Thứ hai, đánh giá sự hiệu quả của các quy định pháp luật thương mại Việt Nam, đánh giá thực tiễn áp dụng của các cơ quan tài phán tại Việt Nam đối với vấn đề trên trong một số trường hợ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
NGUYỄN LÊ KIM NGỌC
HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG
THEO LUẬT THƯƠNG MẠI 2005
CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG
THEO LUẬT THƯƠNG MẠI 2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN LÊ KIM NGỌC Khóa: 42 MSSV: 1753801011126
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THẠC SĨ NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Huyền, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả
Nguyễn Lê Kim Ngọc
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADA Hiệp định về Chống bán phá giá (Anti-dumping Agreement) CISG Công ước Viên năm 1980 của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế (The United Nations Convention
on Contracts for the International Sale of Goods) GATT 1994 Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
(General Agreement on Tariffs and Trade) LTM 1997 Luật Thương mại (Luật số 58/L-CTN) ngày 10/5/1997 LTM 2005 Luật Thương mại (Luật số 36/2005/QH11) ngày 14/6/2005 SCM Hiệp định về các biện pháp Trợ cấp và đối kháng (Subsidy
and Countervailing measures Agreement)
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG 7
1.1 Khái quát về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo quy định của Luật Thương mại 2005 7
1.2 Hàng hóa không phù hợp với sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng 9
1.2.1 Sự thỏa thuận về số lượng 11
1.2.2 Sự thỏa thuận về chất lượng 12
1.2.3 Sự thỏa thuận về đóng gói, bảo quản hàng hóa 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 18
CHƯƠNG 2: HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG THÔNG THƯỜNG 19
2.1 Trình tự xem xét đối với các tiêu chí về mục đích của hàng hóa 20
2.2 Mục đích sử dụng thông thường 22
2.3 Hàng hóa cùng chủng loại 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 27
CHƯƠNG 3: HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI MỤC ĐÍCH CỤ THỂ 28
3.1 Mục đích cụ thể 28
3.2 Điều kiện áp dụng 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 37
CHƯƠNG 4: HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI YÊU CẦU CHẤT LƯỢNG THEO MẪU VÀ YÊU CẦU ĐÓNG GÓI, BẢO QUẢN 38
4.1 Hàng hóa không phù hợp với yêu cầu chất lượng theo mẫu 38
4.1.1 Mẫu và chất lượng của mẫu 38
4.1.2 Hàng mẫu là hàng hóa được bên bán giao cho bên mua 39
4.2 Hàng hóa không phù hợp với yêu cầu đóng gói, bảo quản 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 45
KẾT LUẬN CHUNG 46 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC CÁC BẢN ÁN CỦA TÒA ÁN
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mua bán hàng hóa là một quan hệ thương mại truyền thống và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Trong quan hệ này, giữa bên bán và bên mua đã thiết lập một giao dịch cụ thể mà đối tượng là hàng hóa Theo đó, nghĩa vụ cơ bản nhất của bên bán là giao hàng, còn nghĩa vụ cơ bản nhất của bên mua là thanh toán Trong nhiều trường hợp, việc thực hiện nghĩa vụ giao hàng của bên bán ảnh hưởng trực tiếp, thậm chí là tiền đề để bên mua thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình Do đó, trong quan
hệ mua bán hàng hóa, đánh giá “mức độ hoàn thành” nghĩa vụ giao hàng của bên bán
là một vấn đề luôn được quan tâm hàng đầu của bên mua và cả cơ quan tài phán khi các bên có tranh chấp Bên cạnh các yếu tố cụ thể về thời gian giao hàng, phương tiện vận chuyển, thì chất lượng của hàng hóa được giao cũng là một vấn đề cốt lõi trong cấu thành của nghĩa vụ giao hàng Do đó, đánh giá chất lượng hàng hóa trong hợp đồng cũng là một trong những công việc cần phải làm khi đánh giá nghĩa vụ giao hàng của bên bán Trước hết, cần xem xét sự phù hợp của hàng hóa với pháp luật, nghĩa là, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa cần phải thuộc một trong các loại hình mà luật định dưới tên gọi “hàng hóa” Tiếp theo, pháp luật xem xét sự phù hợp của hàng hóa với ý chí của các bên, được nhìn nhận dưới khái niệm “hàng hóa không phù hợp với hợp đồng” Pháp luật thương mại cho thấy, một hàng hóa “đạt chuẩn” được hiểu là một hàng hóa phù hợp với yêu cầu của các bên đã thể hiện trong hợp đồng và trong cả quá trình đàm phán, thương lượng trước đó có liên quan Hai trường hợp cụ thể đã được quy định khi đánh giá sự “đạt chuẩn” này của hàng hóa, đó là giữa các bên có sự thỏa thuận và giữa các bên không có sự thỏa thuận Với trường hợp các bên đã có sự thỏa thuận, pháp luật thương mại Việt Nam đã quy định sự phù hợp của hàng hóa là sự đáp ứng tất cả đặc tính mà các bên đã thỏa thuận minh thị và ghi nhận vào hợp đồng Điều này có nghĩa là, bất kỳ một điều khoản hợp pháp nào trong hợp đồng đề cập đến đặc tính của hàng hóa được giao đều là căn cứ để đánh giá
sự “đạt chuẩn” của hàng hóa Với trường hợp các bên không có sự thỏa thuận, thay
vì quy định tất cả tiêu chí mà hàng hóa cần đáp ứng để được xem là phù hợp, pháp luật thương mại Việt Nam đã quy định theo hướng chỉ ra các trường hợp mà hàng hóa được xem là không phù hợp với hợp đồng Tại quy định này, các tiêu chí được xem xét bao gồm: mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa cùng chủng loại, mục đích cụ thể mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết, chất lượng của mẫu hàng hóa mà bên bán đã giao cho bên mua và yêu cầu về đóng gói, bảo quản theo cách thức thông thường Khi quy định những tiêu chí này, nhiều khái niệm vẫn chưa được pháp luật định nghĩa, giải thích như: mục đích sử dụng thông thường, hàng
Trang 7hóa cùng chủng loại, mục đích cụ thể, cách thức thông thường trong khâu đóng gói, bảo quản Ngoài ra, thực tiễn cho thấy, tồn tại một số vấn đề liên quan nhưng lại không được ghi nhận trong quy định của pháp luật như: liệu mẫu do bên mua đề xuất cho bên bán có được xem là căn cứ để xác định tính phù hợp của hàng hóa, hoặc trường hợp bên mua tiến hành đặt hàng mà không dựa vào sự tư vấn của bên bán thì bên bán có còn chịu trách nhiệm trong việc giao hàng phù hợp với mục đích của bên mua hay không Do đó, khi tìm hiểu quy định pháp luật thương mại về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, nhiều nội dung còn chưa được giải thích, làm rõ, dẫn đến việc hiểu các quy định này còn hạn chế Ngoài ra, khi thể hiện tại quy định của mình, pháp luật thương mại vẫn chưa thể hiện thống nhất các tên gọi cho phù hợp như sự chênh lệch về số lượng hàng hóa khi giao hàng của bên bán cũng được hiểu
là sự không phù hợp của hàng hóa, thay vì gọi tên thành hai vấn đề khác nhau tại Điều 41 Luật Thương mại 2005 Mặt khác, trong một số bản án, việc xem xét và áp dụng các quy định về vấn đề này để giải quyết của tòa án vẫn chưa hợp lý, thuyết phục
Với những lý do trên, tác giả nhận thấy, nghiên cứu về hàng hóa không phù
hợp với hợp đồng là cần thiết Vì vậy, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo Luật Thương mại 2005” để thực hiện khóa
luận, phục vụ cho công tác học tập, nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn vào hoạt động mua bán hàng hóa tại Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Sách/Giáo trình
- Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Pháp luật
về thương mại hàng hóa và dịch vụ (Tái bản lần 1, có sửa đổi và bổ sung), Nhà xuất
bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam: Giáo trình có đề cập và phân tích quy định của Luật Thương mại 2005 về vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng và so sánh với quy định tương ứng tại Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tuy nhiên, giáo trình chỉ phân tích về mặt lý luận, chưa đi sâu vào trường hợp các bên có thỏa thuận và không đề cập đến việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử
- Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật Thương mại quốc tế - Phần II, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam: Tại
Chương 3, giáo trình có đề cập đến nghĩa vụ giao hàng phù hợp của bên bán theo quy định của Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và pháp luật thương mại Việt Nam nhưng chỉ trình bày khái quát mà chưa đi vào phân tích chi tiết
Trang 8- Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Thương mại Tập II (Tái bản lần thứ 11), Nhà xuất bản Công an nhân dân: Giáo trình cung cấp cho người
đọc những kiến thức nền tảng về vấn đề này thông qua việc phân tích quy định pháp luật Việt Nam
- Nguyễn Hoàng Thái Hy, Ngô Nguyễn Thảo Vy (2020), Đọc hiểu CISG qua thực tiễn giải quyết các tranh chấp tiêu biểu, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành
phố Hồ Chí Minh: Sách cung cấp kiến thức tổng quát về quy định của Công ước Viên
1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thông qua việc phân tích các tranh chấp tiêu biểu, trong đó, sách có đề cập đến vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo quy định của Công ước này
Luận án/Luận văn/Khóa luận
- Võ Sỹ Mạnh (2015), Vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Viên năm
1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và định hướng hoàn thiện các quy định
có liên quan của pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh: Luận án có đề cập đến vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng nhưng không phân tích sâu mà chỉ nêu sơ lược để làm căn cứ trình bày vấn
- Ngô Thị Kiều Trang (2014), Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Nội: Luận văn có đề cập đến vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam nhưng không phân tích sâu
- Nguyễn Thanh Phương Vy (2019), Tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng theo quy định của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Khóa
luận tốt nghiệp: Khóa luận phân tích cụ thể, chi tiết vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo quy định của Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Đối với pháp luật Việt Nam, tác giả chỉ nêu khái quát, chưa phân tích sâu
Bài báo khoa học/Công trình nghiên cứu
- Phan Huy Hồng (Chủ nhiệm đề tài) (2011), Các vấn đề pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa qua thực tiễn xét xử của tòa án và trọng tài tại Việt Nam, Đề tài
Nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh: Trong đề tài này, nhóm tác giả đã phân tích khái quát vấn đề hàng hóa không phù hợp
Trang 9với hợp đồng thông qua phân tích thực tiễn xét xử Vấn đề này được nhóm tác giả phân tích một cách tổng quát, chưa phân tích sâu vào quy định pháp luật
- Phạm Ánh Dương, Nguyễn Thế Đức Tâm, Ngô Nguyễn Thảo Vy (2014),
“Vi phạm cơ bản do giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo Công ước Viên
1980 và pháp luật thương mại Việt Nam”, Tạp chí Sinh viên và Khoa học Pháp lý, số
8, tr 31-35: Nhóm tác giả có đề cập khái quát về việc xem xét tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng theo quy định của Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và pháp luật thương mại Việt Nam nhưng chưa phân tích sâu vào các tiêu chí được quy định
- Phan Thị Thanh Thủy (2014), “So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong Luật Thương mại Việt Nam 2005 và Công ước Viên 1980”,
Tạp chí Khoa học: Luật học, tập 30, số 3/2014, tr 50-60: Bài viết phân tích sơ lược
vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng làm căn cứ trình bày vấn đề “trách nhiệm do vi phạm hợp đồng”
- Nguyễn Hoàng Thái Hy, Ngô Nguyễn Thảo Vy (2017), “Xác định thời hạn thực hiện nghĩa vụ kiểm tra và thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa theo
Công ước Vienna năm 1980”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 07 (110), tr 34-41: Bài
viết có đề cập đến vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng một cách sơ lược làm căn cứ trình bày vấn đề “thời hạn của nghĩa vụ kiểm tra và thông báo” khi hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo quy định của Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
- Trần Thị Thuận Giang (2017), “Điều khoản miễn trách nhiệm do hành vi giao hàng không phù hợp với hợp đồng theo Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 07 (110), tr 67-73: Bài
viết có đề cập sơ lược vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo quy định của Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, làm căn cứ trình bày điều khoản miễn trách nhiệm trong trường hợp này theo quy định của Công ước
Ngoài ra, còn một số các công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo
và các bài viết đăng trên tạp chí có liên quan đến vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo pháp luật thương mại Việt Nam và thực tiễn xét xử
Thông qua việc xem xét về tình hình nghiên cứu, tác giả nhận thấy: đa phần các công trình nghiên cứu về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng chỉ được thực hiện một cách khái quát thông qua việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam hoặc được nghiên cứu thông qua quy định của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu về vấn đề này dưới góc độ pháp luật Việt Nam và thực tiễn xét xử
Trang 103 Mục đích nghiên cứu đề tài
Thông qua việc nghiên cứu đề tài “Hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo Luật Thương mại 2005”, tác giả hướng đến các mục đích quan trọng sau:
Thứ nhất, làm rõ vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, trên cơ sở
phân tích quy định của pháp luật thương mại Việt Nam và liên hệ với Công ước Viên
1980 của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Từ tính chất tương
tự của hai quy định này, việc tìm hiểu quy định của Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có ý nghĩa tham khảo, góp phần xem xét tính hiệu quả của các quy định mang cùng tính chất và việc áp dụng những quy định này trong giải quyết một số vụ việc thực tế
Thứ hai, đánh giá sự hiệu quả của các quy định pháp luật thương mại Việt
Nam, đánh giá thực tiễn áp dụng của các cơ quan tài phán tại Việt Nam đối với vấn
đề trên trong một số trường hợp cụ thể, đồng thời đề xuất giải pháp cho các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa khi thỏa thuận về vấn đề này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo Luật Thương mại 2005 Để làm rõ đề tài này, tác giả tập trung đi sâu vào phân tích các vấn đề sau:
- Các đặc điểm thể hiện tính phù hợp của hàng hóa trong trường hợp các bên
có thỏa thuận trong hợp đồng, bao gồm: số lượng, chất lượng, đóng gói và bảo quản;
- Các đặc điểm thể hiện tính phù hợp của hàng hóa trong trường hợp các bên không có thỏa thuận trong hợp đồng, bao gồm: sự phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hóa cùng chủng loại, sự phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng, sự đảm bảo chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hóa mà bên bán
đã giao cho bên mua, và sự bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hóa đó hoặc theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hóa trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu quy định của pháp luật thương mại Việt Nam hiện hành (Luật Thương mại 2005) và liên hệ với Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, có tham khảo các ý kiến của học giả, chuyên gia trong việc phân tích và đọc hiểu quy định pháp luật Đồng thời, đề tài còn nghiên cứu các bản án của Tòa án trong nước và nước ngoài liên quan trong việc giải quyết đối tượng nghiên cứu
Trang 115 Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, tác giả sử dụng linh hoạt, phối hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp: Đây là hai phương pháp chủ đạo được sử dụng xuyên suốt trong đề tài Thông qua hai phương pháp này, tác giả làm rõ các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật liên quan đến đối tượng nghiên cứu Đồng thời, hai phương pháp này còn được tác giả sử dụng để nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật liên quan Ngoài ra, phương pháp tổng hợp còn được tác giả dùng để kết luận và khái quát các vấn đề được trình bày trong đề tài này
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng trong việc so sánh quy định của pháp luật Việt Nam và quy định của Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế để hiểu rõ hơn đối tượng nghiên cứu và giải mã các vấn đề liên quan trong trường hợp pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ hoặc chưa có tiền lệ áp dụng trong thực tiễn Bên cạnh đó, tác giả dùng phương pháp này để đối chiếu việc
áp dụng pháp luật giữa các cơ quan tài phán Việt Nam khi áp dụng pháp luật vào thực tiễn Ngoài ra, phương pháp này còn được tác giả sử dụng để so sánh khái quát sự thay đổi trong quy định về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng trong tiến trình xây dựng pháp luật của Việt Nam, kết hợp với phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Phương pháp phân tích vụ việc: Phương pháp này được tác giả sử dụng để phân tích các bản án của Tòa án nhân dân các cấp khi áp dụng pháp luật Việt Nam, các bản án của Tòa án nước ngoài khi áp dụng các quy định tương tự, nhằm đánh giá
sự hiệu quả của quy định pháp luật và bình luận về tính phù hợp của việc xét xử đối với vấn đề nghiên cứu
6 Bố cục tổng quát của khóa luận
Bên cạnh phần mở đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục tổng quát của khóa luận gồm:
Chương 1: Hàng hóa không phù hợp với sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng
Chương 2: Hàng hóa không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường Chương 3: Hàng hóa không phù hợp với mục đích cụ thể
Chương 4: Hàng hóa không phù hợp với yêu cầu chất lượng theo mẫu và yêu cầu đóng gói, bảo quản
Trang 12CHƯƠNG 1: HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG
1.1 Khái quát về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo quy định của Luật Thương mại 2005
Việc xác định nội hàm của khái niệm hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo Luật Thương mại (Luật số 36/2005/QH11) ngày 14/6/2005 (LTM 2005) bắt nguồn từ khái niệm hàng hóa theo Luật này Bởi lẽ, khái niệm hàng hóa có vai trò quan trọng trong việc xác định tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng Chỉ khi xác định được quan hệ giữa các bên là quan hệ mua bán hàng hóa, thông qua việc xác định đối tượng của hợp đồng và quyền, nghĩa vụ cơ bản của các bên, thì các quy định pháp luật về thương mại hàng hóa mới có thể áp dụng, trong đó bao gồm quy định về tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng
LTM 2005 đã quy định hàng hóa bao gồm: (1) tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; và (2) những vật gắn liền với đất đai1 Có thể thấy, LTM 2005 đã định nghĩa hàng hóa một cách tổng quan và bao quát những đối tượng được đề cập trong giao dịch mua bán hàng hóa Quy định này của LTM 2005
là dễ hiểu, có thể phân loại và đánh giá được trên thực tế, do đó, quá trình xác định hàng hóa theo quy định này đã diễn ra hiệu quả trong các quan hệ mua bán hàng hóa
Liên quan đến vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, Luật Thương mại (Luật số 58/L-CTN) ngày 10/5/1997 (LTM 1997) quy định: “trường hợp chất lượng hàng hóa không được xác định cụ thể trong hợp đồng, người bán phải giao hàng có chất lượng trung bình của loại hàng hóa đó được lưu thông trên thị trường tại thời điểm giao hàng”2 Bên cạnh đó, LTM 1997 cũng ghi nhận “trường hợp bao bì hàng hoá không được quy định cụ thể trong hợp đồng thì người bán phải giao hàng với bao bì thường dùng cho loại hàng này”3 Có thể thấy, LTM 1997 quy định theo hướng “trường hợp các bên không có thỏa thuận thì hàng hóa như thế nào được xem
là phù hợp” thông qua xem xét các tiêu chí “chất lượng trung bình được lưu thông trên thị trường tại thời điểm giao hàng” và “bao bì thường dùng” Đến LTM 2005, vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng được ghi nhận cụ thể hơn thông qua xem xét hai trường hợp cụ thể: có sự thỏa thuận giữa các bên và không có sự thỏa thuận giữa các bên Trường hợp giữa các bên có sự thỏa thuận, hàng hóa không phù
1 Khoản 2 Điều 3 LTM 2005
2 Khoản 2 Điều 60 LTM 1997
3 Khoản 3 Điều 60 LTM 1997 quy định bao bì phải bảo đảm an toàn cho hàng hoá trong quá trình vận chuyển,
có tính đến khả năng chuyển tải trong điều kiện bốc dỡ thông thường và phải phù hợp với thời gian, phương tiện vận tải
Trang 13hợp là hàng hóa không đảm bảo các đặc tính được ghi nhận trong hợp đồng (Điều 34 LTM 2005 quy định bên bán phải giao hàng đúng và đầy đủ theo sự thỏa thuận của các bên) Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, thay vì quy định hàng hóa như thế nào là phù hợp, LTM 2005 đã quy định theo hướng ghi nhận một số tiêu chí nhất định để đánh giá hàng hóa không phù hợp với hợp đồng So với yêu cầu “chất lượng trung bình” và “bao bì thường dùng” của LTM 1997, LTM 2005 đã ghi nhận các tiêu chí sau: (1) mục đích sử dụng thông thường (so với các hàng hóa cùng chủng loại), (2) mục đích cụ thể (đã được bên mua thể hiện hoặc thuộc trường hợp bên bán phải biết), (3) mẫu hàng hóa mà bên bán đã giao, và (4) cách thức bảo quản, đóng gói Như vậy, bằng việc mở rộng tiêu chí xem xét, vấn đề “hàng hóa không phù hợp với hợp đồng” được LTM 2005 quy định một cách chi tiết và đa dạng hơn so với LTM 1997
Cùng vấn đề này, pháp luật quốc tế cũng có những quy định nhất định nhằm điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, tiêu biểu là Công ước Viên năm
1980 của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) Theo CISG, các bên có quyền thỏa thuận về chất lượng của hàng hóa trong hợp đồng tại Điều 35(1) Trường hợp các bên không có thỏa thuận về vấn đề này, CISG cũng liệt
kê các tiêu chí nhằm xem xét hàng hóa có phù hợp hay không tại Điều 35(2) Có thể thấy, quy định của CISG và LTM 2005 về vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng là tương tự nhau.4 Một trong những nguyên nhân của sự tương tự này là do các nhà làm luật Việt Nam đã tham khảo CISG trong quá trình soạn thảo pháp luật thương mại.5 Như vậy, xem xét quy định và thực tiễn xét xử của CISG sẽ có ý nghĩa tham khảo rất lớn, trong quá trình đánh giá tính hiệu quả của LTM 2005 và thực tiễn áp dụng của cơ quan tài phán Việt Nam trong một số trường hợp cụ thể
Nhìn chung, vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng được LTM 2005
đề cập thông qua hai khía cạnh: (1) tính hợp pháp của hàng hóa theo quy định pháp luật về định danh loại hình hàng hóa, và (2) tính phù hợp của hàng hóa so với ý chí của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa Trong đó, khía cạnh (2) được LTM
2005 xem xét trong hai trường hợp: (2.a) có sự thỏa thuận giữa các bên, và (2.b) không có sự thỏa thuận giữa các bên Đối với trường hợp không có sự thỏa thuận giữa
4 Bộ Công Thương, “Báo cáo nghiên cứu khả năng Việt Nam gia nhập Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)”,
https://quochoi.vn/uybandoingoai/content/tulieu/Lists/Tulieu/Attachments/11/Bao%20cao%20tong%20hop% 20ket%20qua%20nghien%20cuu%20Cong%20uoc%20Vien%201980%20(final).pdf, truy cập ngày 20/5/2021, tr 18
5 “So sánh CISG và Luật Việt Nam”, lu%e1%ba%adt-vi%e1%bb%87t-nam, truy cập ngày 20/5/2021
Trang 14https://cisgvn.wordpress.com/2010/11/01/so-sanh-cisg-va-các bên, https://cisgvn.wordpress.com/2010/11/01/so-sanh-cisg-va-các tiêu chí xem xét được quy định tại Điều 39 bao gồm: (2.b.i) mục đích sử dụng thông thường, (2.b.ii) mục đích cụ thể, (2.b.iii) chất lượng của hàng mẫu và (2.b.iv) cách bảo quản, đóng gói hàng hóa Với những phân tích trên, để thuận tiện nghiên cứu vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo LTM 2005, tác giả sẽ trình bày vấn đề này thông qua các tiêu chí: (I) Hàng hóa không phù hợp với sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, (II) Hàng hóa không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường, (III) Hàng hóa không phù hợp với mục đích cụ thể, và (IV) Hàng hóa không phù hợp với yêu cầu chất lượng theo mẫu và yêu cầu đóng gói, bảo quản
1.2 Hàng hóa không phù hợp với sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng
Thông qua sự thỏa thuận giữa các bên, có thể nói, “hàng hóa có chất lượng phù hợp” là lợi ích chính đáng mà bên mua mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng với bên bán Hay nói cách khác, “nghĩa vụ giao hàng phù hợp với hợp đồng là nghĩa vụ cơ bản của bên bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa”6 Do đó, pháp luật thương mại đã ghi nhận sự thỏa thuận của các bên về đặc điểm của hàng hóa Sự thỏa thuận này phải được thể hiện minh thị, cụ thể trong hợp đồng Dựa trên các nguyên tắc cơ bản của pháp luật thương mại Việt Nam, các bên có quyền tự do thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng trên tinh thần tự nguyện, thiện chí; và việc thỏa thuận không được trái với quy định pháp luật, thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội7 Nghĩa
là, các bên có thể thỏa thuận bất cứ đặc điểm nào của hàng hóa trong hợp đồng mà các bên cảm thấy cần thiết được ghi nhận, làm rõ và thông tin đến đối phương Việc thỏa thuận cụ thể về hàng hóa không những tạo điều kiện cho các bên hiểu rõ nhu cầu của nhau, mà còn là một cơ hội để bên bán xem xét, rà soát khả năng thực hiện hợp đồng của mình so với các yêu cầu mà bên mua đưa ra, từ đó các bên có thể đánh giá tính khả thi, hiệu quả của hợp đồng, dẫn đến nâng cao khả năng thực hiện trọn vẹn hợp đồng đã ký kết
Theo CISG, thỏa thuận của các bên về hàng hóa trong hợp đồng cần có các điều khoản chủ yếu (về tên hàng hóa, số lượng, giá cả), trong khi đó, pháp luật thương mại Việt Nam lại không có bất kỳ quy định nào về vấn đề này8 Tuy nhiên, khoản 1 Điều 34 LTM 2005 về nghĩa vụ của bên bán quy định: “Bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng” Quy định này đã thể hiện việc pháp luật thương mại có đề cập đến các đặc điểm của hàng hóa mà bên bán phải đáp
6 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch
vụ (Tái bản lần 1, có sửa đổi và bổ sung), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 109
7 Điều 11 LTM 2005
8 Tlđd (6)
Trang 15ứng trong trường hợp các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, gồm: số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản Điều này có thể được hiểu rằng, “nếu trong hợp đồng có yêu cầu hàng hóa phù hợp với mô tả thì người bán sẽ phải tuân thủ yêu cầu này”9 Tại Điều 35(1) CISG cũng quy định, hàng hóa phải phù hợp với các yêu cầu về số lượng, chất lượng, bao bì, đóng gói được đề cập tại hợp đồng giữa các bên Như vậy, cả LTM 2005 và CISG đều ghi nhận quyền thỏa thuận cụ thể về chất lượng hàng hóa của các bên trong hợp đồng Với quy định này, thỏa thuận của các bên đã trở thành một căn cứ, tiêu chuẩn quan trọng để xem xét “mức độ” phù hợp của hàng hóa được giao, từ đó đánh giá “mức độ” hoàn thành nghĩa vụ của bên bán Có thể thấy, quy định này của pháp luật thương mại là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng sự thỏa thuận của các bên khi điều chỉnh quy định mang tính chất dân sự này
Bên cạnh đó, pháp luật thương mại cũng thể hiện rằng, xem xét thỏa thuận giữa các bên là ưu tiên hàng đầu Cụ thể, tại Điều 39 LTM 2005, các tiêu chí luật định chỉ được xem xét đến trong trường hợp hợp đồng giữa các bên không có quy định cụ thể về vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Trong trường hợp hợp đồng tồn tại ít nhất một điều khoản có nội dung mâu thuẫn với quy định tại Điều 39 LTM 2005,
sự thỏa thuận giữa các bên sẽ được áp dụng thay cho quy định pháp luật Tất nhiên, điều kiện tiên quyết là điều khoản đó, hợp đồng đó phải hợp pháp Nguyên tắc xem xét thỏa thuận giữa các bên trước tiên này cũng được ghi nhận tại Điều 35(1) CISG Một ví dụ điển hình về vấn đề này là vụ tranh chấp giữa người bán Slovakia và người mua Séc10 với hợp đồng mua bán một loại thảm Sau khi nhận hàng, người mua cho rằng hàng hóa có những khiếm khuyết khiến hàng kém bền và ngày càng hao mòn nên đã yêu cầu người bán giảm giá 30% so với giá ban đầu nhưng người bán không đồng ý Vì người mua không tiến hành thanh toán đủ số tiền hàng, người bán đã khởi kiện người mua, yêu cầu thanh toán số tiền còn thiếu và lãi tương ứng Tòa sơ thẩm cho rằng chất lượng hàng hóa không tuân thủ các tiêu chuẩn quy định đối với loại thảm tương tự nên đây là hàng hóa đã không phù hợp với hợp đồng theo trường hợp không có sự thỏa thuận của các bên Tuy nhiên, Tòa phúc cho rằng, có một hợp đồng mua bán hợp lệ giữa các bên và hàng hóa được giao trước hết phải phù hợp với các yêu cầu quy định trong đơn đặt hàng của người mua Tòa án nhận thấy yêu cầu của
9 Nguyễn Thanh Phương Vy (2019), Tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng theo quy định của Công ước
Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ
Chí Minh, tr 14
10 Czech Republic 29 March 2006 Supreme Court of the Czech Republic,
http://www.unilex.info/cisg/case/1941, truy cập ngày 25/6/2021
Trang 16người mua là “thảm loại ADOS”, điều này ngụ ý rằng người mua đã đặt mua hàng hóa có chất lượng được xác định trong hợp đồng bằng cách tham chiếu đến tên một doanh nghiệp chính xác: hãng ADOS Thực tế cho thấy, người bán đã giao loại thảm hãng ADOS đúng theo yêu cầu của người mua Do đó, Tòa phúc thẩm cho rằng, cần phải xem xét thỏa thuận của các bên trước khi xem xét đến các tiêu chí luật định, và trong tranh chấp này, hàng hóa đã giao là phù hợp với sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng
Như vậy, cả LTM 2005 và CISG đều cho rằng, vấn đề “giữa các bên có thỏa thuận hay không” cần thiết được xem xét đầu tiên khi đánh giá tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng Trong trường hợp giữa các bên có thỏa thuận thì trước hết, sự phù hợp của hàng hóa sẽ được đánh giá dựa trên thỏa thuận này Khi đó, mọi đặc tính được ghi nhận trong hợp đồng đều được phân tích và trở thành cơ sở đối chiếu, phổ biến nhất là các yếu tố số lượng, chất lượng và cách đóng gói, bảo quản hàng hóa
1.2.1 Sự thỏa thuận về số lượng
Số lượng được định nghĩa là “con số biểu thị sự có nhiều hay có ít”11 Thực tế khi đề cập đến số lượng, một sự thể hiện đầy đủ cần được ghi nhận gồm: con số và đơn vị tính, ví dụ như: 50 cái, 70 tấn Trong trường hợp có sự thỏa thuận giữa các bên về số lượng của hàng hóa, chữ số la-tinh được khuyến khích sử dụng, hoặc cẩn thận hơn, các bên có thể dùng cả chữ và số để diễn đạt thông tin này Trường hợp các bên sử dụng những lượng từ có thể tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, việc giải thích
ý nghĩa của chúng được dựa trên ý chí của các bên tại thời điểm giao kết, thói quen giữa các bên và tập quán thương mại (nếu có) Ví dụ, các bên giao kết một hợp đồng mua bán xoài tại Cần Thơ, trong hợp đồng nêu rõ bên bán sẽ bán cho bên mua “sáu chục quả xoài, đóng thành sáu thùng với mỗi thùng một chục quả” Thông thường, một chục được hiểu là mười (10) Tuy nhiên, trong thực tế, tồn tại nhiều trường hợp đơn vị “chục” được sử dụng cho mười hai (12), mười bốn (14) hoặc có thể là mười sáu (16), đặc biệt là người dân Cần Thơ (và miền Tây Nam Bộ nói chung) Do đó, việc các bên không diễn đạt số lượng theo hướng chỉ có thể hiểu một cách duy nhất
có thể dẫn đến sự bất đồng trong việc “hiểu cho đúng hợp đồng” Chính vì vậy, không chỉ khuyến khích các bên thỏa thuận về số lượng trong hợp đồng mà việc thỏa thuận này còn cần thiết được thực hiện một cách chi tiết, đơn nghĩa trong hợp đồng
So với LTM 2005, CISG có quy định cụ thể, rõ ràng hơn về việc số lượng là một yếu tố bắt buộc phải được thỏa thuận trong hợp đồng Việc giao hàng không đúng
về số lượng sẽ được xem là giao hàng không phù hợp với hợp đồng và các bên có
11 Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr 866
Trang 17quyền yêu cầu thực hiện các biện pháp khắc phục, thậm chí là các chế tài thương mại Thực tiễn giải quyết tranh chấp cũng cho thấy, nhiều bản án của Tòa án, phán quyết của Trọng tài đã tuyên hành vi giao thiếu hàng, thừa hàng của bên bán cấu thành hành
vi giao hàng không phù hợp với hợp đồng Tại tranh chấp về giao hàng thiếu trong hợp đồng mua bán quần áo trẻ em giữa người mua Cuba và người bán Trung Quốc12, trọng tài đã dựa trên thỏa thuận về số lượng hàng hóa của các bên trong hợp đồng để xác định người bán phải chịu trách nhiệm trong việc giao thiếu hàng và yêu cầu người bán phải hoàn trả cho người mua số tiền hàng còn thiếu mà người mua đã thanh toán
Như vậy, yếu tố số lượng được thỏa thuận trong hợp đồng của các bên là một tiêu chí để xem xét sự phù hợp của hàng hóa Tại LTM 2005, dù không quy định rõ các bên phải thỏa thuận về số lượng nhưng khoản 1 Điều 34 đã thể hiện rằng bên bán
có nghĩa vụ giao đúng số lượng hàng hóa mà các bên đã đề cập trong hợp đồng Đồng thời, việc giao hàng không đúng số lượng sẽ được hiểu là giao hàng không phù hợp khi xem xét trường hợp có sự thỏa thuận của các bên theo khoản 1 Điều 39 LTM
2005 Về bản chất, quy định này của LTM 2005 là phù hợp, bởi lẽ, suy cho cùng, tính phù hợp của hàng hóa là được xét trên ý chí của các bên trong hợp đồng, nhằm đánh giá mong muốn của bên mua về hàng hóa đã được đáp ứng hay chưa Tuy nhiên, khi quy định về quyền khắc phục do giao hàng không đúng số lượng của bên bán, Điều
41 LTM 2005 đã quy định đồng thời với cả trường hợp “giao thiếu hàng” và “hàng hóa không phù hợp với hợp đồng” Ngoài ra, Điều 43 LTM 2005 cũng có quy định
về trường hợp “giao thừa hàng” Xét thấy, sự chênh lệch về số lượng hàng hóa là một vấn đề thuộc về tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng, do đó, cần thiết điều chỉnh tên gọi của các điều khoản này để quy định của LTM 2005 trở nên thống nhất hơn
Cụ thể, tác giả đề xuất, quy định tại Điều 41 và Điều 43 LTM 2005 nên được gộp lại, đặt dưới tên gọi “Khắc phục trong trường hợp giao hàng không phù hợp với hợp đồng” để việc tìm hiểu và theo dõi vấn đề này được tập trung lại và hiệu quả hơn
1.2.2 Sự thỏa thuận về chất lượng
Theo Từ điển tiếng Việt, “chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”13, do đó, có thể hiểu “chất lượng hàng hóa” thông qua các đặc tính, thông số thể hiện phẩm chất, giá trị của hàng hóa đó Các bên có quyền thỏa thuận tất cả nội dung mà các bên cho rằng những nội dung đó đang miêu tả về chất lượng của hàng hóa trong hợp đồng (thỏa thuận không được trái với quy định
12 VIAC, “50 phán quyết trọng tài quốc tế chọn lọc”,
https://vietnamarbitration.files.wordpress.com/2016/01/viac-50-phan-quyet-trong-tai-quoc-te-chon-loc.pdf, truy cập ngày 22/05/2021, tr 47-48
13 Viện ngôn ngữ học, tlđd (13), tr 144
Trang 18pháp luật, thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội) Thực chất, việc thỏa thuận về chất lượng hàng hóa có ý nghĩa quan trọng, do đó, các bên được khuyến khích thỏa thuận càng chi tiết càng tốt Thỏa thuận về chất lượng hàng hóa trong hợp đồng sẽ được xem là căn cứ, tiêu chuẩn để xác định bên bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao đúng hàng hóa của mình hay chưa, là tiền đề để xác định trách nhiệm của các bên sau đó nếu các bên có tranh chấp
Cả LTM 2005 và CISG đều xem chất lượng hàng hóa được thỏa thuận trong hợp đồng là một căn cứ quan trọng nhằm xác định nghĩa vụ giao hàng của bên bán Mọi hành vi giao hàng không đúng chất lượng đã thỏa thuận đều được xem là hành
vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Trong trường hợp các bên đã thỏa thuận cụ thể các thông số về chất lượng của hàng hóa, cả LTM 2005 và CISG đều ghi nhận sự ưu tiên áp dụng và tôn trọng thỏa thuận của các bên, đồng thời không quy định bất kỳ một sự chênh lệch hay ngưỡng sai số nào dựa trên “chất lượng” mà các bên đã thống nhất Tranh chấp giữa Sunrise Foods International Inc và Ryan Hinton Inc.14 là một ví dụ về vấn đề này Trong đó, người bán Canada đã đồng ý cung cấp 6.000 tấn ngô hữu cơ cho người mua Hoa Kỳ Vì hàng hóa được người mua dự định bán lại làm thức ăn gia súc nên hợp đồng quy định rằng mức độ độc tố nôn (một loại nấm mốc có trong hầu hết các sản phẩm ngũ cốc) trong ngô không được vượt quá hai phần triệu Sau đó, một cuộc kiểm tra cho thấy một phần ngô tại địa điểm nhận hàng của người bán có chứa một lượng độc tố nôn cao hơn, người mua đã từ chối nhận toàn bộ số lượng hàng hóa mà họ đã đồng ý mua và chuyển sang một nguồn khác để mua Người bán sau đó đã bán lại ngô cho những khách hàng khác và đệ đơn khiếu nại người mua để tìm cách bồi thường thiệt hại Căn cứ vào thỏa thuận giữa các bên
về độ độc tố nôn của hàng hóa, Tòa án nhận định hàng hóa mà người bán giao cho người mua là không phù hợp với hợp đồng.15
sự đã đề xuất sửa chữa các khiếm khuyết theo ba cách khác nhau: (1) cung cấp ngô từ một khu vực khác của
cơ sở lưu trữ; (2) trộn nó với ngô có hàm lượng độc tố nôn thấp hơn theo quy định của ngành; hoặc (3) cung cấp hoàn toàn ngô từ một cơ sở lưu trữ khác Tuy nhiên, người mua đã không cho phép người bán khắc phục tình trạng không phù hợp của hàng hóa Hơn nữa, người mua đã không cung cấp bằng chứng cho thấy phần còn lại của hàng hóa bị lỗi Do đó, dù hàng hóa không phù hợp nhưng người mua đã có hành vi gây thiệt hại cho người bán, nên Tòa án phán quyết rằng người bán có quyền thu hồi phần chênh lệch giữa giá trong giao dịch thay thế và giá đã thỏa thuận trong hợp đồng
Trang 19Một ví dụ khác là tranh chấp giữa người bán Pháp và người mua Đức16 do Tòa Landgericht Paderborn giải quyết Trong đó, người bán Pháp và người mua Đức đã
ký hợp đồng mua bán nhựa để người mua sử dụng cho hoạt động sản xuất các sản phẩm của mình (linh kiện của rèm) Sau đó, người mua bán sản phẩm của mình cho bên thứ ba (nhà sản xuất rèm) Tuy nhiên, khách hàng của người mua cho rằng một
số rèm không che được ánh sáng mặt trời một cách hiệu quả và yêu cầu người mua bồi thường thiệt hại nên người mua chỉ trả một phần tiền hàng cho người bán Người bán đã khởi kiện yêu cầu người mua thanh toán toàn bộ, trong khi đó, người mua lại yêu cầu người bán bồi thường vì sự không phù hợp của hàng hóa với hợp đồng Xem xét các thông số về chất lượng của hàng hóa được các bên thỏa thuận trong hợp đồng, Tòa án đã nhận định rằng loại nhựa được giao có một tỷ lệ phần trăm của một chất nhất định thấp hơn tỷ lệ đã thỏa thuận, và do đó, Tòa án cho rằng người bán đã vi phạm nghĩa vụ giao hàng hóa phù hợp với hợp đồng giữa các bên
Hơn nữa, trong trường hợp các bên không thỏa thuận cụ thể về thông số của hàng hóa, việc tồn tại một thỏa thuận về “hãng sản xuất” hoặc các nội dung tương tự
có thể chỉ dẫn đến thông số chất lượng của hàng hóa của một bên thứ ba (như tiêu chuẩn về hàng hóa do các chủ thể giám định công bố) cũng được xem xét là thỏa thuận về chất lượng của hàng hóa trong hợp đồng Trong tranh chấp giữa người bán Slovakia và người mua Séc17 nêu trên, bên mua cho rằng loại thảm được giao không đáp ứng tiêu chí “bền” Tuy nhiên, bên cạnh việc thỏa thuận hàng hóa là thảm hãng ADOS, các bên đã không có thỏa thuận thêm về sự “bền” này, do đó, Tòa phúc thẩm cho rằng, bên bán không có nghĩa vụ phải giao hàng đáp ứng tiêu chí “bền” theo cách hiểu của bên mua Tòa án cũng nhấn mạnh, người bán không thể chịu trách nhiệm về các khuyết tật của hàng hóa mà người mua đã xác định được kiểu dáng hoặc thông
số
Như vậy, có thể thấy rằng, trong trường hợp này, Tòa án đã xem việc các bên thỏa thuận về “hãng” của hàng hóa là một thỏa thuận về chất lượng của hàng hóa và khi đó, Tòa án đã cho rằng việc giao hàng đúng “hãng” mà bên mua yêu cầu cũng đồng nghĩa với việc đáp ứng được điều kiện về chất lượng của hàng hóa khi giao Điều này là hoàn toàn hợp lý và thuyết phục Bởi lẽ, khi sản xuất và tiến hành bán hàng hóa, các hãng thường sẽ công khai về các chỉ số liên quan đến sản phẩm của mình, trong đó có cả thông số về chất lượng Do đó, việc các bên tiến hành thỏa thuận chọn hãng sản xuất của hàng hóa cũng mặc nhiên được hiểu là các bên đã thỏa thuận
16 Germany 25 June 1996 Landgericht Paderborn, http://www.unilex.info/cisg/case/191, truy cập ngày 27/6/2021
17 Tlđd (10)
Trang 20về các thông số thể hiện chất lượng của hàng hóa được giao chính là các thông số thể hiện chất lượng của hàng hóa được hãng sản xuất công bố, trừ trường hợp các bên có
sự thỏa thuận khác đi và được minh thị trong hợp đồng
Bên cạnh yếu tố chất lượng, các vấn đề liên quan đến việc xác định chất lượng hàng hóa cũng cần thiết được thỏa thuận trong hợp đồng Bởi lẽ, thực tế tồn tại nhiều cách thức, cơ chế khác nhau khi xác định chất lượng hàng hóa, và theo đó, kết quả được đưa ra cũng có thể khác nhau Vì vậy, các bên được khuyến khích thỏa thuận
về cả cách thức, cơ chế xác định chất lượng hàng hóa để đặc tính của hàng hóa được thể hiện rõ ràng hơn trong hợp đồng, góp phần hỗ trợ bên bán thực hiện nghĩa vụ hiệu quả hơn và hạn chế phát sinh tranh chấp Một ví dụ về tầm quan trọng của cách thức kiểm tra chất lượng hàng hóa được thể hiện thông qua tranh chấp giữa người bán Thụy Sỹ và người mua Hà Lan18 Các bên đã ký kết 03 hợp đồng mua bán cùng một loại hàng hóa với quy cách phẩm chất được quy định chi tiết Tuy nhiên, chỉ có 02 hợp đồng được ký và thực hiện, hợp đồng thứ 3 vẫn chưa được ký và trước khi hàng được gửi đi từ Canada, người mua đã hủy hợp đồng với lý do hàng hóa được giao ở hai hợp đồng đầu không đúng quy cách phẩm chất quy định trong hợp đồng Nhà máy
ở Canada đã cử kỹ sư sang Hà Lan để kiểm tra mẫu hàng Kết quả kiểm tra cho thấy: nếu phân tích theo phương pháp Bắc Mỹ thì hàng hóa phù hợp với hợp đồng, nhưng nếu phân tích theo phương pháp Châu Âu thì hàng hóa lại không phù hợp Người bán
đã khởi kiện người mua ra trọng tài, yêu cầu bồi thường đối với hành vi hủy hợp đồng, còn người mua yêu cầu bồi thường đối với thiệt hại liên quan đến hai hợp đồng đầu Trọng tài nhận định, các bên thỏa thuận cụ thể vể quy cách phẩm chất hàng hóa nhưng lại không đề cập đến phương pháp sử dụng để phân tích chất lượng hàng hóa cho đến khi người mua có khiếu nại về phẩm chất hàng hóa Thực tế giữa người mua
và người bán chưa hề có một thỏa thuận về phương pháp phân tích Người bán lẽ ra phải nêu rõ những miêu tả về hàng hóa trong hợp đồng phải được hiểu theo phương pháp phân tích Bắc Mỹ, thay vì mặc định cho rằng phương pháp Bắc Mỹ là phương pháp được sử dụng rộng rãi nên không thông tin đến cho người mua Đồng thời, người mua cũng có trách nhiệm trong việc thông báo cho người bán về phương pháp Châu
Âu mà mình yêu cầu Trọng tài cho rằng, người bán và người mua có trách nhiệm chia sẻ hậu quả do lỗi cẩu thả gây nên Tuy nhiên, vì phương pháp Bắc Mỹ được sử dụng rộng rãi hơn so với các phương pháp khác nên lỗi cẩu thả trong việc cung cấp thông tin của người bán nhẹ hơn so với người mua Do đó, trọng tài quyết định số tiền bồi thường sẽ được chia làm 5 phần, người mua chịu 3/5, người bán chịu 2/5
18 VIAC, tlđd (14), tr 16-20
Trang 21Đối với hai hợp đồng đầu, hàng hóa được xác nhận và việc thanh toán đã được thực hiện sau khi lỗi được phát hiện, hơn nữa không có bằng chứng cho thấy các bên đã thương lượng về phương pháp phân tích, do đó, trọng tài không chấp nhận đơn kiện lại của người mua về việc bồi thường hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
Như vậy, chất lượng hàng hóa trong quan hệ mua bán giữa các bên đóng một vai trò quan trọng, cấu thành nên sự phù hợp của hàng hóa trong hợp đồng Không chỉ là các thông số kỹ thuật và kiểu dáng, các bên trong hợp đồng được khuyến khích
đề cập và thỏa thuận tất cả nội dung liên quan đến yếu tố chất lượng, bao gồm cả những khái niệm về chất lượng mang tính cá nhân, chủ quan (như vụ thảm ADOS) hay phương pháp xác định chất lượng của hàng hóa Việc thể hiện rõ thông tin về hàng hóa trong hợp đồng, đặc biệt là các yêu cầu của bên mua, sẽ là một nội dung hữu ích, hỗ trợ cho bên bán trong quá trình tìm hiểu tính khả thi của hợp đồng và giao hàng phù hợp Sự thỏa thuận chi tiết này cũng sẽ góp phần làm tăng hiệu quả của giao dịch và hướng đến việc đạt được mục đích khi giao kết hợp đồng của các bên
1.2.3 Sự thỏa thuận về đóng gói, bảo quản hàng hóa
Bảo quản được hiểu là “giữ gìn cho khỏi hư hỏng hoặc hao hụt”19, còn đóng gói được hiểu là “cho hàng vào bao bì với khối lượng, kích thước xác định để thuận tiện cho việc mua bán, chuyên chở”20 Tương tự với yếu tố số lượng và chất lượng của hàng hóa, yếu tố đóng gói và bảo quản hàng hóa cũng có thể được thỏa thuận bởi các bên trong hợp đồng Về cơ bản, vai trò cốt lõi của đóng gói là bảo vệ hàng hóa trước các yếu tố khách quan bên ngoài trong quá trình vận chuyển, kiểm tra hàng hóa nhằm đảm bảo hàng hóa vẫn đạt chất lượng, ít nhất là kể từ khi người bán xem xét đóng gói, bao bì cho đến khi giao cho người mua (hoặc thời điểm chuyển quyền
sở hữu hàng hóa, chuyển rủi ro) Tuy nhiên, đóng gói, bao bì cũng có những ý nghĩa nhất định đối với người mua, bởi lẽ, mục đích của việc mua bán là vô cùng đa dạng, người mua có thể mua hàng để phục vụ cho nhu cầu sử dụng cá nhân, để tặng cho hoặc để thực hiện hoạt động thương mại của mình Do đó, tùy vào mục đích cụ thể của hoạt động mua bán hàng hóa mà vai trò của việc đóng gói, bảo quản có thể chỉ đơn giản nhằm bảo vệ hàng hóa, hoặc được yêu cầu cao hơn thế Chính vì vậy, pháp luật Việt Nam và CISG đã ghi nhận sự thỏa thuận của các bên về đóng gói, bảo quản hàng hóa và xem đây là một căn cứ để xác định sự phù hợp của hàng hóa với hợp đồng
19 Viện ngôn ngữ học, tlđd (13), tr 39
20 Viện ngôn ngữ học, tlđd (13), tr 332
Trang 22Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc đóng gói, bao bì của hàng hóa trong hợp đồng, thì việc bên bán giao hàng hóa có bao bì, đóng gói không đúng với thỏa thuận sẽ được xem là giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, và khi đó bên bán phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ giao hàng này theo thỏa thuận của các bên Một ví dụ cho vấn đề này là tranh chấp giữa người bán Hoa Kỳ và người mua Trung Quốc21 được giải quyết bởi China International Economic and Trade Arbitration Commission Theo đó, giữa người mua và người bán đã ký hợp đồng mua bán nhựa Tranh chấp nảy sinh giữa các bên liên quan đến việc dán nhãn sai hàng hóa, điều này khiến cho người dùng cuối cùng của người mua từ chối hàng hóa và yêu cầu người mua thanh toán các thiệt hại Trọng tài đã xác định việc dán nhãn sai của người bán
đã dẫn đến hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, từ đó xác định người bán vi phạm hợp đồng giữa các bên
Như vậy, với quy định của mình, cả LTM 2005 và CISG đều ghi nhận sự thỏa thuận của các bên về việc đóng gói, bao bì, bảo quản hàng hóa là một trong những yếu tố được xem xét khi đánh giá tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng Tận dụng tốt quy định này, các bên được khuyến khích thể hiện rõ trong hợp đồng về các yêu cầu đóng gói, bảo quản hàng hóa Đặc biệt, trong trường hợp việc đóng gói hàng hóa không chỉ mang ý nghĩa bảo vệ hàng hóa mà còn kèm theo các ý nghĩa nhận diện nhất định đối với bao bì, nhãn dán, màu sắc
Tóm lại, có thể thấy rằng việc thỏa thuận cụ thể, chi tiết các đặc tính có liên quan của hàng hóa chẳng hạn như số lượng, chất lượng, bao bì, đóng gói… của các bên trong hợp đồng là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phạm vi trách nhiệm của bên bán đối với nghĩa vụ giao hàng của mình Do đó, khi tham gia vào các giao dịch có diễn ra hoạt động mua bán giao nhận hàng hóa, thiết nghĩ để bảo
vệ quyền và lợi ích của mình một cách tối ưu nhất, các bên nên thỏa thuận và đặt ra các quy định chi tiết để xác định chất lượng của hàng hóa được giao dịch Đồng thời,
từ các phân tích mà tác giả đã trình bày, chúng ta cũng có thể nhận thấy rằng pháp luật thương mại đặt ra quy định xem xét sự thỏa thuận của các bên trước khi xét đến các yếu tố luật định khác Đây là một quy định phù hợp với bản chất của các giao dịch dân sự, không những thể hiện việc tôn trọng tự do thỏa thuận hợp pháp giữa các bên mà còn khuyến khích các bên chủ động trong việc đặt ra các yêu cầu cụ thể đối với hàng hóa phục vụ cho mục đích tham gia giao dịch của mình
21 7 July 1999 China International Economic and Trade Arbitration Commission,
http://www.unilex.info/cisg/case/1112, truy cập ngày 27/6/2021
Trang 23Thứ hai, làm rõ tầm quan trọng của thỏa thuận trong hợp đồng giữa các bên
trong việc xem xét tính phù hợp của hàng hóa và điều kiện để thỏa thuận giữa các bên được xem là hợp pháp;
Thứ ba, xem xét vấn đề hàng hóa không phù hợp với sự thỏa thuận của các
bên trong hợp đồng thông qua các yếu tố: số lượng, chất lượng, việc đóng gói, bảo quản hàng hóa Bên cạnh những nội dung trên, cách thức, cơ chế xác định chất lượng hàng hóa cũng là một nội dung được xem xét khi chúng được ghi nhận trong hợp đồng
Những phân tích trên đã phần nào làm rõ quy định pháp luật về hàng hóa không phù hợp với sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng Tìm hiểu về vấn đề này đóng vai trò quan trọng, là tiền đề để nghiên cứu tiếp tục vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng trong trường hợp không có thỏa thuận giữa các bên, thông qua các tiêu chí: (1) mục đích sử dụng thông thường, (2) mục đích cụ thể, (3) chất lượng của mẫu hàng hóa và việc đóng gói, bảo quản sẽ được tác giả trình bày lần lượt tại các Chương
2, 3, 4 tiếp theo
Trang 24CHƯƠNG 2: HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG THÔNG THƯỜNG
Bên cạnh trường hợp có sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng còn được xem xét trong trường hợp không có thỏa thuận giữa các bên Bởi lẽ, mặc dù các bên được khuyến khích thỏa thuận chi tiết về “tính phù hợp” của hàng hóa trong hợp đồng, thực tế vẫn tồn tại nhiều quan hệ hợp đồng mà ở đó các bên vẫn không có thỏa thuận về vấn đề này hoặc đã có thỏa thuận nhưng vấn đề phát sinh nằm ngoài sự thỏa thuận của các bên Thực tế cho thấy, trong quá trình soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa, rất hiếm, nếu không muốn nói
là không thể, khi các bên có thể trình bày hết những đặc điểm mà hàng hóa trong hợp đồng phải có.22 Dù vậy, thỏa thuận chi tiết về hàng hóa luôn được khuyến khích vì chính sự thỏa thuận này sẽ hỗ trợ các bên và cả cơ quan tài phán trong việc xác định tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng
Nhằm điều chỉnh các trường hợp về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật Việt Nam đã có những quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 39 LTM 2005 Tại những quy định này, những tiêu chí nhất định đã được đặt ra khi xem xét, đánh giá một hàng hóa có phù hợp với hợp đồng hay không trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về chúng Đây đồng thời là những nội dung mà các bên thường quan tâm và thảo luận để xác định “đặc tính” của hàng hóa được đề cập trong hợp đồng Các tiêu chí được ghi nhận gồm: (1) mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa cùng chủng loại, (2) mục đích cụ thể bất kỳ mà bên bán đã biết hoặc phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng, (3) chất lượng của mẫu hàng hóa đã được bên bán giao cho bên mua, và (4) việc bảo quản, đóng gói hàng hóa CISG cũng có những quy định về vấn đề này tại Điều 35(2) thông qua việc đưa ra các quy tắc và tiêu chuẩn khách quan để hỗ trợ việc đánh giá tính phù hợp của hàng hóa trong trường hợp các bên không có thỏa thuận rõ ràng hoặc ẩn ý về đặc tính của hàng hóa trong hợp đồng. 23 Bởi lẽ, dù trong trường hợp hợp đồng không
có ghi nhận cụ thể, tính phù hợp của hàng hóa cũng cần được đánh giá dựa vào tương tác liên quan giữa các bên nhằm xác định sự hoàn thành hay chưa đối với nghĩa vụ giao hàng của bên bán Nhìn chung, các tiêu chí của LTM 2005 và CISG về vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng là tương tự nhau Tuy nhiên, CISG có quy
22 Villy de Luca (2015), “The Conformity of the Goods to the Contract in International Sales”, 27 Pace Int'l L Rev 163 (2015), https://digitalcommons.pace.edu/pilr/vol27/iss1/4/, truy cập ngày 28/6/2021, tr 195
23 Petra Butler, Peter Schlechtriem (2009), UN Law on International Sales: The UN Convention on the
International Sale of Goods, Spring-Verlag Berlin Heidelberg,
https://books.google.com.vn/books?id=1eObSD10Au4C&printsec=frontcover&hl=vi#v=onepage&q&f=fals
e, truy cập ngày 30/6/2021, tr 115
Trang 25định một ngoại lệ khi xem xét tiêu chí “mục đích cụ thể”, còn LTM 2005 thì không
Do đó, vấn đề ngoại lệ này sẽ được tác giả phân tích khi tìm hiểu về tiêu chí này tại Chương 3
Trong quan hệ mua bán hàng hóa, đánh giá tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng là đánh giá quyền lợi mà bên mua nhận được khi giao kết hợp đồng với bên bán
có được đáp ứng đầy đủ, trọn vẹn hay không Bởi lẽ, dù việc mua hàng của bên mua
có nhằm mục đích trực tiếp sử dụng hay không, về bản chất, “hàng hóa được trao đổi, mua bán trên thị trường đều hướng đến mục đích cuối cùng là sử dụng”24 Nhắc đến mục đích sử dụng, trong bối cảnh kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển thần tốc cùng với sự hỗ trợ của khoa học – kỹ thuật và công nghệ, mục đích sử dụng của từng loại hàng hóa ngày càng đa dạng hơn Một loại hàng hóa có thể không chỉ có một mục đích sử dụng mà còn có thể có nhiều hơn thế Trường hợp bên bán và bên mua không thỏa thuận chi tiết về tính phù hợp của hàng hóa, bao gồm cả việc sử dụng chúng, việc yêu cầu bên bán phải giao một hàng hóa mà ở đó, chúng đáp ứng tất cả mục đích
sử dụng của các hàng hóa tương tự trên thị trường là một điều không khách quan và bất lợi cho bên bán trong quá trình thực hiện hợp đồng Để giải quyết vấn đề này, một khái niệm đã được đề cập, không chỉ nhấn mạnh việc sử dụng là mục đích cơ bản và sau cùng của hành vi mua bán hàng hóa, mà còn dung hòa được lợi ích của cả bên bán và bên mua trong việc xem xét tính phù hợp của hàng hóa dựa trên mục đích của chúng, đó là “mục đích sử dụng thông thường” Đây cũng là tiêu chí được đề cập đầu tiên khi xem xét đến tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 LTM 2005 Theo đó, hàng hóa “đáp ứng” hợp đồng là hàng hóa phải phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hóa cùng chủng loại Trường hợp hàng hóa không thỏa mãn tiêu chí nêu trên, hàng hóa có thể được xem là hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, dù các bên không có thỏa thuận về vấn đề này
2.1 Trình tự xem xét đối với các tiêu chí về mục đích của hàng hóa
Xem xét tổng quát các tiêu chí được liệt kê tại khoản 1 Điều 39 LTM 2005, cần xác định thứ tự áp dụng của chúng khi đánh giá một hàng hóa có phù hợp hay không với hợp đồng Trong đó, mục đích của hàng hóa được quy định thành hai tiêu chí: mục đích sử dụng thông thường (điểm a) và mục đích cụ thể (điểm b) Tuy được ghi nhận tại điểm a và b khoản 1 Điều 39 LTM 2005 nhưng thứ tự áp dụng giữa hai tiêu chí về mục đích của hàng hóa này vẫn không được LTM 2005 quy định cụ thể
24 Nguyễn Thanh Phương Vy, tlđd (10), tr 28
Trang 26Với CISG, mục đích sử dụng thông thường và mục đích cụ thể cũng được quy định lần lượt tại điểm (a), (b) của Điều 35(2) để xem xét vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng khi các bên không có thỏa thuận Đối với thứ tự xem xét của hai tiêu chí này, CISG cũng không quy định rõ Thực tiễn xét xử khi áp dụng CISG cho thấy, hầu hết các tòa án đều cho rằng phạm vi áp dụng của mục đích cụ thể là hẹp hơn so với mục đích sử dụng thông thường Một ví dụ về vấn đề này là tranh chấp giữa người bán Ý và một người mua Đức25 về một mặt hàng dệt Theo tranh chấp, Tòa án đã nhận định: vì người mua không thông báo cho người bán các đặc tính đặc biệt cần có của hàng hóa, do đó, không áp dụng Điều 35(2)(b) Sau đó, khi xem xét đến Điều 35(2)(a), Tòa án nhận thấy hàng dệt nói chung thích hợp để sản xuất váy và hàng hóa đã giao phù hợp với mô tả về mục đích thường được sử dụng của loại hàng hóa này Vì vậy, Tòa án đã nhận định hàng hóa được giao là phù hợp với hợp đồng
Xét thấy, quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 39 LTM 2005 và Điều 35(2)(a), (b) của CISG có tính chất tương đồng Dù cả LTM 2005 và CISG đều không quy định về thứ tự xem xét hai tiêu chí này, thông qua nhận định của tòa án ở tranh chấp trên, có thể thấy thực tiễn áp dụng CISG đã thể hiện việc ưu tiên xem xét mục đích
cụ thể so với mục đích sử dụng thông thường Theo tác giả, đây là một trình tự xem xét hợp lý và thuyết phục Khi đánh giá sự tương tác giữa các bên khi thể hiện hai tiêu chí này, có thể thấy, đối với mục đích cụ thể, bên mua cần thiết phải đề cập đến thông tin này cho bên bán hoặc thông tin này thuộc trường hợp bên bán phải biết Nghĩa là, trong quan hệ giữa các bên, mục đích cụ thể của hàng hóa là một nội dung nắm bắt được và đặc thù Trong khi đó, mục đích sử dụng thông thường không đòi hỏi bên mua phải đề cập đến mục đích sử dụng hàng hóa trước đó cho bên bán, cũng không yêu cầu xem xét sự bắt buộc phải biết của bên bán vì đây là thông tin mang tính chất phổ thông, được xem xét trong tất cả trường hợp đối với hàng hóa cùng loại
Vì vậy, tiêu chí mục đích cụ thể của hàng hóa mang tính cá biệt, đặc thù hơn đối với hợp đồng giữa các bên nên được ưu tiên xem xét trước tiêu chí mục đích sử dụng thông thường
Từ những phân tích trên, tác giả nhận thấy, điểm a và điểm b khoản 1 Điều 39 LTM 2005 nên được áp dụng tương tự với thực tiễn xét xử của CISG, nghĩa là, điểm
b được ưu tiên xem xét đánh giá trước rồi mới đến điểm a Với thứ tự áp dụng này, việc xem xét tiêu chí mục đích của hàng hóa trong quan hệ hợp đồng giữa các bên sẽ trở nên toàn diện và hiệu quả hơn, góp phần đánh giá đầy đủ về nghĩa vụ giao hàng của bên bán và các trách nhiệm liên quan
25 Germany 24 September 1998 Landgericht Regensburg, http://www.unilex.info/cisg/case/507, truy cập ngày 27/6/2021
Trang 272.2 Mục đích sử dụng thông thường
Để làm rõ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 LTM 2005, trước hết cần phân tích khái niệm: “mục đích sử dụng thông thường” Pháp luật thương mại Việt Nam không có bất kỳ một văn bản chính thức nào cho biết “mục đích sử dụng thông thường” cần được hiểu như thế nào Do đó, việc hiểu thuật ngữ sao cho phù hợp là tùy thuộc vào quan điểm và cách nhìn nhận, đánh giá sự việc trong từng trường hợp
cụ thể của từng chủ thể khi tiếp cận
Theo Từ điển tiếng Việt, “thông thường” được giải thích là “thường có, thường thấy, không có gì đặc biệt”26 Như vậy, mục đích sử dụng thông thường có thể được hiểu là mục đích sử dụng thường thấy, mục đích sử dụng quen thuộc, không có gì đặc biệt, là mục đích thông dụng gắn liền với từng loại hàng hóa xác định Về cơ bản, để xác định mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa, cần trả lời cho câu hỏi “sử dụng hàng hóa này để làm gì?” trên sự suy nghĩ, tư duy hợp lý của một người có kiến thức và kinh nghiệm bình thường
Có thể nói, sử dụng là mục đích cơ bản nhất và sau cùng của hàng hóa Do đó, tác giả cho rằng, điều kiện đầu tiên được xem xét khi nhắc đến mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa là tính chất “có thể sử dụng được” Để đáp ứng tính chất này, hàng hóa trước hết phải “hợp pháp cho việc sử dụng chúng” Nghĩa là, trường hợp pháp luật điều chỉnh hợp đồng hoặc pháp luật quốc gia liên quan có quy định về điều kiện, tiêu chuẩn chất lượng nhất định đối với loại hàng hóa này khi đưa chúng vào sử dụng thì những điều kiện, tiêu chuẩn nêu trên cần được bên bán chú trọng và tuân thủ Điều này cần được bên bán thực hiện ngay cả khi bên mua không phải là chủ thể trực tiếp sử dụng hàng hóa mà chỉ đóng vai trò mang tính trung gian
Trong thương mại, mục đích sử dụng thông thường có thể được đánh giá qua nhiều yếu tố, không chỉ đánh giá “mức độ có thể đáp ứng việc sử dụng của hàng hóa”
mà còn xem xét qua các khía cạnh khác, ví dụ như khả năng thương mại của hàng hóa (“merchantable quality”), chất lượng trung bình của hàng hóa trên thị trường (“average quality”) hay chất lượng phù hợp của hàng hóa (“reasonable quality”)27 Mỗi cách thức xem xét chất lượng hàng hóa sẽ mang lại một hệ quả nhất định và thường khác biệt nhau, do đó, cách thức xác định sự phù hợp của hàng hóa trong tiêu chí mục đích sử dụng thông thường vẫn luôn được các nhà nghiên cứu thảo luận Phân tích những cách thức này, các chuyên gia nhận định, việc đánh giá khả năng thương mại của hàng hóa (“merchantable quality”) phải phụ thuộc quá nhiều vào giá
cả và có xu hướng gây bất lợi cho bên bán khi ép buộc họ phải giao hàng có chất
26 Viện ngôn ngữ học, tlđd (13), tr 953
27 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (8), tr 111-113
Trang 28lượng tương đương với giá cả, điều này là mâu thuẫn với nguyên tắc tự do thỏa thuận một cách bình đẳng và thiện chí giữa các bên Bên cạnh đó, việc so sánh chất lượng hàng hóa trong hợp đồng với chất lượng trung bình của hàng hóa cùng loại hàng hóa trên thị trường (“average quality”) được phân tích là một cách thức không khả thi Bởi lẽ, khi ràng buộc bên bán phải giao hàng với chất lượng đạt từ trung bình trở lên, điều này không chỉ can thiệp vào sự thỏa thuận hợp pháp của các bên trong hợp đồng
mà còn gián tiếp công khai “chất lượng trung bình” của loại hàng hóa đó Việc công khai này sẽ làm cho các mặt hàng cùng chủng loại có chất lượng thấp hơn bị “đào thải” khỏi thị trường Điều này đã trực tiếp làm cho giá trị biểu thị “mức độ trung bình” bị thay đổi Chính vì tính chất biến số của giá trị này mà việc căn cứ vào chúng nhằm xác định tính phù hợp của hàng hóa là một điều không khả thi Khi đó, xác định chất lượng hàng hóa ở mức phù hợp (“reasonable quality”) đã được đề cập như một cách thức dung hòa hai cách thức trên Tương tự như cách thức xem xét khả năng thương mại của hàng hóa, cách thức này vẫn dựa trên tiêu chí thị trường nhưng không chỉ xem xét giá cả của hàng hóa mà còn xem xét đến các yếu tố khác liên quan Mặt khác, cách thức này cũng không ấn định một chuẩn mực xem xét cố định như “chất lượng trung bình của hàng hóa” mà các tiêu chí về chất lượng hàng hóa được xem xét một cách linh hoạt Điều này là phù hợp, bởi lẽ yêu cầu về mục đích thông thường, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, có thể dẫn đến chất lượng ở mức cao hơn hoặc thấp hơn chất lượng trung bình.28 Như vậy, nhìn chung có nhiều cách thức được đề cập để xác định mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa, khi các bên không có thỏa thuận trong hợp đồng Tiêu biểu hơn cả là việc xác định mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa thông qua nhiều tiêu chí khác nhau, trong đó, giá cả là một tiêu chí nổi trội và có tính định hướng
Xem xét CISG, có thể thấy, quy định tại Điều 35(2)(a) cũng được diễn đạt tương tự với điểm a khoản 1 Điều 39 LTM 2005 Tuy nhiên, trong phạm vi điều chỉnh mang tính quốc tế của mình, sự phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa được đánh giá là khó xác định hơn Bởi lẽ, tiêu chuẩn “phù hợp cho mục đích sử dụng thông thường” được áp dụng trên các thị trường quốc tế là không đồng nhất Khi đó, một nội dung có thể được chấp nhận ở quốc gia này nhưng cũng có thể không được chấp nhận ở quốc gia khác.29
Nhìn chung, với quy định của mình, cả LTM 2005 và CISG đều đặt ra một khái niệm định tính là “mục đích sử dụng thông thường” để xem xét tính phù hợp của hàng hóa Tuy không được gán với một giá trị cụ thể (như chất lượng trung bình hoặc
28 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (8), tr 114
29 Peter Schlechtriem, Petra Butler, tlđd (23), tr 116
Trang 29giá cả ), nhưng tiêu chí này vẫn là một nội dung có thể xác định được thông qua suy luận dựa trên các tình tiết cụ thể của một vụ việc Do đó, quy định theo hướng nêu trên đã mang lại sự linh hoạt và hiệu quả trong áp dụng pháp luật nhằm giải quyết các vấn đề tranh chấp liên quan đến mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa trong trường hợp không có sự thỏa thuận giữa các bên Cụ thể, khi các bên không có thỏa thuận về đặc tính của hàng hóa, việc bên bán giao hàng không phù hợp với mục đích
sử dụng thông thường sẽ cấu thành hành vi giao hàng không phù hợp với hợp đồng Tranh chấp giữa người bán người Đức người mua Hà Lan30 sau đây là một ví dụ Người bán đã cung cấp đất sét xay31 (kaolinit) cho người mua Một thời gian sau, đất sét tại cơ sở của người mua do người bán cung cấp bị phát hiện nhiễm dioxine nghiêm trọng Người mua sau đó đã kiện người bán đòi bồi thường thiệt hại Tòa án cho rằng, đất sét phải tuân thủ quy định về thực phẩm và các quy định liên quan đến thức ăn cho động vật Khi giao kết hợp đồng với người bán để mua loại đất sét này, người mua có thể mong đợi hợp lý rằng việc sử dụng đất sét này là an toàn cho khoai tây,
và sau đó là khoai tây này an toàn để sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi
mà không cần phải xử lý qua các khâu làm sạch Hơn nữa, các quy định liên quan cho thấy, không bắt buộc một quy trình làm sạch nào khi tiến hành sử dụng đất sét nhằm phân loại khoai tây Do đó, Tòa án kết luận rằng, sử dụng để phân loại khoai tây là mục đích thông thường mà đất sét cần phải đáp ứng theo quy định tại Điều 35(2)(a) CISG Từ đó, Tòa án kết luận hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Có thể thấy, trong vụ án này, Tòa án đã vận dụng những quy định liên quan đến hàng hóa và suy nghĩ hợp lý khi sử dụng hàng hóa theo cách tư duy thông thường để xác định rằng đất sét cần phải an toàn để đảm bảo mục đích thông thường của chúng
2.3 Hàng hóa cùng chủng loại
Bên cạnh khái niệm: “mục đích sử dụng thông thường”, để hiểu rõ về quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 LTM 2005, cần phân tích khái niệm “hàng hóa cùng chủng loại” Pháp luật Việt Nam và CISG không có giải thích về thuật ngữ này Tìm hiểu pháp luật quốc tế có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa, nhận thấy, khái niệm hàng hóa cùng chủng loại/hàng hóa tương tự (“goods of same description”) được ghi nhận trong nhiều Hiệp định như Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT 1994), Hiệp định về Chống bán phá giá (ADA), Hiệp định về các biện pháp
Trang 30Trợ cấp và đối kháng (SCM) Tại Điều 1.1 Phần 1 GATT 1994, “sản phẩm tương tự” được ghi nhận nhưng không được giải thích cụ thể Theo GATT, việc xác định tính tương tự của hàng hóa được thực hiện thông qua từng vụ việc cụ thể Một vụ việc tiêu biểu là Taxes on Alcoholic Beverages32 được giải quyết dựa trên quy định của GATT 1994 Bên khiếu nại là Cộng đồng châu Âu, sau đó có cả Canada và Hoa Kỳ, cho rằng rượu mạnh xuất khẩu sang Nhật Bản bị phân biệt đối xử theo hệ thống thuế rượu Nhật Bản Theo quan điểm của bên khiếu nại, rượu “shochu” của Nhật Bản được đánh thuế thấp hơn đáng kể so với whisky, cognac và rượu mạnh trắng Ban Hội thẩm
đã được thành lập và xem xét tính tương tự của những hàng hóa kể trên Trong quá trình xem xét, Ban Hội thẩm đã căn cứ vào đặc tính vật lý và công dụng của các sản phẩm nước uống có cồn kể trên để đánh giá tính tương tự giữa chúng Sau cùng, họ
ra báo cáo cho thấy hệ thống thuế của Nhật Bản không phù hợp với Điều III.2 GATT.33 Như vậy, với GATT, dù không có quy định cụ thể nhưng “hàng hóa cùng chủng loại” vẫn là một yếu tố xác định được trong từng vụ việc, trong đó, như tình huống trên, việc đánh giá yếu tố này đã được căn cứ vào đặc tính vật lý và công dụng của hàng hóa
Bên cạnh đó, cũng là pháp luật quốc tế, tại ghi chú số 46 của Điều 15.1 SCM
và Điều 2.6 ADA cũng có đề cập đến “sản phẩm tương tự” Tại hai hiệp định này,
“sản phẩm tương tự” được chú thích là “một sản phẩm giống hệt, ví dụ như giống hệt sản phẩm đang được xem xét về mọi mặt hoặc nếu không tồn tại một sản phẩm như vậy, một sản phẩm khác dù không tương đồng về mọi mặt, nhưng có những đặc điểm tính chất rất giống với sản phẩm đang được xem xét” Như vậy, với khái niệm này, SCM và ADA cũng xem xét tính tương tự của hàng hóa thông qua sự tương đồng của hàng hóa trong nhiều khía cạnh, mà đặc biệt là về đặc điểm, tính chất
Ngoài ra, tính năng sử dụng của hàng hóa cũng có thể được xem xét khi đánh giá tính tương tự giữa chúng Một hàng hóa có thể có nhiều hơn một tính năng sử dụng, do đó, khi xem xét, tính năng sử dụng thông thường hoặc tính năng sử dụng cuối cùng của hàng hóa được lựa chọn để xem xét thay vì xem xét tất cả tính năng có thể có của chúng Tính năng sử dụng của hàng hóa cũng có thể được thể hiện qua thị hiếu của người tiêu dùng Việc này có thể được giải thích là, trong cùng một điều kiện thương mại trên thị trường (giá cả, tình trạng sản phẩm ), liệu rằng một người tiêu dùng với suy nghĩ hợp lý có lựa chọn sản phẩm B, sản phẩm C thay thế cho sản
32 DS8: Japan — Taxes on Alcoholic Beverages case,
https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds8_e.htm, truy cập ngày 13/6/2021
33 Nhật Bản đã có kháng cáo sau đó, tuy nhiên Cơ quan phúc thẩm đã khẳng định kết quả báo cáo của Ban Hội thẩm là phù hợp
Trang 31phẩm A khi chúng hết hàng hay không? Trường hợp câu trả lời là có, sản phẩm B, C
có thể được xem là “sản phẩm tương tự” của sản phẩm A Mặt khác, dưới góc độ của chủ thể công, nhà nước cũng có những quy định nhằm phân loại hàng hóa nhất định, biểu thị qua các bảng phân loại, biểu thuế của các cơ quan chuyên môn Kết quả phân loại này của cơ quan nhà nước có thể được xem là một trong những tài liệu tham khảo hữu ích để cơ quan xét xử đánh giá tính tương tự của hàng hóa trong việc giải quyết các tình huống thực tiễn về vấn đề này Tựu trung lại, “hàng hóa cùng chủng loại” thường được xem xét thông qua các nội dung sau: (1) đặc tính, thành phần, tính chất vật lý của sản phẩm, (2) tính năng sử dụng cuối cùng của sản phẩm, (3) thị hiếu, thói quen của người tiêu dùng, và (4) bảng phân loại, biểu thuế Việc xem xét này phải được thực hiện trong từng vụ việc cụ thể, đối với từng sản phẩm nhất định
Như vậy, hàng hóa cùng chủng loại được xác định thông qua nhiều yếu tố, trong đó có xem xét đến mục đích sử dụng thông thường Việc xác định hàng hóa cùng chủng loại sẽ là tiền đề để xác định mục đích sử dụng thông thường của chúng – cơ sở để xem xét hàng hóa có phù hợp với hợp đồng hay không theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 LTM 2005 Đồng thời, mục đích sử dụng thông thường cũng
là một tiêu chí để đánh giá các hàng hóa cùng chủng loại Có thể thấy, giữa hai khái niệm nêu trên có mối liên hệ chặt chẽ, cái này là tiền đề xem xét cái kia và ngược lại
Tóm lại, trong trường hợp đặc tính của hàng hóa không được thỏa thuận, bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa cùng chủng loại Trường hợp hàng hóa mà bên bán giao không đáp ứng tiêu chí này, bên bán có thể được xem là giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Nhìn chung, quy định này của LTM 2005 không phải là một quy định quá cụ thể và rõ ràng
để áp dụng, bởi lẽ, các khái niệm “thông thường”, “cùng chủng loại” của quy định này là định tính và có thể được xác định khác nhau trong nhiều trường hợp Dù vậy, vẫn phải thừa nhận rằng, chính sự linh hoạt này đã mang lại không gian suy luận và nhận định cho các cơ quan tài phán Việc áp dụng quy định này gắn liền với tình huống cụ thể của từng vụ việc sẽ giúp các khái niệm nêu trên trở nên dễ xác định hơn
và mang lại hiệu quả tối ưu, thay vì cứng ngắc quy định một tiêu chuẩn cố định cho mọi trường hợp Vì lẽ đó, theo tác giả, trong vấn đề xác định tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng dựa trên mục đích sử dụng thông thường, quy định của LTM 2005
là hiệu quả và có tính thực tiễn cao Ngoài ra, cần phải xác định rằng, mục đích sử dụng thông thường chỉ là một trong các tiêu chí để xem xét, do đó, việc không đáp ứng tiêu chí này cũng không đương nhiên được kết luận rằng bên bán đã giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Do đó, tiến hành phân tích các tiêu chí còn lại sẽ góp phần hình thành cái nhìn tổng quát về vấn đề này
Trang 32KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong chương này, tác giả đã trình bày vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng trong trường hợp không có sự thỏa thuận giữa các bên thông qua xem xét tiêu chí mục đích sử dụng thông thường, cụ thể:
Thứ nhất, tác giả trình bày về thứ tự ưu tiên khi xem xét mục đích của hàng
hóa được quy định lần lượt tại điểm a và điểm b Điều 39 LTM 2005 (mục đích sử dụng thông thường và mục đích cụ thể);
Thứ hai, tác giả trình bày về mục đích sử dụng thông thường và hàng hóa cùng
chủng loại mà điểm a khoản 1 Điều 39 LTM 2005 đề cập đến;
Thứ ba, tác giả trình bày một số phán quyết của tòa án nước ngoài khi áp dụng
những quy định có tính chất tương tự của CISG để giải quyết vấn đề này
Thông qua Chương 2, việc xem xét tiêu chí mục đích sử dụng thông thường khi đánh giá tính phù hợp của hàng hóa đã được tác giả làm rõ, điều này góp phần vào bố cục tổng quát trong vấn đề xem xét tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng, đặc biệt là khi xem xét các tiêu chí tiếp theo tại Chương 3, 4 của khóa luận
Trang 33CHƯƠNG 3: HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI MỤC ĐÍCH CỤ THỂ
Mục đích của hàng hóa vẫn là một nội dung quan trọng trong hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên Đôi khi mong muốn của bên mua không chỉ là mục đích
sử dụng thông thường của hàng hóa mà cần có các tính năng khác nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất định của họ Khi đó, cũng căn cứ vào mục đích của hàng hóa nhưng được xem xét một cách cá biệt hơn, pháp luật thương mại Việt Nam đã có quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 LTM 2005 Cụ thể, pháp luật quy định: trường hợp các bên không có thỏa thuận về tiêu chí xác định tính phù hợp của hàng hóa, nếu hàng hóa không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng thì hàng hóa được xem là không phù hợp với hợp đồng
3.1 Mục đích cụ thể
Như đã phân tích, mục đích cụ thể có phạm vi hẹp hơn và được xem là trường hợp đặc biệt của quy định tại điểm a khoản 1 Điều này Trường hợp bên mua có yêu cầu hàng hóa gắn với một mục đích cụ thể mà mục đích này khác với mục đích thông thường thì áp dụng điểm b khoản 1 Điều 39 LTM 2005 mà không áp dụng điểm a khoản 1 Điều này
Điểm b khoản 1 Điều 39 LTM 2005 và Điều 35(2)(b) của CISG đề ghi nhận, mục đích cụ thể của hàng hóa là yếu tố cốt lõi để xác định hàng hóa của các bên có phù hợp với hợp đồng hay không Nghĩa là, trong quá trình đàm phán và giao kết hợp đồng, mục đích cụ thể của hàng hóa phải được bên mua đề cập đến, hoặc thuộc trường hợp bên bán phải biết Tìm hiểu về khái niệm “cụ thể”, Từ điển tiếng Việt chú giải,
cụ thể là “được xác định riêng biệt và rõ ràng, không chung, không khái quát”34 Thông qua khái niệm trên, có thể hiểu, mục đích cụ thể là một mục đích sử dụng rõ ràng, không mang tính trừu tượng, chung chung Mục đích cụ thể là một mục đích
mà căn cứ vào đó, ta có thể suy luận một cách hợp lý về (1) những yêu cầu cụ thể về hàng hóa, hoặc (2) những mục đích khác cụ thể hơn35 Khi đó, từ mục đích cụ thể, bên bán xác định được những yêu cầu về hàng hóa mà bên mua mong muốn nhưng chưa được ghi nhận trong hợp đồng nhằm thực hiện hợp đồng một cách hiệu quả Một ví dụ về vấn đề này là tranh chấp người bán Slovakia và người mua Séc36 đã được đề cập Cụ thể, trong đơn hàng của mình, người mua có thông báo cho bên bán biết về việc mua các thảm hãng ADOS để sử dụng trong phòng khách sạn, hành lang, cầu thang Tuy nhiên, Tòa án cho rằng, các thông tin mà người mua cung cấp chỉ
34 Viện ngôn ngữ học, tlđd (13), tr 220
35 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (8), tr 118
36 Tlđd (10)
Trang 34được dùng để tham chiếu đến kích thước của các vị trí sẽ đặt thảm chứ không thể suy
ra bất kỳ một yêu cầu nào cụ thể về đặc tính của thảm Do đó, không thể xem rằng người mua đã cung cấp mục đích cụ thể cho người bán biết theo Điều 35(2)(b) CISG, nên việc người bán giao hàng đúng hãng ADOS là giao hàng phù hợp với thỏa thuận của các bên theo Điều 35(1) CISG
Có thể nói, sự phù hợp với mục đích cụ thể của hàng hóa tại quy định của LTM
2005 và CISG được xem là “sự thỏa thuận không chính thức” giữa các bên, trong đó, bên mua đưa ra yêu cầu (thông báo hoặc tương tự) và bên bán không phản đối thì được xem là các bên thống nhất Tuy nhiên, “sự thống nhất” này đã không được các bên ghi nhận vào hợp đồng, do đó, đây là trường hợp được xem xét khi không có sự thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng giữa các bên Về bản chất, sự thông báo của bên mua và sự không phản đối của bên bán có thể xem là một phần của thỏa thuận, nhưng thỏa thuận này không chính thức và không được thể hiện cụ thể trong hợp đồng
3.2 Điều kiện áp dụng
Việc tồn tại của mục đích cụ thể trong quan hệ giữa các bên cần được chứng minh bằng một trong hai cách sau đây: bên mua đã thông báo cho bên bán biết, hoặc thuộc trường hợp bên bán phải biết Trong tình huống bên mua đã thông báo cho bên bán biết, việc thông báo này của bên mua có thể được thực hiện một cách trực tiếp (minh thị) hoặc gián tiếp (ngầm định) Theo tác giả, để chứng minh việc bên mua đã cho bên bán biết, cần chứng minh sự tồn tại của mục đích cụ thể thông qua việc bên mua đã gửi “tín hiệu” về vấn đề này cho bên bán và bên bán đã nhận được “tín hiệu”
đó Như đã đề cập, khi nhận được thông tin nhưng bên bán không phản hồi hoặc không có thái độ phản đối và vẫn tiến hành giao kết hợp đồng với bên mua, nghĩa là, bên bán có biết đến nhu cầu của bên mua về mục đích cụ thể của hàng hóa và chấp nhận chúng Trong tình huống thông tin về mục đích cụ thể của hàng hóa thuộc trường hợp bên bán phải biết, việc xem xét bên mua đã thông báo cho bên bán về vấn đề này hay chưa là không cần thiết
Mặt khác, bên mua có thể lựa chọn chứng minh: thông tin về mục đích cụ thể của hàng hóa thuộc trường hợp bên bán phải biết khi giao kết hợp đồng Trong cả hai trường hợp trên, việc cần phải chứng minh của bên mua được đánh giá là ít nghiêm ngặt hơn so với việc chứng minh các bên đã có thỏa thuận trong hợp đồng về vấn đề này.37 Do đó, nhìn chung, việc quy định điều khoản này sẽ tạo thêm trách nhiệm cho bên bán với một cơ chế dễ dàng hơn so với ghi nhận sự thỏa thuận chính thức, rõ ràng của các bên vào hợp đồng Dù vậy, cần phải đồng ý rằng, quy định này là phù hợp
37 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (8), tr 116
Trang 35trong trường hợp các bên không ghi nhận trong hợp đồng nhưng (1) bên mua đã có thông báo đến bên bán và bên bán đã nhận được thông tin, hoặc (2) thuộc trường hợp bên bán phải biết về thông tin đó khi giao kết với một bên mua cụ thể và một loại hàng hóa cụ thể Bởi lẽ, suy cho cùng, khi bên mua thể hiện ý chí và mong đợi của mình về hàng hóa, bên bán đã biết nhưng không phản đối hay có bất kỳ phản hồi nào
về tính bất khả thi trong việc đáp ứng nguyện vọng của bên mua
Đối với thông tin mà bên bán phải biết, đây được xem là quy định tiến bộ của pháp luật thương mại Mua bán hàng hóa chỉ là một trong các hoạt động thương mại được thực hiện tại Việt Nam và trên toàn thế giới, việc tạo một môi trường pháp lý hiệu quả để các cá nhân, tổ chức tham gia được xem là một trong những sứ mệnh quan trọng của những nhà lãnh đạo quốc gia và cả tổ chức quốc tế Hơn nữa, thương mại luôn được khuyến khích thực hiện trong trạng thái chủ động Vì lẽ đó, bên bán cần có trách nhiệm tìm hiểu về bên mua và cả loại hàng hóa mà các bên dự định mua bán Những thông tin này là cần thiết nhằm xác định nhu cầu của các bên khi đàm phán, thậm chí là tính khả thi của việc giao kết, thực hiện hợp đồng Hiểu rõ bản thân
và đối tác sẽ là một lợi thế khi tham gia hoạt động mua bán hàng hóa Điều này không những làm giảm thiểu rủi ro trong quá trình đàm phán hợp đồng mà còn tạo một môi trường thương mại chủ động và thiện chí, thúc đẩy phát triển hoạt động của chính các bên trong giao dịch, góp phần thúc đẩy sự lành mạnh, tích cực trong hoạt động thương mại của quốc gia và thế giới
Như vậy, để áp dụng quy định về mục đích cụ thể để xác định hàng hóa có phù hợp với hợp đồng hay không cần lưu ý và chứng minh các vấn đề sau: (1) sự tồn tại mục đích cụ thể của hàng hóa mà bên mua mong muốn; (2) nếu tồn tại mục đích nêu trên, thông tin này có thuộc trường hợp bên bán phải biết khi giao kết hợp đồng hay không; (3) nếu thông tin không thuộc trường hợp bên bán phải biết, bên mua đã có thông báo về vấn đề này cho bên bán hay chưa
Việc áp dụng quy định này được thể hiện ở Bản án số 16/2020/KDTM-ST ngày 29/10/2020 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương38 Theo đó, Công ty NT và Công ty QH đã
ký kết hợp đồng về việc “Cung cấp máy móc thiết bị và thi công hệ thống làm lạnh” Công ty NT đã khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc Công ty QH thanh toán theo hợp đồng Công ty QH cho rằng, Công ty NT cung cấp hàng hóa không đảm bảo chất lượng, cụ thể là chất lượng nước sau khi làm lạnh không trong suốt, có cặn, gỉ sét nên Công ty
38 Bản án số 16/2020/KDTM-ST ngày 29/10/2020 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta624961t1cvn/chi-tiet-ban-
an, truy cập ngày 07/6/2021
Trang 36QH không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty NT
Tòa án cho rằng, các bên đã không có thỏa thuận cụ thể về mục đích sử dụng
hệ thống máy làm mát là làm lạnh nước cất của thiết bị máy cắt laser, cũng như không
có yêu cầu về chất lượng nước sau khi làm lạnh phải đảm bảo độ trong suốt, không
có tạp chất, đáp ứng yêu cầu về độ dẫn điện thấp Xét về công năng cơ bản, mục đích thông thường của máy làm lạnh giải nhiệt là để làm lạnh nước Tại Bản tự khai ngày 13/8/2020, Công ty QH cũng xác định “thiết bị làm lạnh của Công ty NT vận hành bình thường nhưng sản phẩm nước sau khi làm lạnh không đạt chất lượng (không trong suốt sạch sẽ, mà có màu vàng đục, có cặn)” Do đó, theo Tòa án, phía Công ty NT đã thừa nhận mục đích làm lạnh nước của hàng hóa đã được đảm bảo
Do đó, Tòa án nhận định, việc Công ty QH cho rằng hàng hóa không đảm bảo chất lượng như thỏa thuận hợp đồng là không có cơ sở
Có thể thấy, Tòa án đã vận dụng điểm a khoản 1 Điều 39 LTM 2005 khi cho rằng mục đích sử dụng thông thường hàng hóa là làm lạnh nước đã được đáp ứng nên đưa ra kết luận hàng hóa được giao này là phù hợp với hợp đồng Tuy nhiên, theo tác giả, trong trường hợp này, Tòa án còn một số nội dung cần phải xem xét thêm
Thứ nhất, Công ty QH (bên mua) cho rằng Công ty NT (bên bán) đã đến khảo sát hiện trường và biết được mục đích mua bán máy làm lạnh của bên mua là để dùng cho máy cắt laser Tòa án cần xác minh tính chính xác và khách quan của nội dung này, bởi lẽ, trường hợp bên mua đã thông báo cho bên bán về mục đích sử dụng hàng hóa mà mình mong muốn thì Tòa án cần xem xét điểm b khoản 1 Điều 39 LTM 2005 thay vì điểm a khoản 1 Điều 39 LTM 2005 như trong bản án Trong trường hợp bên mua đã không có thông báo (kể cả công khai hay ngầm định) cho bên bán về vấn đề này, Tòa án cần xem xét việc lắp máy làm lạnh cho máy cắt laser có phải là thông tin phải biết của bên bán hay không? Thực tế, việc lắp ráp máy làm lạnh cần phải chú ý
về vấn đề kỹ thuật, do đó, việc máy làm lạnh phải lắp với thiết bị nào có hay không
có ảnh hưởng đến việc cài đặt và lắp máy? Ngoài ra, việc phải lắp đặt hệ thống làm lạnh với máy cắt laser có phải là một mục đích đủ cụ thể để bên bán suy luận ra các đặc điểm cần thiết của hàng hóa39 hay không? Làm rõ những nội dung trên sẽ xác định được việc áp dụng điều khoản nào là phù hợp trong các quy định tại khoản 1 Điều 39 LTM 2005
39 Trong trường hợp này, vì thiết bị kết nối với hệ thống làm lạnh là máy cắt laser chuyên dùng nước cất được đặt tại hiện trường của Công ty NT Trong đó, khi lắp máy làm làm lạnh với máy cắt laser này, việc dùng bầu nước bằng inox sẽ giúp đảm bảo độ trong suốt của nước, còn bầu nước bằng sắt sẽ làm cho nước bị màu vàng đục, gỉ sét, không còn trong suốt như ban đầu
Trang 37Thứ hai, xem xét về chất lượng của nước sau khi làm lạnh để đánh giá mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa trong trường hợp Tòa án cho rằng điểm b khoản 1 Điều 39 LTM 2005 không thể áp dụng vì mục đích mà bên mua đã đưa ra không đủ cụ thể hoặc không được thông tin đến bên bán/không thuộc trường hợp bên bán phải biết Tòa án đã cho rằng, vì các bên không thỏa thuận về vấn đề này nên khi máy làm lạnh có khả năng làm lạnh nước và bên mua không có phản hồi nào về vấn
đề “làm lạnh” này thì được xem là hàng hóa phù hợp với hợp đồng Theo tác giả, làm lạnh đúng là công năng của hàng hóa trong hợp đồng này, tuy nhiên, sản phẩm sau khi được làm lạnh phải có thể sử dụng Tính sử dụng được của hàng hóa (và cả sản phẩm được tạo ra bởi hàng hóa) cần được xem xét trong phạm vi của khái niệm “mục đích sử dụng thông thường” Do đó, Tòa án cần xem xét việc nước sau khi làm lạnh
có màu vàng đục, có cặn có còn khả năng sử dụng hay không Thực tế cho thấy, việc một nguồn nước không có màu vàng đục, có cặn được đưa qua một hệ thống làm lạnh và trở thành nguồn nước có màu vàng đục, có cặn, không trong suốt thường không phải là mong muốn của người sử dụng Do đó, theo tác giả, mục đích
sử dụng thông thường trong trường hợp này cần phải được hiểu bao gồm: (1) nước được làm lạnh và (2) nước có “độ tạp chất” không quá chênh lệch so với ban đầu
Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng, việc xem xét các tình tiết trong bản
án trên vẫn chưa được thực hiện một cách toàn diện, dẫn đến việc áp dụng pháp luật chưa phù hợp và thuyết phục
Xem xét thực tiễn xét xử khi áp dụng CISG, tranh chấp giữa người bán Argentina và người mua Đức40 là một ví dụ Theo đó, các bên đã ký hợp đồng mua bán than Sau đó, người mua yêu cầu người bán bồi thường thiệt hại vì cho rằng hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, liên quan đến mục đích cụ thể mà họ đã đề cập khi giao kết hợp đồng Tòa án nhận thấy rằng: theo những bằng chứng do người mua cung cấp, than có thể sử dụng tốt để nấu nướng, đó là mục đích sử dụng hàng hóa của người mua tại thời điểm ký kết hợp đồng Do đó, theo Điều 35(2), Tòa án đã kết luận hàng hóa phù hợp với hợp đồng và không chấp nhận yêu cầu của người mua
Ngoài ra, khi xem xét tiêu chí mục đích cụ thể, quy định của CISG đã ghi nhận một ngoại lệ về sự phụ thuộc của bên mua vào bên bán trong quá trình xác định và lựa chọn hàng hóa có tính phù hợp với mục đích cụ thể mà bên mua mong muốn Quy định này tại Điều 35(2) CISG được hiểu như sau: kể cả khi bên mua có thông báo cho bên bán biết về mục đích cụ thể của hàng hóa hoặc thông tin này thuộc trường hợp bên bán phải biết, “bên bán sẽ không được xem là giao hàng hóa không phù hợp với
40 Argentina 24 April 2000 Camara Nacional de Apelaciones en lo Comercial de Buenos Aires - Sala E, http://www.unilex.info/cisg/case/820, truy cập ngày 27/6/2021
Trang 38hợp đồng khi bên mua không dựa vào kỹ năng và nhận định của người bán để lựa chọn hàng hóa”41 Các nhà lập pháp cho rằng, tồn tại những tình huống mà ở đó, kiến thức, kinh nghiệm về hàng hóa nói chung và về đặc tính, mục đích sử dụng của hàng hóa nói riêng, được am hiểu bởi bên mua hơn là bên bán Khi đó, việc yêu cầu một bên không có nhiều kinh nghiệm (bên bán) phải đáp ứng tính phù hợp một cách khắt khe theo mục đích cụ thể mà bên có nhiều kinh nghiệm hơn (bên mua) đã thể hiện nhưng không được các bên ghi nhận trong hợp đồng, là một điều không khách quan
và cân bằng về quyền, nghĩa vụ giữa các bên Trong trường hợp này, bên mua có sự hiểu biết rộng hơn về hàng hóa và có mục đích cụ thể thì tính phù hợp của hàng hóa cần được bên mua đề cập và thỏa thuận chi tiết trong hợp đồng giữa các bên Đây mới là cách thức đàm phán và thực hiện hợp đồng hiệu quả, thay vì mong chờ một cách may mắn rằng bên bán vẫn có thể giao hàng phù hợp với mục đích cụ thể, dù không hiểu rõ về hàng hóa bằng bên mua Trường hợp bên mua không dựa vào sự tư vấn của bên bán để lựa chọn hàng hóa, việc yêu cầu bên bán giao hàng phù hợp với mục đích cụ thể của bên mua cũng được xem là không khách quan Trong khả năng truyền tải thông tin của mình, bên bán đã cung cấp cho bên mua những nội dung cần thiết về hàng hóa và tư vấn cho bên mua những hàng hóa có thể đáp ứng với mục đích cụ thể Việc bên mua lựa chọn theo sự đánh giá của chính mình mà không dựa trên tư vấn của bên bán sẽ làm thay đổi chủ thể chịu trách nhiệm về tính phù hợp của hàng hóa từ bên bán sang thành bên mua Như vậy, theo CISG, ngoại lệ của Điều 35(2)(b) được diễn đạt dưới góc độ xem xét tương quan giữa bên bán và bên mua trong việc am hiểu về hàng hóa trong hợp đồng
LTM 2005 tuy không quy định về ngoại lệ này tại điểm b khoản 1 Điều 39 nhưng thực tiễn xét xử đã tồn tại tình tiết tương tự được thể hiện tại Bản án số 05/2018/KDTM-ST ngày 12/4/2018 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Tòa án nhân dân Thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương42 Theo bản án, Công ty C
và Công ty K có các thỏa thuận mua bán các loại sơn, chất cứng, dung môi Thực hiện hợp đồng, Công ty C đã giao hàng nhưng Công ty K vẫn chưa thanh toán hết tiền hàng nên Công ty C khởi kiện, yêu cầu Công ty K thanh toán đủ số tiền hàng Theo Công ty K, trong số các mặt hàng mà Công ty C đã giao, có 1 loại sơn không đúng với nhu cầu của Công ty K Cụ thể, Công ty K muốn mua sơn trong nhà nhưng Công ty C đã tư vấn cho Công ty K mua loại sơn mã Z8A015-Sơn-HamChim #MS -
41 Nguyễn Thanh Phương Vy, tlđd (10), tr 42
42 Bản án số 05/2018/KDTM-ST ngày 12/4/2018 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Tòa án nhân dân Thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta112468t1cvn/chi-tiet-ban-
an, truy cập ngày 13/6/2021
Trang 39một loại sơn ngoài trời, dẫn đến việc Công ty K đã đặt và nhận được loại sơn ngoài trời mà không thể sử dụng được Công ty C đã tư vấn sai và làm Công ty K không đạt được mục đích mua hàng nên Công ty K đã không thanh toán hết số tiền hàng
Tòa án nhận định rằng mã hàng sơn ngoài trời nói trên là do Công ty K đặt và Công ty K cũng đã nhận được đúng loại sơn này Do đó, Tòa án kết luận Công ty C
đã giao hàng đúng theo thỏa thuận của các bên nên nghĩa vụ giao hàng đã được hoàn thành, Công ty K không thanh toán đủ tiền hàng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán
Có thể thấy, trong tranh chấp trên, bên mua đã nhận được sự tư vấn của bên bán trong quá trình lựa chọn sơn với mục đích cụ thể Tòa án cho rằng, bên mua đã đặt sơn và nhận được đúng mẫu sơn đã đặt nên việc giao hàng của bên bán là hoàn toàn phù hợp Trong trường hợp này, pháp luật Việt Nam không ghi nhận ngoại lệ như CISG trong quá trình xem xét mục đích cụ thể của hàng hóa mà bên mua mong muốn đạt được Do đó, không thể tiến hành xem xét việc lựa chọn hàng hóa của bên mua có hay không có dựa trên sự tư vấn của bên bán để xem xét vấn đề trách nhiệm giữa các bên Khi giải quyết vụ việc, Tòa án đã không tiến hành xác minh việc bên mua có đặt hàng dựa trên sự tư vấn của bên bán hay không, và nếu có thì sự tư vấn của bên bán có phù hợp với mục đích cụ thể mà bên mua đã đề cập hay không Việc pháp luật không quy định nêu trên đã hạn chế các vấn đề cần phải xem xét trong tình huống này, gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các bên
Một ví dụ khác về vấn đề này được thể hiện tại Bản án số 04/2019/KDTM-ST ngày 28/11/2019 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh43 Công ty Đ và Công ty S có ký các hợp đồng mua bán hợp kim sắt Nickel, Inox với quy cách xác định Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Đ đã hoàn thành nghĩa vụ của bên bán.44 Tuy nhiên, Công ty S không thanh toán theo thỏa thuận nên Công ty Đ khởi kiện, yêu cầu Công ty S thanh toán tiền hàng và lãi chậm trả
Công ty S cho rằng thời điểm nhận hàng hóa, Công ty S vì quá tin tưởng nên
đã không kiểm tra hàng hóa Ngày 04/12/2018, Công ty S đã chuyển các thùng hàng qua cho Công ty J để gia công cắt Nickel và Inox Ngày 07/12/2018, Công ty J dỡ các thùng Nickel và Inox ra để cắt thì phát hiện ra lỗi sai quy cách, bề mặt có vết hoen
gỉ và lồi lõm, có vết xước mép cuộn hoen gỉ Cùng ngày, Công ty S đã báo cho Công
43 Bản án số 04/2019/KDTM-ST ngày 28/11/2019 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, http://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta581604t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 13/6/2021
44 Theo Công ty Đ, công ty đã hoàn thành việc giao hàng Công ty S đã xem xét kỹ hàng hóa và kiểm tra hồ
sơ, Giám đốc Công ty S đã ký, đóng dấu đầy đủ vào các biên bản và gửi lại Công ty Đ Nội dung các biên bản đều kết luận vật tư theo tiến độ đưa đến xưởng phù hợp với yêu cầu của Công ty S
Trang 40ty Đ, đại diện Công ty Đ có đến và có chụp ảnh Công ty S đã trình bày về lỗi hàng nghiêm trọng, không thể sử dụng được và khiếu nại chất lượng hàng hóa, yêu cầu đổi lại hàng nhưng Công ty Đ không trả lời nên Công ty S không đồng ý thanh toán
Tòa án nhận định: Công ty Đ đã thực hiện nghiêm túc việc giao hàng mẫu cho Công ty S và Công ty S cũng đã kiểm tra hàng mẫu (thể hiện tại đơn giao hàng ngày 28/9/2018 đã ký đầy đủ bên giao và bên nhận), đồng thời Công ty Đ đã đổi hàng theo yêu cầu của Công ty S (thể hiện tại các đơn giao hàng ngày 16/10/2018 và 24/11/2018) Công ty S cũng đã kiểm tra hàng mẫu và xác nhận với Công ty Đ về việc hàng hóa đã đạt yêu cầu và giao hàng chính thức
Tại mục 6 của Hợp đồng đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ của Công ty S:
“phải kiểm tra nghiệm thu trước khi nhận hàng tránh trường hợp giao hàng không đúng chủng loại Nếu hàng giao không đúng quy cách chủng loại, Bên A được quyền không nhận trả lại Bên B và yêu cầu Bên B giao lại đúng chủng loại quy cách hàng
mà Bên A yêu cầu” Như vậy, vì hàng hóa phục vụ cho hoạt động sản xuất của Công
ty S nên để tránh sai sót, nhầm lẫn, Công ty S và Công ty Đ đã thỏa thuận rất rõ việc Công ty S phải kiểm tra kỹ trước khi nhận hàng Công ty Đ chỉ là đơn vị bán hàng hóa còn Công ty S là công ty chuyên về sản xuất, vì vậy, yêu cầu kỹ thuật và quy cách hàng hóa Công ty S là đơn vị nắm rõ, phải biết và đã cử cán bộ kiểm tra trước khi nhận hàng Do vậy, Công ty Đ đã hoàn toàn chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, bàn giao hàng theo đúng yêu cầu về chủng loại, chất lượng cho Công ty S Việc này cũng được cụ thể hóa bằng các biên bản nghiệm thu, biên bản quyết toán và thanh lý hợp đồng mà Công ty S đã ký với Công ty Đ Như vậy, nghĩa vụ của Công ty Đ đã được thực hiện đầy đủ theo đúng hợp đồng Từ những lập luận trên, Tòa án tuyên Công ty S phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hàng còn lại và tiền lãi chậm trả, đồng thời không chấp nhận yêu cầu phản tố về bồi thường thiệt hại của Công ty S
Trong tình huống trên, Tòa án đã đánh giá bên mua là chủ thể có nhiều kinh nghiệm hơn so với bên bán trong việc xem xét đặc tính của hàng hóa Chính vì điều này mà nghĩa vụ kiểm tra hàng hóa cần phải được bên mua thực hiện khi bên bán giao hàng Việc bên mua cho rằng “vì tin tưởng bên bán mà không kiểm tra hàng hóa” được Tòa án nhận định là không phù hợp và không thiện chí, trách nhiệm khi thực hiện hợp đồng Đồng thời, vì tính quan trọng của hàng hóa, các bên đã thỏa thuận
kỹ về nghĩa vụ kiểm tra hàng, do đó, Tòa án tuyên bên bán đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ giao hàng là hoàn toàn phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án
Nhìn chung, khi xem xét tiêu chí mục đích cụ thể của hàng hóa, các vấn đề được đặt ra như mức độ cụ thể của mục đích này, sự thông báo (minh thị/ngầm định) của bên mua cho bên bán, nghĩa vụ phải biết của bên bán trong các trường hợp đặc