dứt "nửa chừng" hợp đồng Đối với những hợp đồng đơn giản, quá trình giao kết xảy ra đồng thời cùng với việc thực hiện hợp đồng và kết thúc ngay khi giao kết xong như những hợp đồng mua bán dân sự đơn giản thì việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không đặt ra Việc quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trước khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng khi thấy rõ một bên sẽ vi phạm hợp
đồng hoặc có thể dự báo thiệt hại xảy ra trong tương lai nếu tiếp tục thực hiện
hợp đồng hoặc sau khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng mà quyền và lợi ích hợp pháp của các bên không đạt được vì hợp đồng không được thực hiện như
dự tính
(iii) Muc dich, nguyện vọng khi giao kết hợp dong của các bên không
đạt được khi hợp dong chém dứt trước thời hạn
Ngoại trừ trường hợp hợp đồng chấm dứt khi các bên đã hoàn thành
hợp đồng, thì trong các trường hợp khác, việc chấm dứt hợp đồng thường
không đáp ứng lđược 'ưọn vợi ni điền, fgyêh Vòng bần Hầu của các bên
giao kết
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, do đó, khi giao kết hợp đồng,
các bên đều hướng tới một lợi ích nhất định, đều muốn đạt được mục đích nào
đó Ví dụ như trong hợp đồng cung ứng dịch vụ, một bên muốn sử dụng dịch
vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của mình, còn một bên trong khả năng của mình cung ứng dịch vụ để tìm kiếm thù lao .những mục đích đó chỉ đạt được khi
hợp đồng được thực hiện đúng như dự kiến ban đầu của các bên (thực hiện
đầy đủ về nghĩa vụ, thời gian ) khi giao kết
Nhưng nhiều hợp đồng đã giao kết mà một hoặc các bên có sự vi phạm
hợp đồng như vi phạm về thực hiện nghĩa vụ với nhau, nghĩa vụ với nhà
nước khiến cho bên kia bị ảnh hưởng đến quyền lợi ban đầu dự kiến hoặc
có những hợp đồng mà tiếp tục thực hiện có thể gây ra một thiệt hại trong
tương lai Vì thế, để đảm bảo lợi ích của mình mà một bên chủ thể có thể đưa
Trang 23ra yêu cầu chấm dứt hợp đồng va bên kia không được phép từ chối Mặc dù
lợi ích của các bên ít nhiều được bảo đảm (nếu SO VỚI VIỆC tiếp tục thực hiện
hợp đồng ấy) do đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nhưng bao giờ cũng thấp hơn so với trường hợp chấm dứt hợp đồng khi hợp đồng đã được hoàn thành là do các bên chưa thực hiện xong các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng
Hợp đồng hoàn thành và chấm dứt đáp ứng đầy đủ mục đích, nguyện vọng ban đầu của các bên Vì chưa đáp ứng trọn vẹn mục đích, nguyện vọng của một hoặc các bên nên mức độ "vui vẻ" với việc chấm dứt hợp đồng đó là không cao với bên chưa được đáp ứng trọn vẹn mục đích, nguyện vọng đó Nếu các bên đều đã được đáp ứng trọn vẹn mục đích ban đầu của mình thì
hợp đồng chấm dứt theo thỏa thuận của các bên, kẻ cả khi chưa hết thời hạn
chấm dứt thực hiệh hop Gong ít
Bản chất và cũng là ý nghĩa lớn nhất của việc pháp luật quy định về chấm dứt thực hiện hợp đồng, trong đó có trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng chính là nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên có quyền đơn
phương châm dứt thực hiện hợp đồng
Trong trường hợp một bên có căn cứ hợp pháp cho thấy nếu thực hiện
hợp đồng sẽ đem lại thiệt hại vì điều kiện, hoàn cảnh, nhu cầu thay đổi thì
việc chấm dứt hợp đồng giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên đó
Tuy nhiên với đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì mục đích chính
là bảo vệ quyên lợi cho bên có quyền chấm dứt hợp đồng Quy định quyền
đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên có
quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thể hiện dưới hai góc Một
là khi có hoặc sẽ có sự vi phạm của bên đối tác, thì đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo vệ quyền lợi cho bên kia nhưng được coi như là một
19
Trang 24chế tài đối với bên vi phạm và vì chịu chế tài này nên quyền lợi của bên vi
phạm khơng được đảm bảo Hai là khi khơng cĩ sự vi phạm của bên đối tác
nhưng theo dự báo thì nếu việc tiếp tục thực hiện hợp đồng sẽ gây ra một thiệt hại cho bên một hoặc các bên Nếu hợp đồng tiếp tục thực hiện thì cĩ thể một
bên hoặc các bên bị thiệt hại nhưng chủ yếu là bên cĩ quyền đơn phương
chấm dứt thực hiện hợp đồng Vì thế đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được coi là một biện pháp mang tính đề phịng, ngăn ngừa rủi ro, hạn chế thiệt hại xảy ra trong tương lai
Những trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được dự liệu trước nhằm mục đích răn đe, phịng ngừa cũng như khắc phục các hậu quả nếu các trường hợp đĩ xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng Hợp
đồng là luật của các bên, do đĩ việc thực hiện hợp đồng rất quan trọng, tuy
nhiên các bên vì nhiều lý do, thối thác thực hiện hợp đồng, xâm hại quyền và
lợi ích hợp pháp của đối tác thì việc bên kia chấm dứt thực hiện hợp đồng
chính là một trộE nhữäp biệi bHáp bào Xệ quyển và lồitÍth khỏi bị xâm
phạm
1.1.4 Ý nghĩa của việc chấm dút thực hiện hợp đồng thương mại
Trong bối cảnh kinh tế phát triển, các quan hệ hợp đồng diễn ra với
mật độ cao, đem lại cho các bên những lợi ích kinh tế lớn Nếu pháp luật
khơng đảm bảo việc thực hiện hợp đồng thương mại sẽ gây ảnh hưởng tới khơng chỉ lợi ích của thương nhân, nhà kinh doanh mà cịn ảnh hưởng lợi ích
kinh tế của cả xã hội Vì vậy, chấm dứt thực hiện hợp đồng, đặc biệt khi cĩ
hành vi vi phạm của một bên cĩ ý nghĩa ở một số khía cạnh cơ bản sau: Thứ nhất, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng thương mại
Khi ký kết hợp đồng thương mại, mỗi bên cĩ các mục đích khác nhau
Thương nhân tìm kiếm lợi nhuận, người tiêu dùng nhằm thỏa mãn nhu cầu
của chính mình Những lợi ích này đều hợp pháp và đạt được từ việc các bên
Trang 25tôn trọng và thực hiện đúng hợp đồng Do đó, trong quá trình thực hiện hợp đồng, một trong các bên có hành vi vi phạm hợp đồng sẽ gây ảnh hưởng tới những mục đích này, như thương nhân không đạt được lợi nhuận mong muốn, người tiêu dùng không mua được hàng hóa, dịch vụ mà mình mong
muốn Dù là lợi ích của thương nhân hay người tiêu dùng thì đều là những
quyền lợi hợp pháp của họ, pháp luật cần phải bảo vệ
Do đó, khi xảy ra các căn cứ để các bên có thé cham dứt thực hiện hợp
đồng thì việc chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại trước thời hạn chính
là một trong những biện pháp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng thương mại
Thứ hai, nhằm ngăn ngừa và hạn chế việc có ý vi phạm nghĩa vụ trong, hợp đồng, nâng cao ý thức trách nhiệm của các bên trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng
Pháp luật thương mại hiện hành áp dụng nguyên tắc suy đoán đối với
lỗi Do đó, khi một bên bị ÿi'pàm 'ngHa' 90, ben a6 Không có nghĩa vụ
chimg minh yếu tố lỗi của bên có hành vi vi phạm Điều này có ý nghĩa lớn
trong việc áp dụng trách nhiệm đối với bên có hành vi vi phạm Hình thức cham dứt thực hiện hợp đồng trước thời hạn còn có tác dụng nâng cao ý thức
thực hiện hợp đồng, can trọng, tránh các trường hợp mà từ đó có thể gây ra
việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng hoặc có thể cao hơn là hủy bỏ
hợp đồng của một trong các bên
Thứ ba, nhằm góp phần đảm bảo trật tự vận hành của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thẻ kinh tế được tự do quyết định
lựa chọn các hoạt động kinh doanh của mình Đây là các nguyên tắc của ngành luật “tư”, tuy nhiên, các học thuyết kinh tế đã chứng minh các tác động xấu, các thất bại của thị trường nếu không có sự quản lý của nhà nước Tuy nhiên, nếu Nhà nước quản lý quá sâu, can thiệp thô bạo vào thị trường
21
Trang 26sẽ khiến các quan hệ kinh doanh thương mại méo mó, không đúng ban chat
của thị trường
Hiện nay, Nhà nước cần phối hợp, đảm bảo cho các bên thực hiện
quyền tự do kinh doanh trên thị trường, trong đó có quyền tự do hợp đồng
Khi hợp đồng có hiệu lực, các bên phải tôn trọng và thực hiện hợp đồng, việc
các bên tôn trọng, thực hiện hợp đồng chính là đảm bảo trật tự vận hành của nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước Nếu không có các quy
định về chấm dứt thực hiện hợp đồng, đặc biệt là các quy định về đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại sẽ dẫn đến sự thiếu tôn trọng các bên, đảo lộn các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế
1.1.5 Những yếu tố tác động và ảnh hướng đến chấm dút thực hiện
hợp đồng thương mại
Thứ nhất, các yêu tố ngoại cảnh khách quan
Có thể thấy, chế định pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại nham giấi qúyết ldác lyếu' tối kháèh \uan phá siih Trừ trường
hợp chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại sau khi đã hoàn thành hợp
đồng, các trường hợp khác đều phát sinh ngoài dự đoán của các bên tranh chấp, ví dụ như đối tượng của hợp đồng không còn hay chủ thể của hợp đồng
là doanh nghiệp đã giải thể hoặc phá sản
Khi những sự kiện khách quan này xảy ra, không còn đủ yếu tố của một hợp đồng, do đó việc tiếp tục thực hiện hợp đồng là không kha thi Vi vậy, các yếu tố khách quan có tác động lớn tới việc chấm dứt thực hiện hợp
đồng thương mại hay nói cách khác, chế định pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng nói chung, hợp đồng thương mại nói riêng được xây dựng trên
những phát sinh thực tế khi thực hiện hợp đồng
Nhận thức được tầm quan trọng của pháp luật đối với vấn đề chấm dứt hợp đồng, ngay từ BLDS năm 1995, tới BLDS 2005, BLDS 2015 và Luật Thương mại năm 2005 đều đã đưa ra những quy định cụ thể về việc sửa đồi,
Trang 27chấm dứt hợp đồng Theo đó, các quy định về chấm dứt hợp đồng trong các văn bản pháp luật kẻ trên được quy định theo hướng ngày càng hoàn thiện, đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh của pháp luật về chấm dứt hợp đồng trên thực tế
Thứ hai, phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật về
chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
Các quan hệ xã hội đặc biệt là các quan hệ hợp đồng thương mại luôn
luôn tồn tại ở trạng thái động, không ngừng biến đổi và phức tạp Pháp luật
được ban hành là do đòi hỏi của thực tế, cần pháp luật để điều chỉnh van dé
mới phát sinh, nên thực tế có nhiều trường hợp chưa đáp ứng được đòi hỏi
của xã hội Đối với lĩnh vực chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại, nhiều công ty, thương nhân còn chưa hiểu rõ, chưa xác định được quyền chấm dứt
thực hiện hợp đồng thương mại trước thời hạn Nếu chấm dứt thì hậu quả
pháp lý của hợp đồng đã giao kết sẽ giải quyết như thế nào? Vì vậy, mức
độ hoàn thiện củá) pháp liệt đượẽ Bàn hành'ñhằn) điều chỉ ác vấn đề phát
sinh trong việc chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại là hết sức quan trọng
Thứ ba, tính chất và sự phát triển của nền kinh tế
Hoạt động thương mại luôn vận động và không ngừng biến đổi ngày càng phong phú, phức tạp Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập sâu rộng về kinh
tế của Việt Nam cũng như những sự kiện chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử hiện đại như dịch bệnh covid toàn cầu từ năm 2020 Các thương nhân, doanh
nghiệp phải thực tế chấm dứt thực hiện hợp đồng khi dịch bệnh xảy ra, để lại
những hậu quả pháp lý cũng như kinh tế to lớn
Để đảm bảo phát triển bền vững, ổn định, các doanh nghiệp phải
thường xuyên cập nhật và thích ứng với những biến đổi của nền kinh tế như
lạm phát, giá cả tăng cao, nhu cầu, thị hiếu của khách hàng thường xuyên
biến đổi, ảnh hưởng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Những yếu tố
2
Trang 28khách quan đó thường xuyên tác động tới hoạt động của các doanh nghiệp, đặc biệt trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng Nếu các doanh
nghiệp không nhanh nhạy trước các biến đổi này thì rất dễ dẫn đến việc phải
chấm dứt hợp đồng sớm hơn so với dự kiến, mục đích của việc giao kết hợp
đồng rất khó đạt được Ví dụ như trường hợp hợp đồng chấm dứt do hoàn
cảnh thay đổi cơ bản
Thứ tu, các yêu tô chủ quan xuất phát từ ý chí của các bên trong hợp đồng thương mại
Các trường hợp chấm dứt hợp đồng thương mại trước thời hạn thể hiện rõ ràng bản chất của quyền tự do hợp đồng, bản chất của hợp đồng và những biện pháp trách nhiệm do hành vi vi phạm hợp đồng thương mại của
một trong các bên
Phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các bên, mà tùy từng sự kiện, căn cứ xảy ra, các bên vận dụng, thỏa thuận dé chấm dứt thực hiện hợp đồng đề hạn
chế các tổn thất kay tal Néu Gd )beA High ERE Hop tdd Ÿì Ìợi Ích các bên thì
việc chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại trước thời hạn diễn ra nhanh
chóng, ít hậu quả Nhưng ngược lại, nếu các bên không tôn trọng lợi ích của
nhau thì việc chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại có thể gây ra mâu thuẫn, tranh chấp
Bởi vậy, theo ý kiến của tác giả việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao ý
thức pháp luật cho các thương nhân trong quan hệ thương mại là điều hết sức
cần thiết Bên cạnh đó, việc nâng cao kiến thức pháp lý và thực tiễn cho đội
ngũ cán bộ Tòa án cũng có vai trò rất quan trọng đối với vấn đề chấm dứt hop dong, đặc biệt là trong trường hợp tuyên bố châm dứt hợp đồng do hoàn
cảnh thay đổi cơ bản và giải quyết tranh chấp hợp đồng phát sinh giữa các
bên
Nhận thức và đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp: Hiệu quả của việc thực hiện pháp luật có tốt hay không phụ thuộc rất lớn và ý thức pháp
Trang 29luật của chủ thê thực hiện Trong quan hệ hợp đồng, vai trò của các bên chủ thể vô cùng lớn Các chủ thể hợp đồng nắm rõ các quy định của pháp luật, có
ý thức tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật, hiểu được vai trò to lớn của pháp luật và ý nghĩa của việc thực hiện hợp đồng đối với mình và đối tác thì chắc chắn việc chấm dứt hợp đồng sẽ suôn sẻ, ít khi xảy ra tranh chấp Ngược lại, các chủ thể nắm được các quy định của pháp luật nhưng
không có ý thức tuân thủ pháp luật triệt để, luôn tìm kiếm cơ hội để “lách
luật”, lợi dụng sơ hở của đối tác để trục lợi thì việc chấm dứt hợp đồng là
điều tất yếu
1.1.6 Sự trơng đồng và khác biệt về chấm dút hợp đồng thương mại
với chấm dứt một số hợp đồng khác
Theo quy định chung của Bộ luật Dân sự, các quan hệ dân sự có phạm
vi rộng, bao trùm cả các giao lưu dân sự nói chung, đến các quan hệ lao động, kinh doanh — thương mại, đất đai, hôn nhân và gia đình Bởi vậy, hợp đồng
thương mại, hợp đồng Iaỏi độïiẻ; Bựp đồng đâu sự cũng được coi là một trong
những loại hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS Do đó, việc chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại luôn mang một số đặc điểm tương đồng với việc chấm dứt thực hiện các loại hợp đồng khác như: cùng áp dụng các căn cứ chấm dứt chung tại Bộ luật Dân sự; cùng làm ngừng lại việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể; làm phát sinh các nghĩa vụ mới giữa các chủ thể sau khi hợp đồng chấm dứt Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của quan hệ thương mại, nên việc chấm dứt hợp đồng thương mại luôn có những điểm khác biệt điển hình, đó là:
Về căn cứ chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại Hợp đồng thương mại do các thương nhân xác lập nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận thì khi chấm dứt sẽ phải tuân theo các căn cứ riêng được quy định trong Luật Thuong mại Trong khi đó, việc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng dân
sự khác không mang trong mình đặc điểm của hợp đồng thương mại thì
25
Trang 30không thể áp dụng các căn cứ nêu trong Luật Thương mai dé giải quyết, mà phải áp dụng các căn cứ của pháp luật chuyên ngành khác tương ứng như Bộ luật Lao động, Luật Đất đai
Về hậu quả pháp lý của việc cham dứt thực hiện hợp đồng thương mại
Có thể thấy những sự khác biệt của hậu quả pháp lý trong việc chấm dứt
thực hiện hợp đồng thương mại với chấm dứt thực hiện các loại hợp đồng khác, ví dụ như hợp đồng lao động Nếu việc chấm dứt hợp đồng thương mại làm kết thúc quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thương mại (trao đối, mua bán nhằm tìm kiếm lợi nhuận) thì việc cham dứt hợp đồng lao động sẽ làm kết thúc quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động trong quan hệ trao đổi, mua bán sức lao động
1.2 Khái quát pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương
mại
1.2.1.Khái quát sự hình thành và phát triển của pháp luật về chấm
dứt thực hiện hop dong thrdng mai ai oc Vic Ì
Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, với tư duy “trọng nông, ức thương” cũng như “trọng tình hơn trọng lý” do đó có những đặc thù về nghề thương mại, cũng như hệ thống pháp luật
Trong lịch sử phát triển các triều đại phong kiến Việt Nam cũng như các nhà nước phong kiến phương Đông khác, pháp luật chủ yếu điều chinh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hình sự, hành chính, các giao dịch giữa các thương nhân (hợp đồng thương mại) được điều chỉnh trước hết bởi phong tục, tập quán, thông lệ và các quy phạm đạo đức Do đó, thời kì này hầu như chưa có quy phạm pháp luật cụ thể điều chỉnh về việc chấm dứt hợp đồng thương mại
Quá trình xâm lược của thực dân Pháp đã đem theo sự du nhập của pháp luật thương mại Pháp tại Việt Nam Năm 1864, thực dân Pháp áp dụng
Bộ luật thương mại Pháp tại Nam Kỳ và năm 1988 áp dụng tại Bắc kỳ Dưới
Trang 31ảnh hưởng mạnh mẽ của Luật Thương mại Pháp, năm 1942 theo Chiếu dụ số
46 ngày 12/6/1942 (năm Bảo Đại thứ 17) chính quyền Nam triều Bảo Đại ban hành Bộ luật Thương mại áp dụng tại Trung kỳ từ ngày 1/1/1944 Năm
1972, chính quyền Việt Nam cộng hòa ban hành Bộ luật thương mại áp dụng ở miền Nam Việt Nam cho tới ngày thống nhất đất nước Bộ luật này cũng chỉ là một văn bản có giá trị sử liệu nhiều hơn là giá trị thực tiễn [16, tr.10] Xã hội Việt Nam thời đó (cũng như ngày nay) được cấu trúc nên bởi những cộng đồng làng xã với những tục lệ lâu đời, có tính tổ chức cao và thói quen chống lại các ảnh hưởng bị ép buộc bởi các thế lực bên ngoài Vì những lẽ đó, pháp luật dân sự và thương sự do chính quyền thực dân và chính quyền Nam triều ban hành chỉ được áp dụng trong một phạm vi hạn
hẹp mà không thẻ bám rễ lâu bền trong xã hội Việt Nam Mặc dù vậy, pháp luật thương mại thời kỳ này ít nhiều đã làm những thử nghiệm đầu tiên
chuyển hóa tư tưởng pháp luật thương mại châu Âu vào Việt Nam Các quy
định về chấm dứt!hợp (đồng: thưØúg nhại ở VietNam (cing duoc manh nha
phát triển từ thời kì này
Sau khi giành được độc lập ở miền Bắc, chúng ta tiến hành khôi phục nền kinh tế, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội với
phương hướng phát triển nền kinh tế có kế hoạch và phát huy sức mạnh tập
thể Nền kinh tế bao gồm thành phần kinh tế quốc doanh gồm các xí nghiệp
quốc doanh, nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh, ngư trường quốc doanh Thời kỳ này không thừa nhận các quy luật của thị trường, không có các khái niệm cơ bản của kinh tế thị trường Tất cả các hợp đồng
liên quan tới hoạt động kinh tế đều được gọi là hợp đồng kinh tế Nguyên tắc
giao kết, ký kết hợp đồng trong thời kỳ này là bắt buộc, mệnh lệnh, tuân theo
các kế hoạch được Nhà nước định ra; việc chấm dứt thực hiện hợp đồng cũng theo nhu cầu điều chỉnh của kế hoạch Nhà nước Trong cơ chế tập trung bao cấp, với vai trò là công cụ để thực hiện kế hoạch của Nhà nước,
27
Trang 32chấm dứt thực hiện hợp đồng kinh tế tất yếu mang những đặc điểm trên Cho
dù các hình thức chấm dứt thực hiện hợp đồng kinh tế mang nặng dấu ấn
hành chính nhưng vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố kỷ luật hợp đồng và thực hiện các kế hoạch của Nhà nước
Cùng với thắng lợi trong cuộc chiến tranh giành độc lập hoàn toàn năm 1975, những tàn dư của xã hội cũ, trong đó có pháp luật về thương mại
ở miền Nam, đã bị xóa bỏ Đặc biệt từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VỊ
năm 1986, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện đặc biệt là về kinh
tế, nhằm mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Do đó, pháp luật
về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại thời kỳ này cũng cần có sự thay đổi toàn diện
Quá trình chuyền từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh
tế thị trường đã làm xuất hiện nhiều quan hệ kinh tế mới, các chủ thể tham
gia đa dạng hơn và các nhu cầu, tình huống chấm dứt thực hiện hợp đồng
thương mại cũng pBức 'tạp Hơä'và'éó nhiều thấy Vô Trúy Rã)ban hành nhiều
văn bản nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn nhưng do trong giai đoạn đầu
đổi mới kinh tế đất nước, kinh nghiệm lập pháp của chúng ta còn hạn chế
nên các văn bản pháp luật về hợp đồng nói chung, hợp đồng thương mại thời
kỳ này vẫn còn thiếu tính hệ thống, nhiều chồng chéo, trùng lặp và mâu thuẫn với nhau
Lich sử hình thành và phát triển của pháp luật về chấm dứt thực hiện
hợp đồng thương mại ở Việt Nam từ sau năm 1986 tới nay được thẻ hiện trong nội dung của các văn bản pháp luật sau:
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế được Quốc hội thông qua ngày 25 tháng 9
năm 1989 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành pháp lệnh hợp đồng kinh tế
- Bộ luật Dân sự năm 1995 được áp dụng để ký kết, thực hiện và giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự bao gồm mọi hoạt động chứa đựng sự thỏa thuận nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự
Trang 33giữa các bên và không bị giới hạn bởi mục đích sinh hoạt tiêu dùng như trong Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991
Tuy nhiên, bước vào giai đoạn hội nhập, Việt Nam làm bạn với mọi quốc gia trên thế giới, tiến hành đàm phán để có thể gia nhập các tổ chức khu
vực và toàn cầu, là điểm đến mới của các nhà đầu tư nước ngoài Các quan
hệ này đã nằm ngoài sức chứa của một ngành luật kinh tế theo nghĩa truyền thống Cu thé hon, ngành luật kinh tế với những quy định cứng nhắc trong
quan hệ hợp đồng đứng trước yêu cầu phải đổi mới, đòi hỏi phải có môi
trường pháp lý, những chế định pháp lý thích hợp với điều kiện của nước
ta trong giai đoạn mới Ngoài ra, việc mở rộng giao lưu thương mại kinh tế với nước ngoài đòi hỏi phải có các quy định pháp luật đẻ điều chỉnh Cách
thức giải quyết vấn đề này, kinh nghiệm quốc tế cũng như ở Việt Nam cho
thấy tái xây dựng ngành luật thương mại là phù hợp
Thấy rõ sự cần thiết phải ban hành một văn bản có hiệu lực pháp lý
cao về lĩnh vực thửờng shại| ñă'1989) Hội đồnh Nhà nước (1à Hội đồng Bộ
trưởng giao cho Bộ Thương nghiệp soạn thảo dự án Pháp lệnh Thương mại
Năm 1992, dự án này được đổi thành dự án Luật Thương mại Qua nhiều lần
trình Quốc hội xem xét, ngày 10/5/1997, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 11 đã
thông qua Luật Thương mại với 6 chương, 264 điều Luật Thương mại 1997
được ban hành để điều chỉnh quy chế thương nhân và một số giao dịch của
thương nhân được gọi là hành vi thương mại Phản ánh phần nào thực trạng
nền kinh tế, Luật Thương mại đã có được những thành công nhất định Nó
ghi nhận quyền tự do kinh doanh của công dân trong lĩnh vực thương mại, nhân mạnh quyền tự do khế ước của thương nhân thể hiện ở quyền tự do
chọn bạn hàng (Điều 6) quyền tự do lựa chọn hình thức đề giao kết hợp đồng
(Điều 49), quyền tự do xác định nội dung cụ thể của hợp đồng (Điều 50)
Liên quan tới các quy định về chấm dứt hợp đồng, LTM 1997 quy định “Các
bên có thể thỏa thuận sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng mua bán hàng
29
Trang 34hóa theo trình tự và thủ tục phù hợp với từng loại hợp đồngỢ (Điều 57) Như vậy, LTM 1997 đã xây dựng quy định cụ thể để trao cho thương nhân quyền
tự quyết, có hay không việc chấm dứt hợp đồng thương mại đã giao kết Cách quy định này hoàn toàn khác với LTM 2005 sau này Bên cạnh đó Luật
còn quy định về việc xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm tại Điều 78;
nghĩa vụ giữ bắ mật thông tin khi hợp đồng đại lý chấm dứt tại Điều 86; Don
phương chấm dứt hợp đồng đại diện tại Điều 92; chấm dứt hợp đồng đại lý
(Điều 126)
Không giống như pháp luật thương mại của những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, pháp luật về thương mại của Việt Nam còn rất non trẻ
và phát triển liên tục Thậm chắ mang những dấu ấn của Ộthực tiễn tới lý
luậnỢ, đạo luật về các loại hình thương nhân đã được ban hành từ năm 1990
với tên gọi là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân, nhưng tới năm
1997 chúng ta mới ban hành Luật Thương mại Luật Thương mại năm 1997
ra đời, ngoài những thành cõhg'ựHất định #ắRử đã tiêu cồn éó nhiều khiếm
khuyết, trong đó lớn nhất là Luật Thương mại đã không thay thế được những văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn được ban hành trước đó như Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
Do đó, ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội khóa 11 đã chắnh thức thông qua Luật Thương mại năm 2005 thay thế cho Luật thương mại năm
1997 Luật Thương mại năm 2005 đã khắc phục những khiếm khuyết của
LTM 1997, thống nhất hợp đồng kinh tế với hợp đồng thương mại trên cơ sở
các quy định chung về hợp đồng theo quy định của BLDS 2005 Theo đó, LTM 2005 không đưa ra quy định cụ thể về việc chấm dứt hợp đồng thương, mại, mà việc chấm dứt hợp đồng thương mại được tuân theo các quy định
chung về chấm dứt hợp đồng trong BLDS 2005 (từ Điều 424 đến Điều 427)
và từ ngày 1/1/2017 tới nay là BLDS 2015 (Từ Điều 422 đến Điều 428) được
ban hành, thay thế cho BLDS 2005
30
Trang 35Tuy nhiên, không giống như BLDS tiếp cận các trường hợp chấm dứt
thực hiện hợp đồng như là giai đoạn cuối của quá trình thực hiện hợp đồng,
LTM 2005 tiếp cận việc chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại với tư
cách là một chế tài trong hợp đồng, để bên bị vi phạm nghĩa vụ áp dụng đối với bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, bao gồm: Chế tài đình chỉ thực
hiện hợp đồng (Điều 310, 311); chế tài hủy bỏ hợp đồng (Điều 312, 313,
314) Những nội dung này được tác giả phân tích cụ thể trong chương 2 của luận văn Bên cạnh đó, Luật Thương mại 2005 cũng ban hành rải rác một số các quy phạm về quyền, nghĩa vụ phát sinh sau khi hợp đồng chấm dứt như giữ bí mật thông tin, bảo lãnh, bảo hành, bồi thường thiệt hại
1.2.2 Khái niệm pháp luật và nguân luật về chấm dứt thực hiện hợp
đồng thương mại
Hợp đồng dân sự nói chung, hợp đồng thương mại nói riêng cũng trải qua các giai đoạn phát sinh, phát triển và chấm dứt Các căn cứ làm chấm dứt
thực hiện hợp đồng thươg niại Gố thể Xuất hát dở hgoại Èảnh như hoàn cảnh
thay đổi cơ bản hay do ý chí đơn phương hoặc thống nhất chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại của các bên trong hợp đồng
Do đó, có thể hiểu “Pháp luật về chắm dứt thực hiện hợp đông thương mại là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, hoặc thừa
nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ trong quá trình chấm dứa thực hiện hợp
đồng của các bên trong hợp đằng thương mại ”
Pháp luật về cham dứt hợp đồng thương mại mang bản chất của pháp luật về chấm dứt hợp đồng nói chung, cho nên nó mang đầy đủ các đặc điểm của pháp luật về chấm dứt hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự Tuy
nhiên, pháp luật về chấm dứt hợp đồng thương mại vẫn có những đặc điểm
riêng, phân biệt với các quy định của pháp luật về chấm dứt các loại hợp đồng khác như hợp đồng lao động, hợp đồng dân sự đó là:
31
Trang 36Thứ nhất, về đôi tượng điều chỉnh: Giống như tên gọi của nhóm quy định pháp luật này, pháp luật về chấm dứt hợp đồng thương mại chỉ tác động tới việc ngừng hiệu lực của các thỏa thuận giữa các bên của hợp đồng thương mại (các hợp đồng được giao kết giữa các thương nhân hoặc ít nhất
một bên là thương nhân, thực hiện các hoạt động thương mại nhằm mục đích
tìm kiếm lợi nhuận) mà không điều chỉnh sự ngừng hiệu lực của các loại hợp đồng khác như hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động
Thứ hai, về phạm vì điều chỉnh: Do hợp đồng thương mại là một trong những loại hợp đồng chuyên biệt chịu sự điều chỉnh của cả luật chuyên ngành là Luật thương mại và Bộ luật dân sự nên nhóm các quy định của pháp luật về châm dứt hợp đồng thương mại tồn tại ở phạm vi rất rộng bao gồm cả
BLDS và LTM cùng một số văn bản pháp lý liên quan về các căn cứ chấm
dứt hợp đồng thương mại, việc giải quyết hậu quả pháp lý trong trường hợp
châm dứt hợp đồng thương mại, các quyền và nghĩa vụ của chủ thể hợp đồng sau khi hợp đồng bị chấuš'dứfHi@ilặe.)31 hoc Mo Ha No
Đối với hợp đồng thương mại nói chung và quy định về chấm dứt hợp
đồng thương mại nói riêng, nguồn luật chủ yếu điều chỉnh hiện hành là:
Bộ luật Dân sự là nguồn luật chung cho tất cả các quan hệ hợp đồng như quy định những nguyên tắc chung, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng,
hợp đồng vô hiệu, các biện pháp đảm bảo giao kết và thực hiện hợp đồng và
vấn đề về chám dứt hợp đồng
Luật Thương mại quy định những vấn dé cụ thể về hợp đồng thương mại Khi có những vấn đề liên quan đến hợp đồng thương mai mà Luật Thương mại không quy định thì áp dụng quy định của BLDS (Điều 4 BLDS
2015) Vấn đề chấm dứt hợp đồng không được quy định trong Luật Thương
mại, do đó, căn cứ áp dụng chủ yếu là Bộ luật Dân sự
Đối với hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài trong kinh doanh, thương mại được điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật khác nhau như luật quốc
Trang 37gia, các điều ước quốc tế và các tập quán quéc té, tuy nhién, d6i voi quy định
về chấm dứt hợp đồng, các bên cũng căn cứ vào quy dinh tại Bộ luật dân sự
Các luật chuyên ngành điều chỉnh các quan hệ hợp đồng cũng như châm dứt thực hiện hợp đồng thương mại áp dụng riêng trong lĩnh vực đó, vi
dụ như Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Quảng cáo Nếu trong các văn bản
pháp luật này không có quy định về châm dứt thực hiện hợp đồng, thì áp dụng
các quy địh của Luật Thương mại và các quy định chung tại Bộ luật Dân sự
Như vậy, các quy định về chấm dứt hợp đồng thương mại chủ yếu được quy định trong Bộ luật Dân sự, quy định tại hệ thống các luật chuyên ngành chỉ được căn cứ đẻ làm rõ các vấn đề có liên quan đến nguyên nhân chấm dứt hợp đồng thương mại
Thời kỳ đầu của đổi mới, Quốc hội ban hành Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế 1989 và song hành cùng nó là Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991 Hai loại
hợp đồng này được phân biệt với nhau về chủ thể, mục đích và hình thức ký
kết Tại những väii'bãn ñày, đã Èöcnhằng ý định chuyền /3âu về hợp đồng
dân sự, hợp đồng kinh tế, trong đó có những quy định về đình chỉ thực hiện hợp đồng Việc phân biệt thành hai loại Hợp đồng, PLVN chịu ảnh hưởng của pháp luật Xô viết
Từ năm 1991 đến năm 1994 có 14 Dự thảo Bộ luật Dân sự ra đời "đã
lần lượt tiếp thu vào Bộ luật Dân sự, sau khi đã được kiểm nghiệm, sàng lọc
qua thực tiễn sống động của đời sống xã hội" và Bộ luật Dân sự năm 1995 -
Bộ luật Dân sự đầu tiên của nước ta được thông qua ngày 28/10/1995 và có hiệu lực từ ngày 01/7/1996 là một bước tiến lớn trong quy định về HĐDS nói chung và đơn phương đình chỉ thực hiện HĐDS nói riêng so với Pháp lệnh HĐDS năm 1991 Và sau đó, năm 1997, Luật Thương mại được ban hành, cụ thể hóa các nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự áp dụng cho các quan hệ
kímh doanh, thương mại
33
Trang 38Hiện nay với BLDS 2015, LTM 2005 ra đời, đánh dấu bước phát triển
mới của pháp luật về hợp đồng và là sự thống nhất pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam Những quy định tại Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại thể hiện tính
tự nguyện, bình đẳng, tự do trong quá trình giao kết, thực hiện, chấm dứt Hợp đồng nói chung, Hợp đồng thương mại nói riêng sâu sắc hơn; quyền và lợi ích của các bên chủ thể hợp đồng được điều chỉnh hợp lý, bảo vệ rõ nét hơn và cả
các quy định liên quan tới chấm dứt hợp đồng Ngoài ra là rất nhiều văn bản
pháp luật khác có liên quan đã cụ thể hóa các quan hệ đặc thù trong các lĩnh vực khác nhau như chứng khoán, tín dụng, lao động, đất đai
Để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất, bao quát khi điều chỉnh quan hệ
hợp đồng, hiện nay nguyên tắc áp dụng luật tư tại Điều 4 BLDS 2015 được
quy định rõ ràng, thông nhất pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài cũng như giới hạn về dung lượng, tác giả luận văn tập trung phân tích các quy định chung của Bộ luật Dân sự
2015 và các quỷ điñH cúäi Liật'Dhiờng #ủai!200314È) các trởng hợp chấm dứt
thực hiện hợp đồng nói chung, hợp đồng thương mại nói riêng
Theo đó, những căn cứ này được quy định chung tại BLDS 2015, bao
gồm Điều 422 - Chấm dứt hợp đồng; Điều 420 - Thực hiện hợp đồng khi
hoàn cảnh thay đổi cơ bản; Điều 428 - Don phương châm dứt thực hiện hợp đồng nói chung và những quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện những loại hợp đồng dân sự thông dụng
Luật Thương mại không quy định những nguyên tắc chung, mà cu thé hóa những nguyên tắc chung này của Bộ luật Dân sự Do đó, Luật Thương mai 2005, cu thé hoa, quy dinh về các trường hợp châm dứt hợp đồng thương mại cũng như đơn phương chấm dứt thực hiện các loại hợp đồng thương mại
Cụ thể như:
- Điều 144 — Về chấm dứt hợp đồng đại diện cho thương nhân
- Điều 177 — Vé cham dứt hợp đồng đại lý
Trang 39- Điều 289 — Về chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại
- Điều 310, 311 — Về đình chỉ thực hiện hợp đồng thương mại
Những nội dung sau của Luận văn phđn tích câc trường hợp chấm dứt hợp đồng thương mại theo quy định của Luật Thương mại 2005 vă Bộ luật Dđn sự 2015 theo nguyín tắc trín
1.2.3 Nội dung phâp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại
Nội dung cơ bản của phâp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương
mại bao gồm:
- Nhóm quy định về câc trường hợp chấm dứt hợp đồng thương mại Chấm dứt hợp đồng thương mại có nhiều trường hợp, có trường hợp do đê thực hiện xong, có trường hợp do thỏa thuận của câc bín, có trường hợp lại
xuất phât từ ý chí của một bín trong hợp đồng, có trường hợp do chủ thể của
hợp đồng không còn tồn tại, v.v Vì vậy, phâp luật cần phải có những quy định về câc trường hợp chấm dứt hợp đồng, lăm cơ sở đề có những quy định
cụ thể về căn cử, Quỷ định về!ĩầh 0: thực (hiện, uy/diầh Về hậu quả phâp
lý
- Nhóm quy định về căn cứ của việc chấm dứt hợp đồng thương mại
Để chấm dứt hợp đồng thương mại phải dựa trín cơ sở câc căn cứ theo quy
định phâp luật Mỗi trường hợp chấm dứt hợp đồng thương mại khâc nhau có
căn cứ khâc nhau Đối với những trường hợp mă việc chấm dứt hợp đồng do
đê hoăn thănh hợp đồng hoặc do câc bín thỏa thuận, căn cứ để chấm dứt hợp
đồng sẽ đơn giản hơn Đối với câc trường hợp chấm dứt hợp đồng xuất phât
từ ý chí của một bín thì quy định căn cứ chấm dứt hợp đồng sẽ phức tạp hơn,
vì đđy lă vấn đề có thể gđy ra những tranh chấp thương mại giữa câc bín, nĩu
quy định phâp luật không cụ thể chỉ tiết sẽ dẫn đến việc âp dụng phâp luật
không chính xâc
- Nhóm quy định về câch thức thực hiện chấm dứt hợp đồng thương
mại Tuỳ thuộc văo trường hợp chấm dứt hợp đồng mă câch thức chấm dứt
35
Trang 40cũng khác nhau, trong đó việc chấm dứt đơn phương phải có những quy định
cụ thể, vì đối với hình thức chấm dứt nay Sẽ có quan điểm khác nhau của các
bên khi thực hiện hợp đồng
- Nhóm quy định về hậu quả pháp lý khi chấm dứt hợp đồng thương
mại Hậu quả pháp lý chung khi chấm dứt hợp đồng là các bên không tiếp tục
thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng Tuy nhiên, tuỳ từng trường hợp chấm dứt
hợp đồng mà các bên có thê phải chịu một số hậu quả pháp lý khác như phải
thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện cho nhau, hoặc phải bồi thường thiệt
hại khi có vi phạm
Kết luận chương 1 Chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại có vai trò và ý nghĩa quan
trọng đối với các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, các nhà đầu tư Do đó vấn
đề chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại luôn nhận được sự quan tâm,
nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân và các nhà khoa học Trên cơ sở kế thừa
của các công trình nghiêà cứu t6 (biã fap 1ttíag ñghiến cằh một cách có hệ
thống và toàn diện về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại theo pháp luật
Việt Nam; nghiên cứu tông thẻ và sâu về phần lý luận
Như vậy, hệ thống pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại đã tạo hành lang pháp lý cho quá trình thực hiện hợp đồng Các văn bản
pháp luật về chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại như Luật Dân sự, Luật
Doanh nghiệp, Luật Thương mại đã quy định các nội dung điều chỉnh về hợp đồng thương mại và chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại