1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và pháp luật thương mại việt nam

84 17 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài - Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng”, cụ thể: Đề tài phân tích và lý giải những nội dung lý luận là cơ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

ĐẶNG HOA TRANG

CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

ĐẶNG HOA TRANG

CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phan Huy Hồng

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu, luận điểm trong luận văn được trích dẫn đầy đủ nếu không thuộc

ý tưởng hoặc kết quả tổng hợp của chính bản thân tôi

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Đặng Hoa Trang

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

LTM 2005

Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng

6 năm 2005 của Quốc hội

BLDS 2005

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 6

năm 2005 của Quốc hội

CISG

Công ước Viên 1980 (Công ước của Liên hợp quốc

về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế)

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG 6

1.1 Khái quát về chế tài trong thương mại 6

1.1.1 Khái niệm chế tài trong thương mại 6

1.1.2 Đặc điểm của chế tài trong thương mại 9

1.1.3 Vai trò của chế tài trong thương mại 11

1.2 Khái quát về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 13

1.2.1 Khái niệm chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 13

1.2.2 Đặc điểm của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 15

1.2.3 Sự cần thiết của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong quan hệ thương mại 17

1.2.4 Sự cần thiết phải nghiên cứu chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quy định của Công ước Viên 1980 18

Kết luận chương 1 21

CHƯƠNG 2: CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 22

2.1 Điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 22

2.1.1 Các vấn đề pháp lý về điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 22

2.1.2 Thực tiễn tài phán về điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 24

2.2 Cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 27

2.2.1 Các vấn đề pháp lý về cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 27

2.2.2 Thực tiễn tài phán về cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 29

2.3 Gia hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng 31

2.3.1 Các vấn đề pháp lý về gia hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng 31

2.3.2 Thực tiễn tài phán về gia hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng 32

2.4 Quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các chế tài khác trong thương mại 35

Trang 6

2.4.1 Các vấn đề pháp lý về quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp

đồng và các chế tài khác trong thương mại 35

2.4.2 Thực tiễn tài phán về quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các chế tài khác trong thương mại 38

Kết luận chương 2 41

CHƯƠNG 3: CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 42

3.1 Điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 42

3.1.1 Các vấn đề pháp lý về điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 42

3.1.2 Thực tiễn tài phán về điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 44

3.2 Cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 46

3.2.1 Các vấn đề pháp lý về cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 46

3.2.2 Thực tiễn tài phán về cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 49

3.3 Gia hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng 52

3.3.1 Các vấn đề pháp lý về gia hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng 52

3.3.2 Thực tiễn tài phán về gia hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng 53

3.4 Quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các biện pháp bảo hộ pháp lý khác trong Công ước Viên 1980 55

3.4.1 Các vấn đề pháp lý về quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các biện pháp bảo hộ pháp lý khác trong Công ước Viên 1980 55

3.4.2 Thực tiễn tài phán về quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các biện pháp bảo hộ pháp lý khác trong Công ước Viên 1980 56

Kết luận chương 3 59

CHƯƠNG 4: HOÀN THIỆN CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG CỦA PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ GIẢI THÍCH VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT 61

4.1 Sự cần thiết phải giải thích và áp dụng thống nhất chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 61

Trang 7

4.2 Một số định hướng nhằm hoàn thiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng dưới góc độ giải thích và áp dụng pháp luật 63

4.2.1 Áp dụng yêu cầu thay thế hàng hóa đối với vi phạm cơ bản 63

4.2.2 Các căn cứ để xác định tính hợp lý của thời hạn thông báo yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng 65

4.2.3 Các căn cứ để xác định tính hợp lý của thời gian gia hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng 66

4.2.4 Thỏa thuận miễn nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng và biện pháp giảm giá 67

Kết luận chương 4 70 KẾT LUẬN CHUNG 71

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Toàn cầu hóa đang là xu thế tất yếu của nền kinh tế thế giới Mọi quốc gia, nếu không muốn bị lãng quên trong nghèo nàn và lạc hậu đều phải chủ động tham gia cuộc cạnh tranh gay gắt này”1 Việt Nam cũng không phải ngoại lệ, từ nhiều năm qua chúng ta đã tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, điều này đã tạo tiền đề thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng Theo

đó, hợp đồng thương mại cũng biến thể phong phú và đa dạng, những hành vi lừa đảo và trốn tránh nghĩa vụ hợp đồng được trá hình ngày càng tinh vi và phức tạp Đứng trước tình hình biến đổi không ngừng của thực tiễn nói trên, pháp luật thương mại Việt Nam quy định “Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng” tại Điều 297 LTM

2005 mang tính khái quát cao, điều này là cần thiết để đảm bảo chế tài có thể điều chỉnh được nhiều tình huống pháp luật có bản chất tương tự nhưng biểu hiện thực tế lại đa dạng và phong phú Tuy nhiên, tính khái quát cao đem đến một số trở ngại trong việc áp dụng thống nhất pháp luật (một yêu cầu của nguyên tắc pháp chế), dễ dàng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau nếu không nắm rõ bản chất của vấn đề, gây khó khăn cho Tòa án và Trọng tài, làm các đương sự hoang mang và lúng túng Trong một số trường hợp áp dụng tùy tiện, chế tài còn tỏ ra lấn lướt nguyên tắc cao hơn là “Thiện chí, trung thực” Từ những bất cập nêu trên, một câu hỏi được đặt ra là: Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng cần được áp dụng như thế nào trong từng trường hợp điển hình của thực tiễn đa dạng?

Muốn trả lời câu hỏi này, nếu chỉ nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật trong nước là chưa đủ, cần thiết hơn chúng ta phải nghiên cứu cả thực tiễn áp dụng pháp luật quốc tế để thoát khỏi tư duy theo lối mòn và có một cách nhìn mới mẻ hơn, hiện đại hơn Hiện nay, Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một trong những Công ước được áp dụng rộng rãi nhất trong số các điều ước đa phương về mua bán hàng hóa quốc tế, điều này được thể hiện minh thị qua

số lượng quốc gia là thành viên của Công ước và lượng giao dịch khổng lồ mà Công ước điều chỉnh2 Đây sẽ là kho tàng đồ sộ về thực tiễn áp dụng các quy định về hợp

1 Phạm Duy Nghĩa (2000), “Pháp luật thương mại Việt Nam trước thách thức của quá trình hội nhập kinh tế

quốc tế”, Nhà nước và pháp luật, (146), tr.9

2 Theo số liệu cập nhật đến tháng 09 năm 2014 của thư viện điện tử về Công ước Viên do Viện nghiên cứu về Luật Thương mại quốc tế phối hợp cùng trường Đại học Pace (bang New York, Hoa Kỳ) xây dựng thì có: 83 quốc gia và vùng lãnh thổ hiện là thành viên của Công ước Viên 1980 và 3064 vụ việc đã dùng Công ước

Trang 9

đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đặc biệt là quy định về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, những kinh nghiệm này hết sức cần thiết cho tư duy vận dụng pháp luật còn non trẻ như Việt Nam học tập và kế thừa Vậy không có lý do gì chúng ta lại ngần ngại nghiên cứu thực tiễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng của Công ước Viên 1980 để biến nó thành kinh nghiệm của bản thân, đồng thời góp phần thu hẹp những điểm chưa tương thích giữa Công ước Viên 1980 và pháp luật thương mại Việt Nam mà Chính phủ đã khẳng định trong nguyên tắc chỉ đạo soạn thảo LTM 20053

Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Chế tài buộc thực hiện đúng hợp

đồng theo Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và pháp luật thương mại Việt Nam” để viết luận văn tốt nghiệp chương trình cao học luật

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, một số tác phẩm và công trình nghiên cứu có liên quan đến “Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng” đã được công bố như:

PGS.TS Phan Huy Hồng - Chủ nhiệm đề tài (2010), Các vấn đề pháp lý của

hợp đồng mua bán hàng hóa qua thực tiễn xét xử của Tòa án và Trọng tài Việt Nam, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, trường Đại học Luật TP Hồ Chí

Minh: Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là một phần của đề tài nghiên cứu khoa học này Công trình nghiên cứu chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong phạm vi pháp luật Việt Nam Tác giả đã phân tích và bình luận các bản án của Tòa

án và phán quyết của Trọng tài có liên quan để làm rõ vấn đề pháp lý của chế tài và những bất cập đang tồn tại, đồng thời đánh giá mức độ thống nhất của Tòa án và Trọng tài thương mại trong áp dụng pháp luật

PGS.TS Đỗ Văn Đại – Chủ nhiệm đề tài (2010), Vấn đề không thực hiện

đúng hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam, đề tài khoa học công nghệ cấp

Bộ, TP.Hồ Chí Minh và PGS.TS Đỗ Văn Đại (2010), Các biện pháp xử lý việc

không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, nhà xuất bản Chính trị

Viên để điều chỉnh Ước tính con số này cao hơn nhiều do còn nhiều bản án và phán quyết chưa được thu thập đầy đủ vào thư viện điện tử này Nguồn: http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/countries/cntries.html và

http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/casecit.html , ngày truy cập: 03/02/2015

3 Tham khảo: “… việc thu hẹp sự bất tương thích giữa pháp luật thương mại của Việt Nam và pháp luật thương mại quốc tế là một ưu tiên hàng đầu, trong đó chủ yếu nhằm:… khắc phục những điểm chưa tương thích gữa Luật Thương mại và pháp luật tập quán thương mại quốc tế…như Công ước Viên 1980 về mua bán

hàng hóa quốc tế”, Mục I: Sự cần thiết sửa đổi Luật Thương mại 1997, Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật

Thương mại sửa đổi

Trang 10

quốc gia, Hà Nội: Đề tài khoa học và cuốn sách chuyên khảo đều hướng đến việc làm rõ quy định của Việt Nam và thực tiễn xét xử tại Việt Nam liên quan đến không thực hiện đúng hợp đồng Đồng thời, trình bày những biện pháp có thể vận dụng để

xử lý tình trạng này; trong đó biện pháp “Buộc thực hiện đúng hợp đồng” là một phần của công trình nghiên cứu, được phản ánh chủ yếu thông qua Bộ luật Dân sự

2005 và Luật Thương mại 2005 Công trình cũng đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật

PGS.TS Đỗ Văn Đại (2014), Luật hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận

bản án, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tập 2: Cuốn sách chuyên khảo này đề cập

đến vấn đề “Buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng” và “Thay thế do không thực

hiện đúng hợp đồng” qua phần bình luận các bản án cụ thể Nội dung chủ yếu xoay

quanh các quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam; đồng thời có một số so sánh với

Bộ nguyên tắc Unidroit, Bộ nguyên tắc Châu Âu về Hợp đồng và pháp luật của một

số quốc gia trên thế giới để đưa ra khuyến nghị nhằm tránh tranh chấp về hợp đồng

PGS.TS Đỗ Văn Đại - chủ biên (2011), Không thực hiện đúng hợp đồng

trong pháp luật thực định Việt Nam, Tài liệu hội thảo khoa học Trong các bài viết

tham gia hội thảo, liên quan đến chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng gồm có:

“Buộc thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam” của PGS.TS Đỗ Văn

Đại và Đỗ Văn Chung; “Quy định của Công ước Viên 1980 về các chế tài khi vi

phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” của TS Nguyễn Minh Hằng Cả hai

bài viết đều đề cập đến chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng nhưng bài viết đầu tiên đặt vấn đề trong bối cảnh pháp luật Việt Nam và có một số so sánh với Bộ nguyên tắc Unidroit và Bộ nguyên tắc Châu Âu về Hợp đồng Còn bài viết thứ hai tiếp cận chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng ở góc độ của Công ước Viên 1980

Thạc sỹ Nguyễn Thị Thanh Huyền (2014), Một số vấn đề pháp lý về áp dụng

chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quy định của Luật Thương mại 2005,

Tạp chí Khoa học pháp lý, số 03: Bài viết thể hiện những quan điểm pháp lý liên quan trực tiếp đến chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng chủ yếu dưới quy định của Luật Thương mại 2005

Mai Đức Việt (2014), Buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quy định của Bộ

luật Dân sự Việt Nam 2005, khóa luận tốt nghiệp cử nhân: Tên đề tài đã nêu bật

phạm vi nghiên cứu của tác giả là: Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng dưới góc

độ của Bộ luật Dân sự 2005 Đề tài cũng so sánh giữa Bộ luật Dân sự Việt Nam với pháp luật các quốc gia và các văn bản thống nhất áp dụng pháp luật hợp đồng trên

Trang 11

thế giới nhưng chỉ ở mức sơ lược mà chưa nghiên cứu chuyên sâu hay có những so sánh chuyên biệt với Công ước Viên 1980

Những công trình nghiên cứu trên tiếp cận chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng ở những khía cạnh khác nhau, hoặc nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam, hoặc nghiên cứu quy định của Công ước Viên 1980 Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt: Thực tiễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo pháp luật thương mại Việt Nam và Công ước Viên 1980, hay đưa ra những so sánh mang tính hệ thống với Công ước Viên 1980 để tiếp thu và nâng cao năng lực

áp dụng pháp luật của Tòa án và Trọng tài Việt Nam Đây cũng là một yêu cầu quan trọng đối với công cuộc xây dựng và hoàn thiện pháp luật thương mại nước ta

Ngoài ra, còn có một số luận văn, luận án, tạp chí và các ấn phẩm khác là tư liệu tham khảo hỗ trợ tác giả hiểu rõ thêm vấn đề đang nghiên cứu cũng như giúp tác giả hình thành tư duy mạch lạc trong quá trình hoàn thành đề tài này

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu thực trạng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo pháp luật thương mại Việt Nam và theo quy định của Công ước Viên 1980 nhằm đưa ra những so sánh làm cơ sở khoa học để kiến nghị hoàn thiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng ở khía cạnh giải thích và áp dụng pháp luật; cũng như kéo gần khoảng cách giữa pháp luật thương mại Việt Nam với Công ước Viên 1980

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng”, cụ thể: Đề tài phân tích và lý giải những nội dung lý luận là cơ sở để hiểu được bản chất chế tài buộc thực hiện hiện đúng hợp đồng; Đề tài nghiên cứu, phân tích thực trạng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo pháp luật thương mại Việt Nam, trên cơ sở đó đánh giá sự phù hợp và chưa phù hợp trong cách hiểu và vận dụng pháp luật; Đề tài cũng nghiên cứu, phân tích một số án lệ và những quy định về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng của Công ước Viên 1980 để có cơ sở khoa học đưa ra định hướng hoàn thiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng của pháp luật thương mại Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Vì các chế tài trong hoạt động thương mại hoặc không được quy định trong luật chuyên ngành, hoặc có quy định nhưng không đầy đủ nên trong khuôn khổ pháp luật thương mại Việt Nam và trong phạm vi của đề tài này tác giả sẽ tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Luật Thương mại 2005 là chủ yếu; ngoài ra phạm vi nghiên cứu của đề

Trang 12

tài còn bao gồm thực tiễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quy định của Công ước Viên 1980

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình làm đề tài, tác giả vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử được áp dụng xuyên suốt nội dung của đề tài để tránh tình trạng chủ quan duy ý chí;

Phương pháp phân tích dùng làm rõ những vấn đề lý luận chung về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng; Phương pháp phân tích và bình luận án được dùng trong quá trình xem xét án lệ, bản án, quyết định của Tòa án, phán quyết của Trọng tài thương mại;

Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh thực tiễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Công ước Viên 1980 và theo pháp luật thương mại Việt Nam; từ đó rút ra những định hướng áp dụng pháp luật phù hợp

Phương pháp tổng hợp được vận dụng để rút ra các kết luận

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Đề tài làm rõ hơn những điểm chưa hợp lý trong cách hiểu và vận dụng pháp luật của nước ta; cũng như đưa ra một số định hướng góp phần giải thích và áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn

Tác giả hy vọng đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho những công trình nghiên cứu về sau của sinh viên hoặc những công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực pháp lý Đồng thời, hy vọng rằng kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm luận chứng khoa học góp phần nâng cao khả năng áp dụng thống nhất và đúng đắn chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng nói riêng và pháp luật thương mại nước ta nói chung

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ TÀI BUỘC THỰC

HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG

Nhằm tạo tiền đề lý luận cho việc nghiên cứu các phần sau của luận văn, chương này sẽ đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng dưới góc nhìn của LTM 2005, BLDS 2005 và CISG, bao gồm hai nội dung chính sau: Khái quát về chế tài trong thương mại, và khái quát về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

1.1 Khái quát về chế tài trong thương mại

1.1.1 Khái niệm chế tài trong thương mại

Trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại, tình trạng một bên trong hợp đồng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình là khá phổ biến Điều này hiển nhiên tác động đến lợi ích của bên còn lại, làm bên này không thể có được những gì mà họ mong đợi từ hợp đồng Trong những trường hợp như vậy, bên không thực hiện hợp đồng hoặc không thực hiện đúng hợp đồng đã có hành vi vi phạm hợp đồng

Hành vi vi phạm hợp đồng chính là cơ sở làm phát sinh trách nhiệm dân sự

do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hay nói cách khác trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng là hệ quả của hành vi vi phạm hợp đồng Khi một bên vi phạm hợp đồng, họ đang ở trạng thái có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình cũng như hậu quả do nó gây ra; họ được tự do ý chí để lựa chọn cách thức

xử xự nào là phù hợp với quy định của pháp luật và thỏa thuận của hợp đồng nhưng vẫn cư xử khác đi, làm tổn hại đến lợi ích của bên còn lại Chính vì vậy, bên vi phạm buộc phải chịu trách nhiệm về việc làm của mình

Vì nghĩa vụ hợp đồng là nghĩa vụ pháp lý, nó được pháp luật công nhận và

có tính bắt buộc đối với các bên trong hợp đồng; để đảm bảo tính bắt buộc những quan hệ nghĩa vụ này thường có các chế tài đi kèm với tác dụng như những biện pháp cưỡng chế mà bên bị vi phạm được phép sử dụng nhằm thúc đẩy việc thực hiện đúng nghĩa vụ của bên vi phạm, cho nên trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa

vụ hợp đồng có mối quan hệ chặt chẽ với chế tài trong thương mại Bản thân trách nhiệm dân sự không phải là sự cưỡng chế mà chỉ là nghĩa vụ của bên vi phạm phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế được quy định ở phần chế tài; hay nói cách khác truy cứu trách nhiệm dân sự thực chất là áp dụng các biện pháp cưỡng chế quy

Trang 14

định ở phần chế tài Trong thương mại, bên cạnh quy định tùy nghi và quy định bắt buộc của pháp luật, thỏa thuận hợp đồng được xem như là “luật riêng” của các bên,

họ có nghĩa vụ tuân thủ những điều khoản mà mình đã tự nguyện ghi nhận trong hợp đồng4

và có quyền tự do thỏa thuận những biện pháp mang bản chất chế tài không trái với quy định của pháp luật Vậy, chỉ cần có hành vi vi phạm hợp đồng thương mại (theo luật định hoặc theo thỏa thuận) sẽ làm phát sinh trách nhiệm dân

sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của bên vi phạm hay nói cách khác là bên này phải gánh chịu chế tài trong thương mại Chế tài trong thương mại là biểu hiện bên ngoài của trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, trách nhiệm dân sự lại mang tính chất tài sản5, do đó có thể nói chế tài trong thương mại sẽ đem lại hậu quả bất lợi về mặt tài sản cho bên vi phạm

Tóm lại, chế tài trong thương mại là những biện pháp pháp lý gây ra hậu quả bất lợi về mặt tài sản được Luật Thương mại ấn định hoặc do các bên thỏa thuận,

mà một bên trong hợp đồng thương mại áp dụng đối với bên còn lại khi bên này có hành vi vi phạm hợp đồng

Pháp luật thương mại dành riêng Điều 292 LTM 2005 để liệt kê sáu chế tài trong thương mại, bao gồm: Buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy

bỏ hợp đồng Ngoài chế tài phạt vi phạm là chế tài theo thỏa thuận thì các chế tài còn lại đều là chế tài theo luật định tức là các bên có thể áp dụng mà không cần phải thỏa thuận trước Sáu chế tài trên được LTM 2005 quy định khá rõ ràng từ Điều 293 đến Điều 316 của Chương VII Khác với LTM 2005, BLDS 2005 không quy định các chế tài tập trung trong một điều luật hay bất kỳ một chương nào, chúng nằm tản mạn trong nhiều điều luật ở những chương khác nhau Thậm chí, xét về thuật ngữ BLDS 2005 sử dụng cũng không giống với LTM 2005: LTM 2005 sử dụng thuật ngữ “Chế tài” để gọi chung cho các biện pháp xử lý hành vi vi phạm hợp đồng thì BLDS 2005 lại dùng thuật ngữ “Trách nhiệm dân sự” để nói về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng như “Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ giao vật” (Điều 303), “Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện

4 Điều 4 BLDS 2005: “… Cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng” Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của quan

hệ dân sự, theo đó quan hệ thương mại là một dạng quan hệ dân sự cũng sẽ tuân thủ nguyên tắc chung này

5 Tham khảo: Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường

thiệt hại ngoài hợp đồng, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr 378

Trang 15

hoặc không được thực hiện một công việc” (Điều 304) “Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự” (Điều 305); hay phạt vi phạm (Điều 422) không được xem như một chế tài mà là nội dung của “Thực hiện hợp đồng”; hoặc đối với hủy bỏ hợp đồng (Điều 425) BLDS 2005 cũng cho đây là một nội dung của phần

“Chấm dứt hợp đồng dân sự” mà không gọi là chế tài

CISG không sử dụng thuật ngữ “Chế tài” như LTM 2005 và cũng không sử dụng thuật ngữ “Trách nhiệm dân sự” như BLDS 2005; thay vào đó Công ước sử dụng thuật ngữ “Các biện pháp bảo hộ pháp lý”6 để gọi chung cho các biện pháp xử

lý hành vi vi phạm hợp đồng Theo các nhà soạn thảo Công ước thì các biện pháp này không hoàn toàn là những biện pháp cưỡng chế và mang tính trừng phạt, đơn giản chúng chỉ là những “Phương thuốc” giúp các bên xoa dịu những tổn thất do hành vi vi phạm gây ra Một số biện pháp như giảm giá và buộc thực hiện đúng hợp đồng không tiềm tàng bất kỳ sự răn đe hay trừng phạt nào, chúng được sử dụng với

ý nghĩa thiện chí như những biện pháp khắc phục sự sai lệch trong hành vi của bên

vi phạm và khắc phục hậu quả do hành vi ấy gây ra Mặc khác, mỗi điều khoản của Công ước là sự thống nhất thực chất của kết quả thảo luận và đàm phán chi tiết giữa các quốc gia đại diện cho nhiều hệ thống pháp luật và chế độ chính trị - kinh tế khác nhau trên thế giới Do đó, nó phải phản ánh được mối quan tâm chung cũng như dung hòa được đặc điểm riêng biệt về truyền thống pháp luật của các quốc gia thành viên; sử dụng thuật ngữ “Các biện pháp bảo hộ pháp lý” là Công ước đã hòa hợp quan điểm pháp luật của hai hệ thống pháp luật lớn trên thế giới là Common Law và Civil Law7 Đồng thời, mục đích mà Công ước hướng đến là đạt được sự cân bằng

về quyền lợi giữa các bên trong hợp đồng, mỗi biện pháp bảo hộ pháp lý được áp dụng bên cạnh bảo vệ lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm thì cũng không được phép gây ra bất lợi vô lý nào cho bên vi phạm, vì vậy nếu sử dụng thuật ngữ “Chế tài” dễ làm cho những người áp dụng nó có cảm giác các biện pháp này thiên về cưỡng chế bên vi phạm hơn

6 Tiếng Anh là: Remedies for breach of contract (theo bản dịch của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI)

7

Một số quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Civil Law như Đức thì sử dụng thuật ngữ “Rechtsmittel” và Pháp

sử dụng thuật ngữ “Remèdes”, cả hai thuật ngữ này dịch sang tiếng Anh đều là “Remedies”; các nước thuộc

hệ thống pháp luật Common Law như Anh và Mỹ cũng dùng thuật ngữ “Remedies” có nghĩa là các biện pháp khắc phục Công ước Viên 1980 đã dùng “Remedies for breach of contract”

Trang 16

Nhìn chung, việc sử dụng thuật ngữ nào trong ba thuật ngữ “Chế tài”, “Trách nhiệm dân sự” hay “Biện pháp bảo hộ pháp lý” để ám chỉ các biện pháp xử lý hành

vi vi phạm hợp đồng dường như không thực sự quan trọng mà điều cần quan tâm hơn cả là điều kiện nào để bên bị vi phạm áp dụng các biện pháp này và áp dụng như thế nào thì được xem là thiện chí Sau đây, đề tài sẽ sử dụng thuật ngữ “Chế tài” trong phần nghiên cứu về “Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo pháp luật thương mại Việt Nam”; và sử dụng thêm thuật ngữ “Các biện pháp bảo hộ pháp lý” trong phần “Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Công ước Viên 1980”

để thống nhất với bản dịch của VCCI cũng như thống nhất với quan điểm của các nhà soạn thảo Công ước

1.1.2 Đặc điểm của chế tài trong thương mại

Để phù hợp với sự phát triển năng động của hoạt động giao thương mua bán, ngoài những đặc điểm của chế tài nói chung, chế tài trong thương mại còn mang những đặc trưng riêng

Thứ nhất, chế tài trong thương mại là hậu quả pháp lý bất lợi về mặt vật chất

mà bên bị vi phạm phải gánh chịu Các chế tài xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng đã tồn tài khá lâu trong cổ luật Việt Nam (Quốc triều Hình luật, Hoàng Việt luật lệ) nhưng vào thời kỳ đó, pháp luật được ban hành nhằm phục vụ cho quyền lợi của giai cấp thống trị, để duy trì và bảo vệ sự tồn tại của nền quân chủ, không chú trọng vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân nên quan hệ dân sự - thương mại bị hình sự hóa và không có sự phân biệt rõ ràng giữa hình luật và dân luật; ví dụ: Điều 588 Quốc triều hình luật “ mắc nợ quá hạn không trả thì phải tội trượng tùy theo việc nặng nhẹ, nếu cố bướng không chịu trả thì phải giáng hạ hai bậc, bồi thường gấp đôi”8 Ngày nay, chế tài trong quan hệ nghĩa vụ hợp đồng nói chung và chế tài trong thương mại nói riêng không nhằm vào nhân thân con người như trước nữa thay vào đó chúng tác động vào mặt tài sản của họ Điều này có nghĩa là khi một bên trong hợp đồng có hành vi vi phạm khiến bên còn lại không thể có được lợi ích kinh tế mà họ mong đợi từ hợp đồng thì bên vi phạm cần phải đáp trả lại một khoản vật chất tương xứng mà họ đã đánh mất của bên bị vi phạm Khoản vật chất đó chính là hậu quả bất lợi mà bên vi phạm phải gánh chịu, nó có thể là: trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trách nhiệm hoàn trả khoản tiền chênh lệch

và chi phí liên quan trong trường hợp áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp

8 Tham khảo: Vũ Văn Mẫu (1975), Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử, (quyển hai), NXB Luật khoa Đại học Sài

Gòn, Sài Gòn

Trang 17

đồng, khoản tiền phạt vi phạm,… Về cơ bản, quan hệ thương mại mang tính chất kinh tế nên hầu hết các bên tham gia vào hoạt động này đều hướng đến mục đích duy nhất là tối đa hóa lợi ích vật chất9

Hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng sẽ làm mục đích kinh tế của hợp đồng bị phá vỡ, gây ra thiệt hại vật chất đối với bên bị vi phạm cho nên pháp luật buộc bên vi phạm phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm bằng các biện pháp pháp lý đánh vào mặt tài sản chứ không tác động trực tiếp đến nhân thân của họ

Thứ hai, chủ thể áp dụng chế tài trong thương mại là các bên trong hợp đồng

thương mại Khác với chế tài hình sự và hành chính: Nhà nước là chủ thể có quyền

và nghĩa áp dụng chế tài khi có hành vi vi phạm, ở đây chế tài trong thương mại lại

do bên bị vi phạm quyết định áp dụng Cần phải hiểu rằng, pháp luật thương mại quy định việc áp dụng chế tài của bên bị vi phạm như một quyền của họ mà không phải là nghĩa vụ, tức là khi có hành vi vi phạm thõa mãn các điều kiện theo luật định hoặc theo thỏa thuận hợp đồng, không nhất thiết bên bị vi phạm phải áp dụng chế tài đối với bên vi phạm, họ có thể lựa chọn áp dụng hoặc không áp dụng tùy thuộc vào ý chí của mình Suy cho cùng, pháp luật thương mại quy định các biện pháp chế tài là nhằm mục đích hạn chế tối đa thiệt hại cho bên bị vi phạm và bảo vệ lợi ích chính đáng của bên này cho nên pháp luật đã trao quyền áp dụng chế tài cho bên bị vi phạm để họ tự bảo vệ mình vì hơn ai hết họ là người biết rõ mức độ thiệt hại và hành vi vi phạm mà bản thân đang gánh chịu

Thứ ba, chế tài trong thương mại do pháp luật ấn định hoặc do các bên thỏa

thuận Đặc điểm này thể hiện rõ nét “nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận” của quan hệ thương mại Theo đó, các chủ thể được quyền tự do hành xử theo ý nguyện của mình nhưng là tự do trong khuôn khổ của pháp luật vì khi một chủ thể hành xử vượt quá ranh giới pháp luật, họ sẽ làm ảnh hưởng đến quyền tự do của người khác Các bên trong quan hệ thương mại cũng vậy, họ tự do ý chí trong việc thỏa thuận hợp đồng, bao gồm cả thỏa thuận về những biện pháp mang bản chất chế tài mà họ cho là phù hợp với hoàn cảnh của mình, tuy nhiên những biện pháp này không được trái với pháp luật Trong một số trường hợp đặc biệt, để bảo vệ quyền lợi chung của

xã hội cũng như bảo vệ lợi ích chính đáng của bên bị vi phạm, pháp luật thương mại cũng dự trù những điều khoản về chế tài mang tính chất tùy nghi nhằm giúp các bên

có cơ sở pháp lý để lựa chọn cách thức xử xự phù hợp khi các bên không có thỏa

9 Khoản 1 Điều 3 LTM 2005: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa,…”

Trang 18

thuận hoặc không thỏa thuận khác đi Tuy nhiên, nếu các bên có thỏa thuận về chế tài thì những thỏa thuận này vẫn được ưu tiên áp dụng hơn cả

Thứ tư, hành vi vi phạm hợp đồng thương mại của một bên là cơ sở để áp

dụng chế tài trong thương mại Hành vi vi phạm được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động trái với nghĩa vụ hợp đồng Nghĩa vụ hợp đồng là những nghĩa vụ phát sinh từ thỏa thuận của các bên và từ quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng đó, bao gồm: quy định tùy nghi là những quy định được áp dụng khi các bên không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận khác đi, và quy định bắt buộc được áp dụng không phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên Như vậy, hợp đồng không phải là cơ sở duy nhất để xem xét có hành vi vi phạm hay không, các bên còn có thể viện dẫn quy định của pháp luật để chứng minh tồn tại một hành vi

vi phạm Ví dụ: trong trường hợp hành vi vi phạm thõa mãn điều kiện trở thành vi phạm cơ bản theo quy định của pháp luật thì cho dù các bên không có thỏa thuận vi phạm cơ bản thì bên bị vi phạm vẫn có quyền áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng

Thứ năm, các chế trong tài thương mại có thể được áp dụng cùng lúc đối với

một hành vi vi phạm hợp đồng nhưng các bên không thể áp dụng các chế tài có bản chất hay hậu quả pháp lý loại trừ nhau Ví dụ: Không thể áp dụng đồng thời chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng với chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng Vì biện pháp đầu tiên là nhằm duy trì hiệu lực của hợp đồng và biện pháp thứ hai là nhằm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng kể từ thời điểm áp dụng Hai biện pháp này dẫn đến những hậu quả pháp lý hoàn toàn trái ngược nhau

Trên đây là đặc điểm chung của chế tài trong thương mại, bên cạnh những đặc điểm chung này, mỗi chế tài cụ thể trong thương mại còn mang những đặc điểm riêng phù hợp với mục đích điều chỉnh của từng chế tài mà chúng ta sẽ được hiểu rõ hơn thông qua quy định của pháp luật

1.1.3 Vai trò của chế tài trong thương mại

Các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi một tổng thể phức tạp các quy phạm pháp luật thương mại được gọi là các quan hệ pháp luật thương mại Dưới tác động của quy phạm pháp luật thương mại, các quan hệ xã hội này sẽ nảy sinh và phát triển phù hợp với ý chí của Nhà nước Vì vậy, mỗi chế tài trong thương mại là một quy phạm pháp luật sẽ đóng vai trò nhất định trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội theo định hướng mà Nhà nước đã vạch ra, vai trò đó là:

Thứ nhất, chế tài trong thương mại bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các

bên trong hợp đồng thương mại Khi giao kết và thực hiện hợp đồng, các bên đều

Trang 19

mong muốn đạt được lợi ích kinh tế nhất định Hành vi vi phạm hợp đồng luôn tiềm

ẩn nguy cơ xâm phạm đến lợi ích này, do đó pháp luật thương mại đã cho phép bên

bị vi phạm được quyền áp dụng chế tài đối với bên vi phạm Tuy nhiên, chế tài trong thương mại không phải là chế tài tự động, nó chỉ phát huy hiệu lực khi được bên bị vi phạm áp dụng, trong trường hợp này vai trò bảo vệ quyền lợi cho bên bị vi phạm của chế tài sẽ phụ thuộc vào ý chí của bên bị vi phạm Pháp luật thương mại cũng khá công bằng, một khi đã trao quyền áp dụng chế tài cho bên bị vi phạm, pháp luật vẫn không quên dự trù những quy định nhằm bảo vệ bên vi phạm và giảm thiểu tối đa khả năng lạm quyền của bên bị vi phạm, chẳng hạn: Các trường hợp miễn trách nhiệm tại Điều 294 LTM 2005, nghĩa vụ hạn chế tổn thất tại Điều 305 LTM 2005, nghĩa vụ chứng minh tổn thất tại Điều 304 LTM 2005,… Không những vậy, chế tài trong thương mại còn bảo vệ quyền và lợi ích của các bên thông qua khả năng phòng ngừa vi phạm của mình Trong lúc giao kết hợp đồng, việc các bên tiến hành thỏa thuận về biện pháp chế tài sẽ tác động đến nhận thức và thái độ của mỗi bên, giúp họ thấy trước được hậu quả vật chất bất lợi mà mình phải gánh chịu khi có hành vi vi phạm, từ đó họ ý thức được rằng cần phải tuân thủ và cố gắng hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng Khi các bên có thái độ tích cực tự khắc hợp đồng sẽ đạt được mục đích của nó, vì vậy mà lợi ích các bên mong đợi cũng được đảm bảo

Thứ hai, chế tài trong thương mại góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà

nước về kinh tế, bảo đảm sự ổn định của các quan hệ kinh tế Từ khi kinh tế nước ta chuyển mình sang cơ chế thị trường, quan hệ dân sự mà đặc biệt là quan hệ thương mại đã phát triển nhanh chóng và phổ biến, hành vi vi phạm hợp đồng cũng tăng lên đáng kể, phức tạp và đa dạng hơn, nếu không được xử lý kịp thời những hành vi này sẽ gây ra tình trạng bất ổn cho nền kinh tế Do đó, việc các bên thỏa thuận về biện pháp chế tài hay quy định của pháp luật về chế tài trong thương mại là công cụ

hỗ trợ đắc lực cho Nhà nước phát hiện và xử lý vi phạm kịp thời, từ đó những hành

xử lệch lạc cũng được loại bỏ, mọi hoạt động thương mại sẽ đi vào trật tự, quan hệ thương mại được đưa vào khuôn khổ phù hợp với định hướng và mục đích mà Nhà nước đã vạch ra

Khi nền kinh tế phát triển ổn định sẽ thu hút đầu tư từ nước ngoài, đây là một nguồn lợi rất lớn mà một nước đang phát triển như chúng ta hướng đến Bên cạnh vai trò ổn định kinh tế, chế tài trong thương mại còn đóng vai trò là hành lang pháp

lý giúp thương nhân nước ngoài có cơ sở để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình khi tham gia vào thị trường Việt Nam Chế tài càng minh bạch thì càng tạo tâm lý

Trang 20

an toàn và yên tâm cho thương nhân, điều này tác động tích cực đến thái độ đầu tư của họ Như vậy, chế trong tài thương mại không chỉ có vai trò quan trọng đối với các bên trong hợp đồng mà còn nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập thông qua vai trò nâng cao năng lực quản lý kinh tế của Nhà nước

1.2 Khái quát về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

1.2.1 Khái niệm chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Điều 388 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các

bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Về mặt lý

luận, hợp đồng thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự, có thể hiểu quyền và nghĩa vụ dân sự ở đây bao gồm cả quyền và nghĩa vụ trong quan hệ thương mại; hay nói cách khác hợp đồng thương mại chính là cơ sở pháp lý làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ thương mại Cơ sở pháp lý này được xác lập dựa trên nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận10, các bên trong hợp đồng sẽ tự chủ quyết định số phận kinh doanh của bản thân mà không một chủ thể nào có thể cưỡng ép hoặc tước đoạt quyền này của họ Do đó, hợp đồng thương mại

là một bản cam kết thể hiện rõ nét sự thống nhất ý chí của các bên trong hợp đồng,

nó là “sợi dây” ràng buộc các bên hành xử theo khuôn khổ mà họ đã cam kết, tự mỗi bên phải có trách nhiệm tôn trọng và chịu sự ràng buộc đó vì hợp đồng chính là

ý nguyện của bản thân họ Xuất phát từ hiệu lực ràng buộc của hợp đồng, nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng đã được luật hóa và trở thành chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là một dạng chế tài thương mại, nên ở đây bên bị vi phạm vẫn là chủ thể áp dụng chế tài khi xuất hiện hành vi vi phạm hợp đồng Bên bị vi phạm có thể tiến hành yêu cầu bên vi phạm khắc phục vi phạm hoặc dùng các biện pháp khác để vi phạm được khắc phục Tính chất tài sản của chế tài được thể hiện ở việc bên vi phạm phải chịu toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình khắc phục vi phạm

Do đó, pháp luật thương mại Việt Nam đã đưa ra định nghĩa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng tại khoản 1 Điều 297 LTM 2005 như sau: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm

10 Tham khảo: Điều 11 LTM 2005

Trang 21

phải chịu chi phí phát sinh” Với định nghĩa này có thể thấy chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trước hết là một biện pháp bảo vệ quan hệ hợp đồng hiệu quả

Định nghĩa về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong thương mại đã manh nha hình thành từ Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 thông qua các điều luật quy định về hình thức buộc thực hiện đúng hợp đồng tại Điều 31, Điều 32, Điều 34 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 Theo các quy định này, buộc thực hiện đúng hợp đồng chỉ mới đặt ra khi có vi phạm về chất lượng hàng hóa hoặc yêu cầu kỹ thuật của công việc Pháp lệnh không quy định rõ về trường hợp bên bị vi phạm có quyền

sử dụng các biện pháp khác một cách đơn phương để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu phí tổn liên quan Sau nhiều năm thực thi, thiếu sót của Pháp lệnh đã được Luật Thương mại 1997 bổ sung, Luật Thương mại 1997 có hẳn khoản

1 Điều 223 để định nghĩa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng như sau: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện

và bên vi phạm phải chịu phí tổn phát sinh” Có thể thấy định nghĩa này của Luật Thương mại 1997 đã quy định đầy đủ hai cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và có nội dung tương tự như khoản 1 Điều 297 LTM 2005

BLDS 2005 có đề cập đến chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng nhưng lại quy định chúng rải rác ở nhiều điều luật khác nhau và không có một định nghĩa cụ thể cho chế tài này Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được BLDS 2005 quy định dưới dạng “Trách nhiệm dân sự” như: “Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ giao vật” (Điều 303), “Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa

vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện” (Điều 304) Như vậy, BLDS 2005 đã giới hạn phạm vi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng đối với vật đặc định, nghĩa vụ phải thực hiện một công việc và nghĩa vụ không thực hiện một công việc Đây là điểm hạn chế so với LTM 2005, LTM 2005 cho phép bên bị vi phạm

áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng đối với tất cả hợp đồng thương mại, không phân biệt đối tượng của hợp đồng là hàng hóa loại nào hay dịch vụ như thế nào, từ những hợp đồng thương mại phổ biến như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ, đến những hợp đồng mang tính đặc thù hơn như: hợp đồng xây dựng, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng tín dụng,…đều có thể áp dụng chế tài này

So với LTM 2005, định nghĩa về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng của CISG có phần đơn giản hơn Điều này xuất phát từ phạm vi điều chỉnh của Công ước chỉ gói gọn đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Vì có phạm vi điều

Trang 22

chỉnh hẹp hơn so với LTM 2005 nên chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được Công ước quy định tập trung ở quyền của bên mua và quyền của bên bán yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa mà không đề cập đến trường hợp thực hiện dịch vụ hay cung ứng lao động Điều 46 và Điều 62 CISG cũng cho phép bên bị vi phạm được yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng nghĩa vụ của họ nhưng hai điều luật này không nhắc đến quyền của bên bị vi phạm áp dụng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện, tuy nhiên các bên vẫn có thể viện dẫn đến Điều 75 CISG để áp dụng các biện pháp khác như: người mua mua hàng thay thế, người bán bán lại hàng; các biện pháp này sẽ giúp hợp đồng được thực hiện trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện các yêu cầu tại Điều 46, Điều

62 CISG và dẫn đến tình trạng hợp đồng bị hủy bỏ

Từ những so sánh trên, có thể nói định nghĩa về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng của LTM 2005 dường như là một định nghĩa súc tích, rõ ràng và đầy đủ nhất trong giai đoạn hiện nay

1.2.2 Đặc điểm của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là một loại chế tài trong thương mại, song vì tính chất và mục đích điều chỉnh của mỗi chế tài khác nhau nên ngoài những đặc điểm chung, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng còn có những đặc điểm riêng:

Thứ nhất, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là một biện pháp bảo vệ

quan hệ hợp đồng hiệu quả

“Hợp đồng được sinh ra không để bị huỷ mà để được thực hiện nhằm đem lại cho các bên lợi ích mong đợi khi giao kết”11

Khi các bên quyết định giao kết hợp

đồng, họ đã chấp nhận chịu sự ràng buộc bởi những điều khoản mà mình thỏa thuận Theo đó, nghĩa vụ của người này là quyền lợi của người kia và người lại; một khi hợp đồng được thực hiện đúng sẽ đồng nghĩa với việc quyền lợi và mục đích

kinh tế của các bên được đảm bảo Ngay từ tên gọi, chế tài buộc thực hiện đúng hợp

đồng đã thể hiện vai trò chủ đạo của mình trong việc bảo đảm cho hợp đồng được thực hiện đúng như thỏa thuận: bên bán nhận được tiền và bên mua nhận được

hàng Buộc thực hiện đúng hợp đồng là giải pháp phù hợp với ý chí chung của các

bên, áp dụng chế tài này là tạo cơ hội cho ý chí chung được thực hiện và được tôn

11

Đỗ Văn Đại – Chủ nhiệm đề tài (2010), Vấn đề không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật thực định

Việt Nam, đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ, TP.Hồ Chí Minh, tr.18

Trang 23

trọng Với tác động tích cực như vậy, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thường

là biện pháp được các bên ưu tiên áp dụng khi xảy ra tranh chấp

Thứ hai, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được áp dụng khi các bên

chứng minh rằng lợi ích mà họ mong đợi từ hợp đồng chưa được bên còn lại đáp ứng

Hiệu lực ràng buộc hợp đồng, buộc mỗi bên phải có ý thức trong việc thõa mãn quyền lợi của bên còn lại để đổi lấy quyền lợi cho chính mình Cho nên, khi một bên chỉ biết nhận lợi ích mà không thực hiện nghĩa vụ thì họ phải chịu sự tác động của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng để đem lại trạng thái cân bằng về quyền và nghĩa vụ ban đầu cho hợp đồng Do đó, không giống với các loại chế tài thương mại khác, khi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm không cần chứng mình những thiệt hại thực tế mà mình gánh chịu do hành vi vi phạm gây ra, cái cần quan tâm là lợi ích họ mong đợi từ hợp đồng có được đáp ứng hay chưa? Dù vi phạm là cơ bản hay không cơ bản, chỉ cần bất kỳ bên nào không thực hiện đúng nghĩa vụ cung cấp lợi ích cho bên còn lại thì quyền áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng sẽ phát sinh

Thứ ba, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là hệ quả logic của nguyên tắc

pacta sunt servanda

Nguyên tắc pacta sunt servanda theo tiếng Latin có nghĩa là “Giao ước cần phải được tuân thủ”12 Ban đầu, nguyên tắc tồn tại dưới dạng tập quán thương mại quốc tế, sau đó nó được ghi nhận như một nguyên tắc chủ đạo trong các điều ước quốc tế đa phương và song phương Nguyên tắc này chủ yếu hướng các bên tuân thủ tuyệt đối nghĩa vụ đã cam kết, tuân thủ một cách nghiêm ngặt và không do dự; các bên sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình trên tinh thần tự nguyện, có thiện chí, trung thực và đầy đủ

Khi một bên trong hợp đồng có hành vi sai lệch với nghĩa vụ đã thỏa thuận

có nghĩa là họ đã vi phạm nguyên tắc pacta sunt servanda Để nguyên tắc này được tuân thủ nghiêm ngặt thì đòi hỏi tất yếu phải có một chế tài đứng ra đảm bảo cho nghĩa vụ hợp đồng được thực hiện đúng Với chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, mọi hành vi của các chủ thể đều được đưa vào trật tự như cam kết ban đầu, điều này đồng nghĩa với việc quan hệ hợp đồng được thiết lập lại trạng thái cân bằng về

12 Nguyên tắc pacta sunt servanda dịch ra tiếng anh có nghĩa là: “Agreements must be kept”.Theo: Bryan

A.Garner, Black’s Law Dictionary, 8th Edition, June 1, 2004, pp.3508

Trang 24

quyền và nghĩa vụ, một khi trạng thái cân bằng được thiết lập các bên cần tận tâm, thiện chí và trung thực để hoàn thành hợp đồng một lần nữa Buộc thực hiện đúng hợp đồng thể hiện sự thiện chí của bên bị vi phạm đối với bên vi phạm khi họ nỗ lực cho bên vi phạm thêm cơ hội để hoàn thành nghĩa vụ, mà không áp dụng các biện pháp mang tính trừng phạt khác, hành vi đó không chỉ bảo vệ lợi ích cho bên bị

vi phạm mà còn đảm bảo lợi ích cho bên vi phạm Vì sự thiện chí này, bên vi phạm cũng cần thể hiện thiện chí của mình trong việc tận tâm khắc phục hành vi vi phạm một cách tự nguyện Như vậy, có thể thấy chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng chính là một hệ quả tất yếu của nguyên tắc pacta sunt servanda

1.2.3 Sự cần thiết của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong quan hệ thương mại

Từ sau khi nước ta rời bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung để chuyển sang nền kinh tế thị trường, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế trong nước đã bắt đầu có những khởi sắc mới, giao thương mua bán có cơ hội phát triển sinh động đòi hỏi hợp đồng thương mại cũng biến đổi đa dạng và phong phú để bắt kịp nhịp phát triển của thực tiễn Bên cạnh sự phát triển nhanh chóng của hoạt động thương mại, những tranh chấp về hợp đồng thương mại cũng diễn ra thường xuyên hơn và chiếm một tỷ lệ khá lớn13

Do ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng còn chưa cao, hoặc vì lợi ích cá nhân họ có thể bỏ qua lợi ích của người khác để thực hiện hành vi vi phạm nhằm thõa mãn mục đích kinh tế trước mắt của mình Điều này tạo

ra tâm lý bất an cho các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng, kiềm hãm giao thương mua bán Ngược lại, hợp đồng nói chung và hợp đồng thương mại nói riêng

là công cụ cơ bản để các chủ thể trong xã hội tiến hành trao đổi lợi ích vật chất với nhau; nếu hợp đồng được bảo vệ, nó sẽ thúc đẩy hoạt động thương mại và tạo đà cho kinh tế tăng trưởng Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng với đặc điểm của

13

Theo số liệu thống kê của ngành tòa án Việt Nam, năm 2013 Việt Nam có số lượng án kinh doanh thương mại và các án dân sự khác (không bao gồm hôn nhân và gia đình, lao động) là: 94 932 vụ, cao thứ nhì sau án hôn nhân và gia đình Nguồn: http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/5901712 , ngày truy cập: 04/02/2015

Theo số liệu thông kế của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), năm 2013 có 99 vụ tranh chấp giải quyết tại VIAC trong đó có 43 vụ liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa (chiếm 43,4 %) và 13 vụ liên quan đến hợp đồng dịch vụ (chiếm 13,3%) So với những năm trước, số lượng tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ tăng lên đáng kể (tăng 10 vụ so với năm 2012) Nguồn:

http://viac.vn/Uploads/ngoctb/Bao%20cao%20to%20tung%202013%20post%20len%20VVeb%20(Dt1).pdf , ngày truy cập: 04/02/2015

Trang 25

mình sẽ là công cụ bảo vệ hợp đồng hiệu quả, giúp các bên đạt được mục đích kinh

tế mà họ mong chờ, tạo tâm lý an toàn và yên tâm cho các bên khi giao kết hợp đồng vì mỗi bên nhận thức được rằng những gì mà họ mong chờ từ hợp đồng rồi sẽ được đáp ứng Tâm lý an toàn khuyến khích các bên tích cực tham gia vào hoạt động thương mại, giúp hàng hóa và dịch vụ lưu thông, thõa mãn nhu cầu sản xuất, tạo vốn để mở rộng kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Về nguyên tắc, mọi chủ thể đều được tự do thỏa thuận hợp đồng nhưng họ phải tự do“trong phạm vi giới hạn của luật công và trật tự công cộng, để tạo ra loại hợp đồng mà họ muốn, thậm chí điều đó có thể là vô lý theo cách nhìn nhận của người khác”14

, cho nên hành vi xử xự vượt ra ngoài phạm vi của một hợp đồng hợp

pháp có thể sẽ xâm hại đến quy định của pháp luật – những quy tắc xử xự phù hợp với lợi ích của cộng đồng; hành vi vi phạm hợp đồng có thể xáo trộn trật tự chung của xã hội và gây bất ổn cho nền kinh tế; nếu không được ngăn chặn kịp thời có thể kéo theo những hệ lụy đáng tiếc Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng sẽ là công

cụ hiệu quả để mỗi chủ thể tham gia quan hệ thương mại tự mình chủ động loại trừ những hành vi đi lệch với định hướng xã hội và mục đích của đôi bên, đưa những hành vi ấy về lại trật tự phù hợp, góp phần củng cố các quan hệ thương mại và ổn định nền kinh tế

Với những vai trò cực nêu trên, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng đã thực sự trở thành một biện pháp cần thiết trong hoạt động thương mại và ngày càng được các bên ưu tiên sử dụng để đạt được sự hợp tác toàn diện

1.2.4 Sự cần thiết phải nghiên cứu chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quy định của Công ước Viên 1980

Hiện tại Việt Nam chưa là thành viên của CISG, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc Công ước không có bất kỳ tác động nào đến hoạt động mua bán hàng hóa của thương nhân Việt Nam Đối với hoạt động mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài trong đó một bên là thương nhân Việt Nam thì Công ước sẽ được áp dụng khi15: hai bên thỏa thuận chọn áp dụng Công ước; hoặc bên còn lại có trụ sở kinh doanh/nơi cư trú thường xuyên tại quốc gia là thành viên của Công ước và quy

14

Tham khảo: Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, luận án

tiến sĩ, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, tr 10

15 Tham khảo thêm: Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Pháp luật về thương mại hàng

hóa và dịch vụ, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr 49-58

Trang 26

phạm xung đột dẫn chiếu đến luật của quốc gia này Tuy nhiên, khả năng áp dụng Công ước trong trường hợp trên không mang tính tuyệt đối, CISG được xem là tập quán thương mại quốc tế đối với các nước không phải là thành viên của Công ước như Việt Nam; do đó theo khoản 2 Điều 5 LTM 2005 thương nhân Việt Nam được phép bảo lưu điều kiện áp dụng Công ước nếu những quy định của Công ước vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Như vậy, trong một chừng mực nhất định CISG vẫn tác động đến hoạt động thương mại của Việt Nam thông qua việc điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của thương nhân Việt Nam trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế Làm rõ những quy định của Công ước và thực tiễn áp dụng Công ước, cụ thể trong phạm vi đề tài này là chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

sẽ trang bị cho thương nhân Việt Nam kiến thức để hội nhập kinh tế quốc tế

Hơn nữa, CISG là khung pháp lý thống nhất các hệ thống pháp luật trên thế giới Quá trình đàm phán để soạn thảo Công ước trải qua nhiều khó khăn do phải đối mặt với những khác biệt về pháp luật, tập quán cũng như mối quan tâm của các quốc gia thành viên Cho nên, để đi đến kết quả cuối cùng mỗi điều khoản của Công ước phải là sự thống nhất thực chất của kết quả thảo luận và đàm phán chi tiết, phản ánh mối quan tâm chung của các quốc gia thành viên Hiểu rõ quy định của Công ước tức là thương nhân đã nắm được “luật chơi” của phần lớn các quốc gia trên thế giới khi tham gia vào “sân chơi chung”, góp phần giảm thiểu những rủi ro dẫn đến tranh chấp và những thiệt thòi do thiếu hiểu biết pháp luật Sự yên tâm về luật áp dụng có tác dụng khuyến khích thương nhân Việt Nam mạnh dạn tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế, tạo điều kiện cho thương mại Việt Nam có cơ hội vươn

xa cùng thế giới nhưng vẫn phát triển năng động và ổn định

CISG được đánh giá là một văn bản pháp luật quốc tế mang tính hiện đại, linh hoạt và mềm dẻo, thể hiện ở việc đề cao tinh thần bình đẳng giữa bên bán và bên mua trong quan hệ hợp đồng, thậm chí khi có vi phạm hợp đồng Công ước vẫn đưa ra những chế tài xem xét đến lợi ích của cả bên vi phạm và bên bị vi phạm (tính hiện đại); đa phần các điều khỏa của Công ước đều là những quy định tùy nghi, cho phép các bên tự do thỏa thuận phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của hai bên (tính linh hoạt); ngoài ra Điều 6 Công ước còn quy định các bên được quyền loại trừ việc áp dụng Công ước nếu họ nhận thấy những quy định của nó không phù hợp với mình (tính mềm dẻo) Công ước không chỉ có giá trị ở những quy định tối ưu, mà còn mang giá trị thực tiễn cao ở kho tàng án lệ đồ sộ mà nó đã “thụ lý” Kho tàng án lệ của CISG là những bản án thể hiện cách vận dụng pháp luật của tòa án các nước và

Trang 27

trọng tài quốc tế đối với từng trường hợp điển hình; việc nghiên cứu án lệ sẽ giúp thổi một luồng không khí mới vào thân xác khô khan và bất động của quy phạm pháp luật, nhờ đó pháp luật sẽ trở nên sinh động và gắn liền với thực tiễn hơn16

Vậy nên đây là nguồn tham khảo hữu hiệu để “lấp đầy” những khoảng trống của pháp luật thương mại Việt Nam nói chung và chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng nói riêng

Nghiên cứu CISG cũng như chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng của CISG

sẽ tạo nền tảng kiến thức cơ bản giúp thương nhân Việt Nam có đủ “hành trang” chủ động tham gia vào thị trường mua bán hàng hóa quốc tế; đồng thời hỗ trợ pháp luật thương mại Việt Nam học hỏi kinh nghiệp lập pháp của Công ước, hỗ trợ cơ quan tài phán trong nước học hỏi kinh nghiệm giải thích và áp dụng pháp luật của

cơ quan tài phán quốc tế, góp phần gầy dựng một môi trường pháp lý lành mạnh là

“bệ đỡ” giúp thương mại nước ta phát triển bền vững

16 Về vai trò của án lệ tham khảo: Lê Công Định (2009), “Án lệ trong vai trò giải thích pháp luật”, Kỷ yếu hội

thảo quốc tế về giải thích pháp luật tháng 2 năm 2008, nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội, tr 508

Trang 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chế tài trong thương mại là một dạng chế tài nên nó mang đầy đủ các đặc điểm chung của một chế tài, tuy nhiên vì tham gia điều chỉnh các quan hệ pháp luật đặc thù (Quan hệ pháp luật thương mại) nên chế tài trong thương mại còn có những đặc điểm riêng như: mang tính tài sản, do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận, chủ thể áp dụng là các bên trong hợp đồng thương mại,… Chế tài trong thương mại cũng có vai trò tích cực trong việc xử lý và phòng ngừa vi phạm, góp phần nâng cao năng lực quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh thương mại và ổn định nền kinh tế BLDS 2005 không gọi các biện pháp xử lý hành

vi vi phạm hợp đồng là “Chế tài” như LTM 2005, thay vào đó BLDS 2005 gọi chúng là “Trách nhiện dân sự” hay thừa nhận chúng như một phần nội dung của

“Thực hiện hợp đồng” hoặc “Chấm dứt hợp đồng”; còn CISG gọi chúng là “Biện pháp bảo hộ pháp lý” Cho dù được gọi bằng thuật ngữ nào đi chăng nữa thì chúng cũng đều ám chỉ các biện pháp xử lý hành vi vi phạm hợp đồng, điều cần quan tâm

ở đây không phải dùng thuật ngữ nào cho đúng mà là điều kiện nào để bên bị vi phạm được áp dụng chúng và áp dụng như thế nào thì được xem là thiện chí

Chế tài trong thương mại bao gồm nhiều chế tài khác nhau, trong đó chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là một chế tài có tác động tích cực trong việc bảo vệ hợp đồng hơn cả Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng giúp các bên đạt được mục đích kinh tế mà họ mong đợi, tạo tâm lý an toàn cho các bên khi tham gia giao kết hợp đồng, thể thiện tinh thần thiện chí, trung thực của các bên – một nguyên tắc chủ đạo của pháp luật thương mại, cho nên mặc dù pháp luật không quy định nhưng đây

là một biện pháp được khuyến khích áp dụng trước tiên khi có hành vi vi phạm hợp đồng Chế tài này được định nghĩa tại khoản 1 Điều 297 LTM 2005, đây có lẽ là điều luật đưa ra định nghĩa về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng rõ ràng và đầy

đủ nhất trong giai đoạn hiện nay

Sự cần thiết của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại là không thể phủ nhận Nhưng với những quy định khái quát của pháp luật thương mại Việt Nam, khả năng áp dụng pháp luật của chúng ta sẽ trở nên cứng nhắc nếu như không học hỏi thực tiễn áp dụng pháp luật của CISG – Một Công ước

đa phương chứa đựng tư duy pháp lý hiện đại và được đa số các quốc gia trên thế giới đồng thuận tham gia

Trang 29

CHƯƠNG 2 CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

2.1 Điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

2.1.1 Các vấn đề pháp lý về điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng quy định tại Điều 297 LTM 2005 được áp dụng khi thõa mãn cả hai điều kiện sau: Có hành vi vi phạm hợp đồng và hợp đồng bị vi phạm là hợp đồng có hiệu lực

Có hành vi vi phạm hợp đồng: Đây là điều kiện phái sinh từ một trong

những đặc điểm cơ bản của chế tài trong thương mại Theo quy định của LTM

2005, để áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng, bên bị vi phạm cần chứng minh rằng có tồn tại một vi phạm cơ bản; hoặc muốn áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại bên bị vi phạm phải chứng minh mình đang gánh chịu một tổn thất thực tế, trực tiếp do hành vi vi phạm gây ra Trong khi đó, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được áp dụng khi có hành vi vi phạm mà không cần phân biệt đó là vi phạm cơ bản hay không, và thậm chí cũng không cần chứng mình rằng bên bị vi phạm đang có một tổn thất hiện hữu hay bị mất đi một khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng17 Điều này là hợp lý, vì chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thể hiện tinh thần thiện chí của các bên trong hợp đồng, nó vốn dĩ không đặt nặng vấn đề gây ra hậu quả pháp lý bất lợi về mặt tài sản cho bên vi phạm, cho nên không cần có những điều kiện khắt khe để tránh sự áp dụng tùy tiện của bên bị vi phạm như các chế tài còn lại trong thương mại

Khoản 2 Điều 297 LTM 2005 liệt kê cách thức xử lý của bên vi phạm khi có yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng như sau: “ Trường hợp bên vi phạm giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng

hóa, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng

hợp đồng” Tuy nhiên, điều khoản này lại không quy định việc yêu cầu sửa chữa hay thay thế hàng hóa sẽ tương ứng với mức độ vi phạm nào: vi phạm cơ bản hay không cơ bản Vậy, trong những trường hợp được liệt kê theo khoản 2 Điều 297 LTM 2005, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm sửa chữa hoặc thay thế hàng hóa đối với bất kỳ vi phạm nào mà không nhất thiết phải xác định đó là vi

17 Tham khảo thêm: Mục 1.2.2 Chương 1 của luận văn

Trang 30

phạm cơ bản hay không? Câu trả lời sẽ được làm rõ trong phần bình luận án ở Mục 2.1.2 dưới đây

Ngoài ra, có quan điểm cho rằng: Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo LTM 2005 không quy định “trừ trường hợp các bên có quy định khác” nhưng các bên trong hợp đồng thương mại vẫn có thể thỏa thuận các trường hợp miễn trừ nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng cho bên vi phạm18 Quan điểm này hoàn toàn hợp pháp, nó tuân thủ nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận quy định tại Điều 11 LTM 2005 Hơn nữa, buộc thực hiện đúng hợp đồng không phải là một chế tài mang tính tuyệt đối; với một số trường hợp ngoại lệ cơ quan tài phán cũng như các bên cần xem xét thỏa thuận miễn nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng cho bên vi phạm, vấn đề này sẽ được phân tích rõ hơn ở các tiểu mục tiếp theo.Tuy nhiên, trên thực tế thoả thuận miễn nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng hiếm khi xảy ra vì loại thỏa thuận như vậy không khuyến khích các bên tuân thủ hợp đồng

Hợp đồng bị vi phạm là hợp đồng có hiệu lực: Vì mối quan hệ giữa Luật

Thương mại và Bộ luật Dân sự là quan hệ giữa luật chuyên ngành và luật chung, những quy định của Luật Thương mại về cơ bản là sự cụ thể hóa những nguyên tắc chung, quy định chung của Bộ luật Dân sự trên cơ sở hòa hợp với điều kiện đặc thù của hoạt động thương mại19, do vậy thỏa thuận hợp đồng trong thương mại cũng phải tuân theo các nguyên tắc chủ đạo quy định tại Chương II BLDS 2005, bao gồm

cả Điều 4 BLDS 2005 Theo Điều 4 BLDS 2005, tính hợp pháp là điều kiện để các cam kết và thỏa thuận có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và được chủ thể khác tôn trọng BLDS 2005 cũng quy định về hiệu lực của hợp đồng tại Điều

405 như sau: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết,…”, vậy có thể nói một hợp đồng có hiệu lực ràng buộc các bên là một hợp đồng được giao kết hợp pháp20, hay cụ thể hơn: để chứng minh một hợp đồng hợp

18 Tham khảo thêm:

Phan Huy Hồng - Chủ nhiệm đề tài (2010), Các vấn đề pháp lý của hợp đồng mua bán hoàng hóa qua thực

tiễn xét xử của tòa án và trọng tài Việt Nam, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, trường Đại học luật TP

Hồ Chí Minh, tr.124

Nguyễn Thị Thanh Huyền (2014),“Một số vấn đề pháp lý về áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

theo quy định của Luật Thương mại 2005”, Khoa học pháp lý, (03), tr 24-28

19 Tham khảo: Đoàn Năng (2005), “Mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự với các luật chuyên ngành và giữa các

luật chuyên ngành với nhau”, Nghiên cứu lập pháp, (04), tr.38 - 41

Trang 31

pháp ta chỉ cần chứng minh nó có hiệu lực Cũng lưu ý thêm rằng: Vấn đề hiệu lực của hợp đồng thương mại không được LTM 2005 quy định nên căn cứ vào khoản 3 Điều 4 LTM 200521, chúng ta sẽ áp dụng quy định của BLDS 2005 để xác định một hợp đồng thương mại có hiệu lực hay không Điều 121 BLDS 2005 quy định “Giao dịch dân sự là hợp đồng…”, hợp đồng dân sự chính là biểu hiện cụ thể của một giao dịch dân sự, thông qua hợp đồng dân sự người ta có thể dễ dàng nhận biết được nội dung của giao dịch dân sự là gì Một giao dịch dân sự có hiệu lực thì hợp đồng của giao dịch ấy cũng có hiệu lực, hay nói cách khác điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực cũng là điều kiện để hợp đồng dân sự/ hợp đồng thương mại có hiệu lực Những điều kiện này được quy định minh thị tại Điều 122 BLDS 2005, bao gồm: điều kiện về năng lực hành vi dân sự của người tham gia giao dịch, điều kiện về nội dung và mục đích của giao dịch, tính tự nguyện của người tham gia giao dịch, và điều kiện về hình thức của giao dịch (nếu pháp luật có quy định)22 Chỉ cần không thỏa mãn một trong những điều kiện nêu trên, một giao dịch dân sự sẽ bị vô hiệu theo các điều từ Điều 128 đến Điều 134 BLDS 2005; khi đó các bên sẽ khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Và vì các bên được khôi phục lại tình trạng ban đầu nên giữa họ không còn sợi dây ràng buộc là hợp đồng nữa, sợi dây ràng buộc không còn họ cũng không có nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng

2.1.2 Thực tiễn tài phán về điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Quyết định giám đốc thẩm số 12/2009/KDTM-GĐT ngày 22/04/2009 của Tòa Kinh tế TANDTC về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ - Xây dựng Phượng Lâm (sau đây gọi

là Công ty Phượng Lâm) và Cửa hàng Âm thanh - Ánh sáng - Nhạc cụ Huy Quang

21 Để hiểu rõ thêm về vấn đề áp dụng pháp luật trong hoạt động thương mại, tham khảo: Phan Huy Hồng

(2012), “Một số vấn đề cơ bản về áp dụng pháp luật đối với hoạt động thương mại”, Tạp chí Khoa học pháp

lý, (03), tr.36 - 44

22 Về vấn đề hiệu lực của hợp đồng, tham khảo thêm:

Phan Huy Hồng (2005), “Bàn về phạm vi năng lực pháp luật của pháp nhân kinh doanh”, Tạp chí Nhà nước

Trang 32

(sau đây gọi là Cửa hàng Huy Quang) ký kết Hợp đồng kinh tế số 1905 HQ06 ngày 19/5/2006 và Phụ lục hợp đồng số 1905 PLHQ ngày 27/6/2006 về việc mua bán hàng hóa Nội dung chính của hợp đồng là cửa hàng Huy Quang bán cho Công ty Phượng Lâm 08 thiết bị điện tử (âm thanh, ánh sáng) Hợp đồng và phụ lục hợp đồng có ghi rõ số lượng, chủng loại, model, xuất xứ mỗi loại thiết bị, thời gian giao nhận và bảo hành thiết bị…

Sau khi nhận hàng được khoảng 1 tháng, Công ty Phượng Lâm phát hiện 03 trên 08 thiết bị nhập về không đúng xuất xứ như thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết Ngày 5/9/2006, Công ty Phượng Lâm có Công văn số 09/PL-CTPL yêu cầu Cửa hàng Huy Quang thay thế toàn bộ thiết bị tương đương Ngày 27/9/2006, Cửa hàng Huy Quang có văn bản trả lời là không đồng ý Ngày 01/11/2006, Công ty Phượng Lâm khởi kiện ra Tòa án yêu cầu Cửa hàng Huy Quang tiếp tục thực hiện việc khắc phục hậu quả do đã vi phạm hợp đồng: Thay thế toàn bộ thiết bị đã cung cấp cho Công ty Phượng Lâm hoặc nhận lại thiết bị, trả lại tiền; bồi thường thiệt hại cho Công ty Phượng Lâm do phải thuê thiết bị thay thế tính từ ngày 28/9/2006 đến ngày Tòa án ra quyết định với giá 300.000 đồng/ngày

Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 06/2007/KSTM-ST ngày 23/7/2007 và Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 1511/2007/KSTM-ST ngày 26/12/2007 đều không chấp nhận yêu cầu của Công ty Phượng Lâm trả lại 08 mặt hàng đã nhận, cũng như không chấp nhận yêu cầu của Công ty Phượng Lâm đòi bồi thường số tiền mà công ty đã thuê thiết bị của bên thứ ba để thay thế

bị còn lại, làm ảnh hưởng đến mục đích sử dụng của hàng hóa, nhưng Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm đã không suy xét đến vấn đề này

Số hàng hóa không đúng xuất xứ còn làm cho Công ty Phượng Lâm không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa

Trang 33

Công ty Phượng Lâm và Cửa hàng Huy Quang là nhằm cung cấp cho Công ty Phượng Lâm thiết bị điện tử về âm thanh, ánh sáng để Công ty Phượng Lâm đưa vào sử dụng, nhưng ba mặt hàng giao sai xuất sứ vì không đồng bộ với những thiết

bị còn lại nên Công ty Phượng Lâm đã không thể sử dụng và phải thuê thiết bị từ người khác Cho nên, Công ty Phượng Lâm không thể đạt được mục đích mà công

ty mong chờ từ hợp đồng là: sử dụng hàng hóa đã mua từ Cửa hàng Huy Quang vào hoạt động kinh doanh của mình Căn cứ vào khoản 13 Điều 3, khoản 1 Điều 34, Điều 39 LTM 2005 thì Cửa hàng Huy Quang đã vi phạm nghĩa vụ giao hàng phù hợp với hợp đồng và vi phạm này cấu thành một vi phạm cơ bản

Trong Công văn số 09/PL-CTPL ngày 05/09/2006 và đơn khởi kiện của mình, Công ty Phượng Lâm yêu cầu Cửa hàng Huy Quang tiếp tục khắc phục vi phạm, thay thế toàn bộ thiết bị đã cung cấp cho Công ty Phượng Lâm hoặc nhận lại thiết bị, trả lại tiền; bồi thường thiệt hại Yêu cầu đầu tiên là biểu hiện của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, đồng thời cũng chứng tỏ thiện chí của Công ty Phượng Lâm muốn tạo cơ hội cho bên vi phạm là Cửa hàng Huy Quang khắc phục

vi phạm và hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng Như trên đã phân tích, mặc dù LTM

2005 không quy định biện pháp sửa chữa và thay thế hàng hóa sẽ áp dụng tương ứng với vi phạm cơ bản hay không cơ bản nhưng Công ty Phượng Lâm đã áp dụng biện pháp thay thế hàng hóa để buộc Cửa hàng Huy Quang thực hiện đúng hợp đồng trong trường hợp này là hoàn toàn hợp tình hợp lý

Có thể dễ dàng nhận ra rằng: Công sức cũng như chi phí mà bên vi phạm phải bỏ ra để thực hiện biện pháp thay thế hàng hóa và sửa chữa hàng hóa là khác nhau Biện pháp sửa chữa hàng hóa không gây tổn thất quá lớn cho bên vi phạm về mặt chi phí và công sức, do đó biện pháp này nên được áp dụng đối với vi phạm không cơ bản cũng như áp dụng đối với mọi khuyết tật, thiếu xót và mọi hình thức không phù hợp của hàng hóa Ngược lại, biện pháp thay thế hàng hóa lại làm bên vi phạm tốn nhiều công sức và tiền của hơn; vì họ phải tìm kiếm sân bãi, phương tiện chuyên chở phù hợp với hàng hóa bị trả lại, tốn chi phí để bảo quản hàng hóa khi chưa bán được cho đối tác khác, tốn chi phí vận chuyển hàng hóa về kho bãi, Do

đó biện pháp thay thế hàng hóa cần được suy xét kỹ lưỡng trước khi áp dụng, vì những bất lợi vật chất khá nặng nề mà biện pháp này có thể đem lại cho bên vi phạm; thì chỉ nên áp dụng chúng khi vi phạm là cơ bản

Như vậy, việc Công ty Phượng Lâm áp dụng biện áp thay thế hàng hóa đối với Cửa hàng Huy Quang thể hiện sự tương xứng giữa mức độ vi phạm của hành vi

Trang 34

giao hàng không đúng hợp đồng với mức độ chế tài của biện pháp thay thế hàng hóa Thế nhưng, cả Tòa án sơ thẩm và Toàn án phúc thẩm đều không chấp nhận yêu cầu này của Công ty Phượng Lâm Chính từ chỗ không suy xét đến vi phạm hợp đồng là vi phạm cơ bản hay không cơ bản mà Toàn án ở hai cấp đều nhận định sai

về yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng của Công ty Phượng Lâm, dẫn đến phán quyết không công bằng: Công ty Phượng Lâm không được trả lại hàng mà còn bị buộc thanh toán tiền hàng theo hợp đồng cho Cửa hàng Huy Quang, Cửa hàng Huy Quang không bị buộc thay thế hàng hóa cho Công ty Phượng Lâm mà còn được thanh toán số tiền có thể cao hơn giá trị hàng hóa đã bán Phán quyết như vậy không những không bảo vệ được lợi ích chính đáng cho bên bị vi phạm là Công Ty Phượng Lâm, mà còn buông lỏng hành vi vi phạm của Cửa hàng Huy Quang ngoài vòng pháp luật, gây tổn thất về tài sản cho bên bị vi phạm

2.2 Cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

2.2.1 Các vấn đề pháp lý về cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng

hợp đồng

Pháp luật thương mại Việt Nam quy định hai cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, như sau: bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng, hoặc bên bị vi phạm dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện Hai cách thức này được cụ thể hóa tại khoản 2 và khoản 3 Điều 297 LTM

2005 Theo đó, đối với hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng dịch vụ, bên bị vi phạm trước tiên phải yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng và chỉ khi bên

vi phạm không thực hiện yêu cầu này, bên bị vi phạm mới có quyền tự mình hoặc thuê người khác khắc phục khuyết tật của hàng hóa và thiếu sót của dịch vụ để hợp đồng được thực hiện LTM 2005 không quy định rõ trình tự áp dụng như trên có được áp dụng đối với các loại hợp đồng thương mại khác hay không Nhưng nếu tuân theo nguyên tắc thiện chí thì trình tự như trên nên được áp dụng chung cho các loại hợp đồng thương mại còn lại, bao gồm: hợp đồng xây dựng, hợp đồng bảo

hiểm, hợp đồng tín dụng…

Trong trường hợp, bên vị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng thì bên bị vi phạm phải gia hạn thêm một khoảng thời gian hợp lý để bên vi phạm tiếp tục hoàn thành nghĩa vụ của mình theo Điều 298 LTM 2005 Yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng phải được thông báo tới bên vi phạm bằng văn bản, lời nói hay hành vi cụ thể, điều này là phù hợp với nghĩa vụ thông tin của bên bị vi phạm Bên bị vi phạm có thể yêu cầu giao hàng hóa bổ sung nếu bên vi phạm giao

Trang 35

thiếu hàng hóa; yêu cầu cung ứng đúng dịch vụ nếu bên vi phạm cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng; yêu cầu loại trừ khuyết tật và thiếu xót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay thế nếu bên vi phạm giao hàng hóa và cung ứng dịch vụ kém chất lượng Khoản 2 Điều 297 LTM 2005 cũng quy định thêm rằng: Bên vi phạm không được dùng tiền để thay thế mà không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm Đôi khi trên thực tế, cơ quan tài phán chưa thực sự chú trọng đến quy định linh hoạt này của LTM 2005, tạo ra bất công đối với bên vi phạm Bởi, có thể vì lý do nào đó việc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng sẽ gây ra cho bên vi phạm những thiệt hại vô lý,

và trong hoàn cảnh ấy bên bị vi phạm vẫn có thể nhận được lợi ích tương tự thông qua việc ký kết hợp đồng với người khác thì việc bên vi phạm dùng tiền để thay thế

nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng xem ra là hợp lý hơn cả

Nếu bên vi phạm không thực hiện theo yêu cầu tại khoản 2 Điều 297 LTM

2005 hoặc hoàn cảnh cụ thể cho thấy rằng bên vi phạm không có thiện chí hoặc không có khả năng để thực hiện hợp đồng thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng các biện khác được liệt kê tại khoản 3 Điều 297 LTM 2005, bao gồm: bên bị vi phạm mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của bên thứ ba để thay thế theo đúng hàng hóa và dịch vụ ghi trong hợp đồng; hoặc tự mình sửa chữa khuyết tật của hàng hóa, thiếu xót của dịch vụ; trong cả hai trường hợp này bên vi phạm đều phải hoàn trả cho bên

bị vi phạm khoản tiền chênh lệch hoặc chi phí liên quan nếu có Tuy nhiên, yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng không những mở ra cho bên bị vi phạm quyền được

áp dụng khoản 3 Điều 297 LTM 2005 mà còn cho phép bên này áp dụng các chế tài khác nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của mình theo khoản 2 Điều 299 LTM 2005, như: đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng Quyền áp dụng các chế tài khác này chỉ phát sinh hiệu lực khi bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng và gia hạn thêm thời gian cho bên này khắc phục vi phạm nhưng bên vi phạm vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong khoảng thời gian

gia hạn thêm đó

Tương tự như yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng, khi bên bị vi phạm áp dụng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện thì họ vẫn phải thông báo cho bên vi phạm biết Những thông báo như vậy thường đảm bảo cho các bên tuân thủ nguyên tắc thiện chí của pháp luật hợp đồng và phù hợp với nghĩa vụ thông tin của mình Tuy nhiên, đối với thông báo yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng và cả thông báo về việc áp dụng các biện pháp khác, LTM 2005 đều không quy định thời

hạn thông báo trong bao lâu thì được cho là hợp lý

Trang 36

2.2.2 Thực tiễn tài phán về cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng

hợp đồng

Quyết định giám đốc thẩm số 12/2009/KDTM-GĐT ngày 22/04/2009 của Tòa Kinh tế TANDTC về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

Như trên đã đề cập, trong tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công

ty Phượng Lâm và Cửa hàng Huy Quang; sau khi Công ty Phượng Lâm có thiện chí gửi Công văn số 09/PL-CTPL ngày 05/09/2006 để yêu cầu Cửa hàng Huy Quang thực hiện đúng hợp đồng thì đến ngày 27/09/2006 Cửa hàng Huy Quang có thông báo từ chối thực hiện yêu cầu này của Công ty Phượng Lâm Tình tiết vừa nêu cho thấy Cửa hàng Huy Quang rõ ràng có thái độ không thiện chí trong việc khắc phục

vi phạm, buộc Công ty Phượng Lâm phải tiến hành thuê thiết bị của bên thứ ba để thay thế cho thiết bị giao không đúng hợp đồng Như vậy, Công ty Phượng Lâm đã

áp dụng các biện pháp khác theo khoản 3 Điều 297 LTM 2005 để hợp đồng được thực hiện là hợp lý Công ty Phượng Lâm cũng yêu cầu Cửa hàng Huy Quang hoàn trả khoản tiền thuê thiết bị thay thế từ bên thứ ba, khoản tiền thuê thiết bị này chính

là chi phí liên quan đề cập tại khoản 3 Điều 297 LTM 2005 và cũng chính là tổn thất về tài sản mà Công ty Phượng Lâm đáng lý ra không phải gánh chịu nếu không

có hành vi vi phạm hợp đồng của Cửa hàng Huy Quang Nhưng Toàn án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm có thể vì không xem xét đến tính thiện chí của đôi bên nên đã bác yêu cầu trên của Công ty Phượng Lâm

Nhận xét: Đối với cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng,

pháp luật thương mại Việt Nam không quy định cụ thể trường hợp bên vi phạm rõ ràng không có thiện chí hoặc không có khả năng để tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng ngay các biện pháp quy định tại khoản 3 Điều 297 LTM 2005 hay không Ngay cả trong thực tiễn xét xử nêu trên, Tòa án cũng tỏ ra thờ ơ khi xem xét đến trường hợp này, hoặc không có nhận định đúng về thái độ và thiện chí của bên vi phạm đối với yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng của bên bị vi phạm Từ những sai xót nhỏ trong việc nhận định hành vi vi phạm hợp đồng như vậy, đã khiến Tòa án đưa ra phán quyết không hợp tình hợp lý, gây ra tổn thất nhất định cho bên bị vi phạm và tạo tâm lý hoang mang không đáng có đối với niềm tin của các đương sự vào khả năng xét xử của tòa án

Bản án số 510/2007KDTM-ST ngày 30/3/2007 của Tòa án Nhân dân TP

Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng mua bán cà phê

Trang 37

Công ty Thương mại và Du lịch tỉnh Đăk Nông (sau đây gọi là Công ty Đăk Nông) và Công ty Thực phẩm Miền Bắc (sau đây gọi là Công ty Miền Bắc) ký kết với nhau các hợp đồng mua bán cà phê Giá cà phê không ổn định nên các bên thống nhất ký các phụ kiện về việc chuyển kỳ hạn chốt giá Do giá cà phê tiếp tục tăng nên ngày 29/08/2006 Công ty Đắk Nông tiếp tục có văn bản đề nghị chốt giá Ngày 30/08/2006, Công ty Thực phẩm Miền Bắc có văn bản xác định chỉ chấp nhận giá đề nghị trong văn bản ngày 2/8/2006 và ngày 3/8/2006, không chấp nhận giá đề nghị trong văn bản ngày 29/8/2006 Sau đó, các bên không thể chốt được giá cuối cùng nên nguyên đơn là Công ty Đăk Nông đề nghị tòa án xem xét cho Công ty nhận lại 406.683kg cà phê đã giao hoặc nhận tiền

Bị đơn là Công ty Miền Bắc đã bán số cà phê nói trên cho một doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời cho rằng vì nguyên đơn chưa giao đủ số cà phê còn lại là 54,233 tấn, chưa xuất hóa đơn nên chưa có cơ sở để thanh toán Do vi phạm nghĩa

vụ giao số hàng nói trên nên nguyên đơn phải chịu phạt vi phạm và yêu cầu nguyên đơn tiếp tục giao 54,233 tấn cà phê còn thiếu

Tòa án đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn là Công ty Miền Bắc phải trả cho Công ty Đăk Nông số tiền tương ứng với số cà phê đã nhận theo giá niêm yết trên thị trường Phán quyết này là hợp lý, vì không thể bắt buộc Công

ty Miền Bắc trả lại 406.683 kg cà phê mà họ đã bán cho doanh nghiệp nước ngoài, điều này nằm ngoài khả năng của họ, trong khi mục đích cuối cùng mà Công ty Đăk Nông muốn đạt được từ hợp đồng là bán được hàng và nhận được tiền Đây là phán quyết giúp cả hai bên có được lợi ích mà họ mong muốn từ việc thực hiện hợp đồng

Tòa án chấp nhận yêu cầu của Công ty Miền Bắc về việc Công ty Đăk Nông phải chịu phạt vi phạm đối với 54,233 tấn cà phê còn thiếu là chưa hợp lý Trong hoàn cảnh giá cà phê đang biến động ngày càng tăng và các bên không thể chốt lại giá cuối cùng thì việc Công ty Đăk Nông không giao tiếp số cà phê còn lại là lẽ thường tình Trong kinh doanh, vấn đề “ăn cho, buôn so” luôn được đem ra đong đếm nếu như không muốn tự mình chuốc lấy thiệt lại Một giao dịch chưa được ngã ngũ, giá hàng hóa có xu hướng tăng thì bất kỳ doanh nhiệp nào trong hoàn cảnh của Công ty Đăk Nông cũng không thể tiếp tục bán hàng để nhận lấy thua lỗ Do đó, trong trường hợp này có thể xem xét để Công ty Đăk Nông thay vì giao cà phê cho Công ty Miền Bắc thì có thể thỏa thuận để trả bằng tiền tương ứng với 54,233 tấn cà phê còn lại chứ không phải chịu phạt vi phạm với mức tiền do Tòa án ấn định, đồng

Trang 38

thời Công ty Đăk Nông cũng có thể bồi thường thiệt hại cho Công ty Miền Bắc nếu

có Hướng giải quyết này không chỉ giúp cho Công ty Miền Bắc có thêm vốn để thu mua cà phê từ người khác với mức giá phù hợp mà còn giúp Công ty Đăk Nông bán được hàng với giá tốt hơn cho đối tác khác Như vậy, lợi ích của các bên trong hợp đồng cũng được cân nhắc như nhau, phù hợp với quan hệ bình đẳng trong hoạt động thương mại

Nhận xét: Khoản 2 Điều 297 LTM 2005 quy định: “ Bên vi phạm không

được dùng tiền để thay thế, nếu không có sự đồng ý của bên bị vi phạm” Chúng

ta cần hiểu điều luật này một cách linh hoạt và mềm dẻo hơn, theo đó nên cho bên

vi phạm được dùng tiền để thay thế hàng hóa và dịch vụ trong trường hợp: nếu tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng bên vi phạm sẽ gánh chịu những tổn thất đáng tiếc; đồng thời việc không tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng của bên vi phạm không cản trở gì đến lợi ích của bên bị vi phạm vì họ có thể nhận những lợi ích ấy một cách hợp lý thông qua việc ký kết một hợp đồng với đối tác khác Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy Tòa án thường nghiêng về lợi ích của bên bị vi phạm hơn là xem xét đến thiệt hại mà bên vi phạm phải gánh chịu Khoản 2 Điều 297 LTM 2005 không được Tòa án tiếp cận theo hướng cho phép bên vi phạm được thay thế hàng hóa, dịch vụ bằng tiền như trên đã đề cập mà bên vi phạm sẽ bị phạt vi phạm nếu không thực hiện đúng hợp đồng Có thể thấy, các giao dịch trong thương mại mà đặc biệt là trong mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ phát triển rất năng động, tính

ổn định không cao, thường vượt ra ngoài mô hình mà pháp luật dự liệu Do đó, thật cần thiết khi phán quyết của cơ quan tài phán có thể phản ứng linh hoạt và mềm dẻo

phù hợp với điều kiện đa dạng của thực tiễn

2.3 Gia hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng

2.3.1 Các vấn đề pháp lý về gia hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng

Khi bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có thể gia hạn thêm một khoảng thời gian hợp lý để bên vi phạm hoàn thành nghĩa vụ của mình LTM 2005 không quy định khoảng thời gian cụ thể mà bên bị vi phạm được phép gia hạn cho bên vi phạm cũng như không quy định các yếu tố và căn cứ để xác định một thời hạn bổ sung quy định tại Điều 298 trong bao lâu thì được coi là hợp lý Tuy nhiên, những thiếu hụt này không phải là không có lý do Những yếu tố liên quan đến việc xác định thời hạn trong quan hệ hợp đồng thường thay đổi nhanh chóng, rất khó cho một số ít từ ngữ cô đọng của pháp luật có thể điều chỉnh một cách chi tiết vào từng trường hợp cụ thể nên để đảm bảo tính ổn

Trang 39

định lâu dài của pháp luật, quy phạm pháp luật chỉ có thể quy định một cách khái quát như thế, quan trọng hơn cả là sự linh hoạt sáng suốt của cơ quan tài phán khi

áp dụng chúng để phán xét thực tiễn

Việc gia hạn thêm thời gian thực hiện nghĩa vụ hợp đồng theo Điều 298 LTM 2005 không mang ý nghĩa “hợp thức hóa” vi phạm hợp đồng của bên vi phạm,

có nghĩa là: bên bị vi phạm vẫn có quyền áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại, phạt

vi phạm và tạm ngừng thực hiện hợp đồng trong thời gian gia hạn thêm, ngoại trừ hai chế tài hủy bỏ hợp đồng và đình chỉ thực hiện hợp đồng thì không được áp dụng

vì đây là hai chế tài có hậu quả pháp lý trái ngược với chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng Hết thời gian gia hạn thêm, bên vi phạm vẫn không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng hay không có thiện chí và cố tình trì hoãn việc thực hiện, thì đương nhiên bên bị vi phạm được phép áp dụng ngay các chế tài khác theo khoản 2 Điều 299 LTM 2005 đó là hủy bỏ hợp đồng và đình chỉ thực hiện hợp đồng

mà không cần chứng minh hành vi vi phạm có là cơ bản hay không Hiểu khoản 2 Điều 299 LTM 2005 theo hướng như vậy là hợp lý và phù hợp với thông lệ quốc tế,

cụ thể là khoản 1b Điều 49 và khoản 1b Điều 64 CISG, khoản 1 Điều 7.2.5 Bộ nguyên tắc Unidroit 2004

Ngay cả khi bên bị vi phạm cho bên vi phạm thêm thời gian để thực hiện hợp đồng thì thời hạn được ghi nhận trong hợp đồng của hai bên vẫn là mốc để tính thời hạn khiếu nại, thời hiệu khởi kiện hay tính lãi xuất chậm trả, chứ không phải tính theo mốc thời gian gia hạn thêm vì pháp luật hợp đồng đề cao sự thống nhất trong thỏa thuận của các bên, trong khi đây là quyết định đơn phương của bên bị vi phạm nên nó chỉ có giá trị trong phạm vi khoản 2 Điều 299 LTM 2005 cho phép mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng Hơn nữa, mục đích chủ đạo của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là đảm bảo cho các bên thực hiện đúng những gì

mà mình đã cam kết, cho nên những thỏa thuận trong hợp đồng luôn được đề cao hơn hết Trừ khi, thời gian gia hạn thêm là kết quả của sự thỏa thuận giữa các bên thì nó mới được xem là mốc thời gian mới để tính thời hạn khiếu nại, thời hiệu khởi kiện hay tính lãi chậm thanh toán23

2.3.2 Thực tiễn tài phán về gia hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng

23

Tham khảo thêm:

Phan Huy Hồng (Chủ nhiệm đề tài), tlđd.18, tr.126

Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,

NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr 421

Trang 40

Bản án số 1308/2010/KDTM-PT ngày 22/11/2010 của Tòa án Nhân dân

TP Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ

Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ và Xây dựng Hoài Phúc (sau đây gọi là Công ty Hoài Phúc) ký kết Hợp đồng kinh tế số 12/HĐKT ngày 06/02/2010 với Công ty TNHH một thành viên Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu Phát Tài (sau đây gọi là Công ty Phát Tài) về việc khai hoang đất trồng cây cao su Ngày 08/02/2010 hai bên ký thêm Phụ lục hợp đồng số 02/PLHĐ Thời gian thực hiện hợp đồng từ ngày ký hợp đồng đến hết ngày 30/08/2012

Về trách nhiệm của hai bên: Thời hạn chót là ngày 20/02/2010, Công ty Phát Tài phải có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ hồ sơ pháp lý (bản sao y hợp lệ) liên quan đến khu vực rừng được phép khai hoang cho Công ty Hoài Phúc để xuất trình với cơ quan chức năng trong quá trình vận chuyển thiết bị cơ giới đến công trình và trong quá trình thi công tại công trình Trường hợp Công ty Phát Tài không cung cấp hồ

sơ hoặc cung cấp hồ sơ không đúng địa điểm khai hoang thỏa thuận tại phụ lục hợp đồng thì Công ty Hoài Phúc được quyền chấm dứt hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm Trong 05 ngày kể từ ngày ký phục lục hợp đồng, Công ty Hoài Phúc có nghĩa vụ thông báo số lượng, phương tiện cơ giới và nhân lực cho Công ty Phát Tài

Ngày 12/02/2010, Công ty Hoài Phúc gửi Thông báo số 14/VP-TB cho Công

ty Phát Tài thông báo số lượng nhân sự, thiết bị và phương tiện cơ giới thi công chuẩn bị mặt bằng Tuy nhiên, Công ty Phát Tài đã không cung cấp hồ sơ pháp lý liên quan đến khu vực được phép khai hoang cho Công ty Hoài Phúc, mặc dù Công

ty Hoài Phúc đã gửi thông báo nhắc nhở Ngày 10/03/2010 Công ty Hoài Phúc thông báo cho Công ty Phát Tài về việc chấm dứt hợp đồng Ngày 21/04/2010, Công ty Hoài Phúc khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty Phát Tài phải chịu phạt

vi phạm và bồi thường thiệt hại Bản án sơ thẩm số 11/2010/KDTM-ST ngày 25/08/2010 của Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức đã bác các yêu cầu trên của Công

ty Hoài Phúc, Bản án phúc thẩm số 1208/2010/KDTM-PT ngày 22/11/2010 của Tòa án Nhân dân TP Hồ Chí Minh sửa lại bản án sơ thẩm và chấp nhận yêu cầu này

Nhận xét: Công ty Hoài Phúc đã gia hạn thêm một thời gian 18 ngày (từ

ngày 20/02/2010 – 10/03/2010) để Công ty Phát Tài hoàn tất hồ sơ cần thiết theo đúng hợp đồng, nhưng Công ty Phát Tài vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời hạn đó Do đó, căn cứ vào thỏa thuận của hợp đồng cũng như theo khoản

Ngày đăng: 21/02/2022, 20:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w