Có thể kể đến đó là các công trình như Nguyễn Hải Long 2017, Các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội; Tạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
NGUYỄN DUY PHÚC
CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG THEO
LUẬT THƯƠNG MẠI 2005
CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG THEO
LUẬT THƯƠNG MẠI 2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN DUY PHÚC
Khóa: 2017 – 2021 MSSV: 1753801011150
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Ths NGUYỄN HOÀNG THÙY TRANG
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, đượcthực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Hoàng Thùy Trang, đảmbảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu thamkhảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 06 năm 2021
Tác giả
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CISG Công ước Viên năm 1980 về Hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế
PICC 2004 Nguyên tắc hợp đồng Thương mại
Quốc tế 2004 của UnidroitPLHĐKT 1989 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG………… 6
1.1 Khái niệm và đặc điểm của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 6
1.1.1 Khái niệm chế tài trong thương mại 6
1.1.2 Khái niệm chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 7
1.1.3 Đặc điểm chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 8
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam 11
1.2.1 Giai đoạn trước năm 1997 11
1.2.2 Giai đoạn từ sau năm 1997 12
1.3 Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 13
1.3.1 Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong trường hợp mà các bên đã thỏa thuận 13
1.3.2 Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng 14
1.3.3 Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng khi hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia 15
1.3.4 Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng khi hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng…… 16
1.4 Vấn đề giới hạn việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 17
1.5 Vấn đề gia hạn thực hiện nghĩa vụ 18
1.6 Hệ quả pháp lý của việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 21
1.7 Ý nghĩa của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 22
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG 24
2.1 Thực trạng pháp luật về điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 26
Trang 62.1.1 Thực trạng quy định pháp luật về điều kiện áp dụng chế tài buộc thựchiện đúng hợp đồng 26
2.1.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về điều kiện áp dụng chế tài buộc thực
2.3 Thực trạng pháp luật về mối quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp
đồng và một số chế tài khác trong thương mại 41
2.3.1 Thực trạng quy định pháp luật về mối quan hệ giữa chế tài buộc thực
hiện đúng hợp đồng và một số chế tài khác trong thương mại 41
2.3.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về mối quan hệ giữa chế tài buộc thựchiện đúng hợp đồng và một số chế tài khác trong thương mại 45
KẾT LUẬN 51 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Phi thương bất phú” đó là câu thành ngữ được đúc kết cho thấy vai trò quantrọng của thương mại đối với nền kinh tế Vai trò đó trước hết được thể hiện ở việcthương mại thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế thị trường có sựquản lý của Nhà nước Tiếp theo đó là thúc đẩy sản xuất, đẩy mạnh quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phân phối các nguồn lực của nền kinh tế đồng thời
là góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại Theo báo cáo tổng kết công tác năm
2020 và 5 năm 2016 - 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021 ngành Công Thương thìngành thương mại và dịch vụ đóng góp 1,487,625.6 tỷ đồng trên tổng số 3,847,181.6 tỷđồng (xấp xỉ 38.67% - chiếm tỉ trọng cao nhất trong tất cả các ngành kinh tế) cho GDPnăm 2020 theo giá so sánh và có tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016
– 2020 là 106.20%/năm1 Như vậy, thương mại là một trong những hoạt động quantrọng của nền kinh tế Việt Nam Hiện nay, để điều chỉnh hoạt động thương mại ởnước ta thì có các văn bản như LTM 2005, Luật Quản lý ngoại thương 2017,… còntrước đây thì có LTM 1997 hay xa hơn nữa là Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 điềuchỉnh các hợp đồng kinh tế
Do tính chất của các hoạt động thương mại là việc thực hiện các hoạt độngnhằm sinh lợi mà các hoạt động này có giá trị về kinh tế tương đối lớn, vì vậy để đảmbảo việc sản xuất, kinh doanh diễn ra một cách trôi chảy thì giữa các chủ thể (chủ yếu
là các thương nhân) sẽ thường tồn tại các hợp đồng thương mại Các hợp đồng thươngmại này có thể là hợp đồng đầu tư, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ,… Để các hợpđồng nói trên được thực thi một cách có hiệu quả, đảm bảo quyền lợi của các bên thamgia hợp đồng thương mại thì ngoài thiện chí thực hiện của các bên thì việc quy định cácchế tài trong thương mại cũng là một công cụ hữu hiệu Luật Thương mại 2005 ra đời
đã ghi nhận 6 loại chế tài trong thương mại và ghi nhận biện pháp mở do các bên tựthỏa thuận Một trong những chế tài thường được áp dụng nhiều nhất là chế tài buộcthực hiện đúng hợp đồng2 Tuy nhiên, do việc ra đời đã hơn 15 năm mà các yếu tố kinh
tế, xã hội luôn luôn vận động, biến đổi đã dẫn đến một số sự sai khác, bất cập giữa quyđịnh pháp luật và thực tiễn áp dụng của chế tài buộc thực hiện đúng
1Bộ Công Thương(2020), Phụ lục I “Báo cáo tổng kết công tác năm 2020 và 5 năm 2016 - 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021 ngành Công Thương”.
2Theo thống kê của tác giả, chỉ tính riêng đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa thì trong 04 tháng đầu năm
2021, trong tổng số 53 bản án, quyết định được công bố trên trang web [http://congbobanan.toaan.gov.vn/] (truy cập lần cuối ngày 22/5/2021) thì có tới 42 bản án, quyết định mà nội dung có đề cập đến việc một trong các bên đã áp dụng hoặc yêu cầu Tòa án áp dụng việc BTHĐHĐ Con số này cao hơn rất nhiều so với các chế tài Phạt vi phạm, Hủy bỏ hợp đồng (3 vụ), Đình chỉ hợp đồng (2 vụ).
1
Trang 8hợp đồng theo Luật Thương mại 2005 Từ những lí do kể trên, tác giả lựa chọn đềtài “Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Luật Thương mại 2005” để thựchiện công trình khóa luận.
2 Tình hình nghiên cứu
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là một trong những chế tài quan trọngcủa Luật Thương mại 2005 Trải qua thời gian dài được quy định trong các văn bảnpháp luật và được áp dụng trong thực tiễn thì việc nghiên cứu về chế tài này cũng đãđược thực hiện rất nhiều bởi nhiều tác giả khác nhau với nhiều công trình nghiêncứu Dưới đây tác giả khóa luận liệt kê một số công trình nghiên cứu nổi bật về chếtài buộc thực hiện đúng hợp đồng mà tác giả đã nghiên cứu để tham khảo trong việcthực hiện Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Ngọc Hiếu (2011), Buộc thực hiện đúng hợp đồng theo pháp luật thương mại, luận văn Ths Luật học, Đại học Luật TP HCM Đề tài này làm rõ cơ sở
lý luận, thực trạng pháp lý và áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trongthực tiễn xét xử Qua đó cung cấp kiến thức pháp lý cần thiết cho các bên trong quátrình thực hiện hợp đồng thương mại, góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật
về vấn đề này
Đặng Hoa Trang (2014), Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và pháp luật thương mại Việt Nam, luận văn Ths Luật học, ĐH Luật TP HCM Đề tài này nghiên cứu thực
trạng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo pháp luật thương mại Việt Nam vàquy định của Công ước Viên 1980 Đưa ra những so sánh làm cơ sở khoa học đềkiến nghị hoàn thiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng dưới khía cạnh giải thích
Mã Thị Bích Mai (2017), Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, Khóa luận tốt
nghiệp cử nhân Luật, trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Đề tài này làm rõ chế tàibuộc thực hiện đúng hợp đồng với cách tiếp cận những nội dung như khái niệm, đặcđiểm, cách thức áp dụng, các trường hợp không áp dụng, điều kiện áp dụng, chức
2
Trang 9năng, vai trò, quan hệ và nghiên cứu việc thực thi pháp luật về chế tài, từ đó đưa ranhững kiến nghị.
Đỗ Văn Đại (2010), Vấn đề không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam, đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ, TP.Hồ Chí Minh; Đỗ Văn Đại (2010), Các biện pháp xử lý việc thực hiện không đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam (sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu độc lập, chuyên sâu về chế tài buộc thựchiện đúng hợp đồng thì đề tài này còn được nghiên cứu với tư cách là một bộ phậncủa rất nhiều các công trình nghiên cứu khác nhau Có thể kể đến đó là các công
trình như Nguyễn Hải Long (2017), Các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội; Tạ Khánh Hà (2012), chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội;v.v…
Ngoài ra, còn nhiều công trình khác là các bài viết có liên quan được đăng trên
các tạp chí khoa học pháp lý như bài viết “Bất cập trong việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và tạm ngừng thực hiện hợp đồng trong thương mại – một số kiến nghị” của tác giả Nguyễn Thanh Tùng đăng trên tạp chí Luật học số 7/2015; Bài viết “Một số ý kiến liên quan đến các quy định về chế tài trong thương mại theo các quy định của Luật Thương mại” của tác giả Nguyễn Thị Khế đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 01(237) năm 2018; Nguyễn Thị Thanh Huyền (2021), “Bàn về cơ
sở tồn tại và vấn đề giới hạn phạm vi áp dụng của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng” được đăng tải trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3(395),2021 Bên cạnh đó là các bài viết trên internet có thể kể đến như “Một số quy định về chế tài của Luật Thương mại năm 2005 cần được hoàn thiện” (2016) của tác giả Lê Văn Sua mà chế tài BTHĐHĐ là một phần của bài viết; Hồ Ngọc Hiển, Đỗ Giang Nam, “Một số vấn đề về biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng theo pháp luật Việt Nam” Đồng thời rất nhiều công trình nghiên cứu khác là nguồn tài liệu phong phú tạo điều kiện để
tác giả có cơ hội hoàn thành tốt công trình khóa luận này
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Thông qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả mong muốn khóa luận có thể góp mộtphần quan điểm, phân tích, tổng hợp các chế định của pháp luật có liên quan, cơ sở lýluận về nhưng không giới hạn ở bản chất chế tài BTHĐHĐ, điều kiện áp dụng, cáchthức áp dụng, hệ quả pháp lý, mối quan hệ với các chế tài khác trong LTM nhằm giúpcác tổ chức, cá nhân quan tâm đến chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong LuậtThương mại có thêm nguồn tư liệu tham khảo trong việc thực hiện chế tài cũng
3
Trang 10như là hoàn thiện chế định nêu trên Bên cạnh đó là đóng góp một cái nhìn ở góc độthực tiễn để nhận biết các vướng mắc, bất cập liên quan đến chế tài buộc thực hiệnđúng hợp đồng để đưa ra những kiến nghị, hướng giải quyết trong tương lai.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Về đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các văn bảnquy phạm pháp luật, bản án, các quan điểm khoa học về chế tài buộc thực hiện đúnghợp đồng
Về phạm vi nghiên cứu: Vì chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là một vấn
đề pháp lý tương đối rộng, được ghi nhận, quy định ở trong nhiều văn bản pháp luật
ở trong nước như Bộ luật dân sự (BLDS) 2015, Luật Thương mại (LTM) 2005 và cácvăn bản mang tính quốc tế như Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế(CISG), Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế của Unidroit… Trong giới hạnphạm vi Khóa luận tốt nghiệp, tác giả tập trung nghiên cứu trong khuôn khổ LuậtThương mại 2005, có liên hệ với BLDS để làm sáng tỏ một số nội dung mà Luật
Thương mại không quy định Ngoài ra, nhằm mục đích hoàn thiện các quy định củaLuật Thương mại về chế tài thì tác giả cũng sẽ tham khảo một số quy định của cácvăn bản quốc tế như Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế và Bộnguyên tắc Unidroit 2004
5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Khóa luận được tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm hiện thực hóa mục tiêu nghiên cứu, trong đó bao gồm các phương pháp sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử được áp dụng xuyên suốt khóa luận nhằm tránh sự chủ quan, duy ý chí
- Phương pháp phân tích – tổng hợp nhằm làm rõ các vấn đề lý luận chung về đềtài được sử dụng ở trong chương 1 của khóa luận và dùng để làm rõ những quyđịnh còn vướng mắc, bất cập không phù hợp của các quy định trong chế tài khi
áp dụng trong thực tiễn được nêu ở chương 2
- Phương pháp phân tích – bình luận dùng trong quá trình xem xét các quy địnhpháp luật ở Chương 1 và các bản án, quyết định của tòa án, trọng tài thương mại
ở chương 2
- Phương pháp suy luận – logic: được sử dụng trong toàn bộ khóa luận, giúp tiếp cậncác quan điểm, thông tin liên quan có được trong quá trình đánh giá các ý kiến củacác tác giả, chuyên gia, các quyết định của Tòa án trong quá trình giải quyết các vụviệc liên quan Ngoài ra, phương pháp này còn giúp liên kết, xâu chuỗi các lập luận,thông tin trong các tài liệu tham khảo và thực tiễn Qua đó, tác giả có thể
4
Trang 11đưa ra những nhận định, đánh giá dưới góc độ cá nhân về mức độ thống nhất, đồng bộ về nhận thức và vận dụng pháp luật.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu được sử dụng trong toàn khóa luận Ở Chương
1 và Chương 2 tác giả có sự so sánh, đối chiếu giữa các quy định về chế tàiBTHĐHĐ trong pháp luật thương mại Việt Nam với các quy định về chế tài nàytrong pháp luật quốc tế; Ngoài ra, ở Chương 2 tác giả còn sử dụng phương pháp
so sánh để làm rõ sự khác biệt trong việc giải quyết các tranh chấp có liên quanđến chế tài BTHĐHĐ của các cơ quan tài phán, từ đó làm rõ sự không thống nhất trong thực tiễn xét xử
6 Bố cục tổng quát của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 02 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Tổng quan về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
5
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG
HỢP ĐỒNG 1.1 Khái niệm và đặc điểm của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 1.1.1 Khái niệm chế tài trong thương mại
Khi một hợp đồng thương mại được xác lập thì mong muốn hay ý chí banđầu của các bên là hướng đến việc hợp đồng được thực hiện để đạt được các mụcđích giao kết của mình, mục đích đó có thể là mục đích bán được hàng, cung cấpđược dịch vụ để thu lại một khoản tiền hay mua được hàng, sử dụng được dịch vụ,
… Tuy nhiên, thực tế quan hệ thương mại không phải lúc nào cũng sẽ thuận lợi diễn
ra như mong muốn ban đầu của các bên mà trong rất nhiều trường hợp thì bởi nhiều
lý do, các bên vi phạm những nghĩa vụ hợp đồng của mình, dẫn đến nguy cơ, thiệthại cho đối tác Vì vậy, chế tài thương mại ra đời như là phương pháp phòng ngừahay tạo niềm tin để các bên có thể tham gia vào quan hệ thương mại với ít sự lo lắngnhất có thể, bởi khi có sự vi phạm hợp đồng thì các chế tài có thể được áp dụng đểđảm bảo hợp đồng được thực hiện trên thực tế, khôi phục và bù đắp thiệt hại chobên bị vi phạm hay chấm dứt hoặc tạm chấm dứt việc thực hiện toàn bộ hoặc mộtphần hợp đồng
Luật thương mại Việt Nam 2005 sử dụng nhưng không định nghĩa thuật ngữ
“chế tài trong thương mại” Do đó, sau đây tác giả sẽ trình bày các khái niệm vềthuật ngữ này theo nhiều nguồn khác nhau từ đó rút ra khái niệm về chế tài trongthương mại
Về thuật ngữ “chế tài”, theo từ điển pháp lý Black, chế tài là hình phạt hoặc
các biện pháp thực thi khác được sử dụng để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật hoặccác quy tắc, quy định3
Ở Việt Nam, theo Từ điển Luật học, chế tài được định nghĩa là một trong ba
bộ phận cấu thành một quy phạm pháp luật (bao gồm giả định, quy định, chế tài).Trong đó, chế tài là bộ phận xác định các hình thức trách nhiệm pháp lý khi có hành
vi vi phạm với các quy tắc xử sự chung được ghi nhận trong phần quy định và giả định của pháp luật4
Trong khi đó, “thương mại” tuy không được định nghĩa trong LTM 2005 nhưng LTM 2005 có định nghĩa thuật ngữ “hoạt động thương mại” theo đó hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung
3Black, Henry Campbell (1990), Black’s Law Dictionary, 6th ed, St.Paun, MN.: West Publishing, p 1341 ISBN 0-314-76271 -X.
4Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb Tư pháp, tr.130.
6
Trang 13ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Mối quan hệ giữa Luật Thương mại và Luật Dân sự là mối quan hệ giữa luậtchuyên ngành và luật chung Xem xét BLDS 2005 thì không sử dụng thuật ngữ “Chếtài” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “trách nhiệm dân sự” để gọi các biện pháp xử lý hành
vi vi phạm hợp đồng Xem xét tiếp quy định của BLDS 2015 có sử dụng thuật ngữchế tài tại Điều 10 về giới hạn việc thực hiện quyền dân sự, theo đó trường hợp cánhân, pháp nhân lạm dụng quyền dân sự của mình gây thiệt hại cho người khác, viphạm nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện mục đích khác trái pháp luật thì Tòa án, cơquan có thẩm quyền khác có thể áp dụng chế tài khác do luật quy định Như vậy,theo BLDS thì “chế tài” là biện pháp xử lý hành vi lạm dụng quyền dân sự gây thiệthại cho người khác hoặc hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm nghĩa vụ dân sự.Bên cạnh đó, BLDS còn sử dụng thuật ngữ “trách nhiệm dân sự” để chỉ các biệnpháp xử lý hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể rút ra định nghĩa “chế tài trong thương mại” theo nghĩa rộng đó là những hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể thực hiện hành
vi vi phạm các quy định của pháp luật điều chỉnh các hoạt động thương mại phải gánhchịu Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì chủ thể áp dụng chế tài trong thương mại
có thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các bên trong quan hệ thương mại Cáchành vi vi phạm có thể là các hành vi vi phạm các quy định về quản lý trong lĩnh vựcthương mại như hành vi vi phạm nghĩa vụ đăng ký kinh doanh của thương nhân,
vi phạm về hàng hóa, dịch vụ kinh doanh,…(Điều 320 LTM 2005)
Ở phạm vi nghiên cứu của đề tài thì “chế tài trong thương mại” được hiểu theo
nghĩa hẹp, có thể hiểu đồng nhất với khái niệm chế tài đối với vi phạm hợp đồngthương mại, đó là những hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể thực hiện hành vi vi phạmhợp đồng thương mại phải gánh chịu Chủ thể áp dụng chế tài trong thương mại ở đây
là các bên trong hợp đồng mà cụ thể là bên bị vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và hành
vi vi phạm ở đây là các hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng như vi phạm nghĩa vụgiao hàng (Điều 34 LTM 2005), nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng (Điều 50 LTM2005), nghĩa vụ nhận hàng (Điều 56 LTM 2005),…
1.1.2 Khái niệm chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Điều 385 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Khoản 1 Điều 275
BLDS quy định một trong các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ là hợp đồng Mặt khác,
có thể hiểu rằng hợp đồng thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự Như
7
Trang 14vậy, hợp đồng thương mại là một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ hợp đồngthương mại Đây là sự cam kết của các bên khi tham gia vào quan hệ thương mại vớibên đối tác, theo đó khi tham gia vào quan hệ thương mại thì các bên phải tuân thủ cáccam kết của mình Bởi lẽ, khi tham gia giao kết hợp đồng thương mại thì mục đích củacác bên là đạt được lợi ích từ việc hợp đồng được thực hiện, bên bán hàng hóa, cungứng dịch vụ thì được thanh toán từ hàng hóa, dịch vụ mà họ cung cấp, bên mua hànghóa, nhận cung ứng dịch vụ thì có được hàng hóa, được thực hiện công việc Và nhưvậy, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng ra đời như là một hệ quả tất yếu của nguyêntắc Pacta sunt Servanda – nguyên tắc giao ước cần được tuân thủ5 Theo đó, ở góc độ lý
luận thì “buộc thực hiện đúng hợp đồng” là việc buộc bên vi phạm nghĩa vụ, cam kết
trong hợp đồng phải thực hiện các hành vi để hợp đồng được diễn ra đúng như cam kết,mong muốn của các bên - được thể hiện trong hợp đồng
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là một trong các chế tài trong thương mạiđược liệt kê ở Điều 292 LTM 20056 Pháp luật thương mại Việt Nam đưa ra định nghĩa
chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng như sau: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh” 7 Nhưvậy, theo định nghĩa này thì ta có thể rút ra các vấn đề chủ yếu như sau:
Thứ nhất, chủ thể áp dụng chế tài này là “bên bị vi phạm”, chủ thể bị áp dụngchế tài là “bên vi phạm”
Thứ hai, hình thức thực hiện chế tài bao gồm hai hình thức là “yêu cầu bên viphạm thực hiện đúng hợp đồng” và “sử dụng các biện pháp khác để hợp đồng đượcthực hiện”, bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh
1.1.3 Đặc điểm chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là một chế tài trong thương mại, do đó
nó có các đặc điểm chung của chế tài trong thương mại và đồng thời cũng có nhữngđặc điểm riêng của mình
5Đặng Hoa Trang (2014), Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế và pháp luật thương mại Việt Nam, luận văn Ths Luật học, Đại học Luật TP HCM, tr.16
6 Các chế tài được quy định tại Điều 292 LTM 2005 bao gồm: (1) Buộc thực hiện đúng hợp đồng, (2) Phạt vi phạm, (3) Buộc bồi thường thiệt hại, (4) Tạm ngừng thực hiện hợp đồng, (5) Đình chỉ thực hiện hợp đồng, (6) Huỷ bỏ hợp đồng và (7) Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế.
7 Khoản 1 Điều 297 LTM 2005
8
Trang 15Thứ nhất, chủ thể áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là các bên của hợp đồng thương mại
Đây là đặc điểm chung của các chế tài trong thương mại Đối với chế tàiBTHĐHĐ thì xuất phát từ định nghĩa của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng tạiđiều 297 LTM 2005, buộc thực hiện đúng hợp đồng là bên bị vi phạm yêu cầu bên
vi phạm… Như vậy, chỉ có chủ thể của hợp đồng cụ thể là chủ thể bị vi phạm mới
có quyền áp dụng chế tài này với chủ thể vi phạm hợp đồng Bên bị vi phạm có thể
áp dụng hay không áp dụng chế tài này bởi đây là quyền của họ
Ngoài bên bị vi phạm hợp đồng là chủ thể áp dụng chế tài BTHĐHĐ thì liệurằng Tòa án có là chủ thể áp dụng chế tài BTHĐHĐ hay không? Theo tác giả thìviệc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng của Tòa án trong trường hợp nàykhông phải là một quyền trong hợp đồng thương mại Bởi việc buộc bên vi phạmthực hiện đúng hợp đồng của Tòa án được thực hiện thông qua việc yêu cầu của bên
bị vi phạm, tức là Tòa án sẽ không có quyền này nếu bên bị vi phạm không thựchiện nó Như vậy, quyền buộc bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng của Tòa án chỉ
là quyền của chủ thể mang quyền lực nhà nước đứng ra xem xét, giải quyết tranhchấp, xem xét sự hợp pháp, hợp lý đối với vi phạm và yêu cầu của các bên Do vậy,không thể xem xét rằng chủ thể áp dụng chế tài BTHĐHĐ là Tòa án mà chỉ có thể
đồng giữ các bên tồn tại ở mối quan hệ mà các bên mong muốn ngay từ đầu – quan
hệ thương mại với các quyền, nghĩa vụ cụ thể, giúp các bên đạt được mục đích banđầu của mình khi tham gia giao kết chứ không phải là những lợi ích vật chất cóđược từ bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm Và do đó, đây là chế tài mà chứcnăng của nó là đảm bảo quan hệ hợp đồng được thực hiện như thỏa thuận Với chứcnăng trên, chế tài này thường là chế tài được ưu tiên áp dụng9
Đặc biệt, tinh thần ưu tiên áp dụng của chế tài BTHĐHĐ còn được thể hiệnthông qua thứ tự liệt kê các chế tài trong thương mại, theo đó, tại Điều 292 LTM 2005chế tài BTHĐHĐ được sắp xếp vị trí số một, ở trên các chế tài khác trong thương
8Đỗ Văn Đại (2010), Các biện pháp xử lý việc thực hiện không đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr.45
9Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật thương mại, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr 454
9
Trang 16mại10 Xem xét các quy định của CISG thì tại Điều 45 quy định các biện pháp bảo
hộ pháp lý trong trường hợp người bán vi phạm hợp đồng thì biện pháp đầu tiênđược đề cập đó là quyền yêu cầu người bán phải thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng(dẫn chiếu đến quy định yêu cầu người bán thực hiện đúng nghĩa vụ tại Điều 46CISG) hay biện pháp bảo hộ pháp lý khi người mua vi phạm hợp đồng tại Điều 61CISG thì biện pháp đầu tiên được đề cập cũng quy định dẫn chiếu đến quyền yêucầu người mua thực hiện đúng hợp đồng (Điều 62 CISG).11 Tương tự, Bộ nguyêntắc về hợp đồng của Unidroit 2004 (PICC 2004) cũng dành những quy định đầu tiêncho vấn đề buộc thực hiện hợp đồng12 Như vậy, có thể nhận thấy được tinh thần ưutiên áp dụng chế tài BTHĐHĐ trong LTM 2005 của Việt Nam và một số văn bảnquốc tế như CISG và PICC 2004
Ngoài ra, một biểu hiện của tinh thần ưu tiên áp dụng chế tài BTHĐHĐ trongpháp luật thương mại Việt Nam mà mục đích cốt lõi là bảo vệ quan hệ hợp đồng củachế tài BTHĐHĐ còn được thể hiện ở điều kiện áp dụng chế tài BTHĐHĐ (tác giả
sẽ phân tích chi tiết hơn tại phần 2.1.1 trong Chương 2 của khóa luận) là đơn giảnhơn rất nhiều so với các chế tài khác trong thương mại Khái quát thì có thể nhậnthấy điều kiện áp dụng chế tài BTHĐHĐ chỉ bao gồm hợp đồng bị vi phạm là hợpđồng có hiệu lực (i), tồn tại hành vi vi phạm hợp đồng (ii) và hành vi vi phạm khôngrơi vào các trường hợp miễn trách (iii) Trong khi đối với các chế tài khác, chẳnghạn chế tài phạt vi phạm thì ngoài các điều kiện nêu trên thì còn phải đáp ứng điềukiện là có thỏa thuận phạt vi phạm, hay chế tài hủy hợp đồng, đình chỉ thực hiệnhợp đồng thì điều kiện có hành vi vi phạm hợp đồng thì hành vi vi phạm phải là viphạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng hoặc vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện
áp dụng chế tài (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác), đối với chế tài buộcbồi thường thiệt hại thì yêu cầu có thiệt hại xảy ra trên thực tế là điều kiện bổ sung.Như vậy, có thể hiểu chế tài BTHĐHĐ có vị trí ưu tiên áp dụng so với các chế tàikhác trong thương mại và với tính chất ưu tiên áp dụng cùng với chức năng củamình thì chế tài BTHĐHĐ là chế tài cơ bản nhất để bảo vệ quan hệ hợp đồng –nhằm mục đích cuối cùng là để các bên đạt được mục đích giao kết hợp đồng
10 Nguyễn Đăng Duy (2012), Chế tài thương mại trong luật thương mại Việt Nam 2005, Luận văn
ThS Luật Kinh tế, trường Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.17
11 Nguyễn Ngọc Hiếu (2011), Buộc thực hiện đúng hợp đồng theo pháp luật thương mại, Luận văn
Ths Luật học, trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr.25
12 Điều 7.2.1 PICC 2004 thực hiện nghĩa vụ thanh toán “Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa
vụ thanh toán, bên có quyền có thể yêu cầu thanh toán”
Điều 7.2.2 PICC 2004 thực hiện nghĩa vụ phi tiền tệ: “Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ không phải là nghĩa vụ thanh toán, bên có quyền có thể yêu cầu nghĩa vụ phải thực hiện”
10
Trang 17Thứ ba, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng có thể áp dụng đồng thời với một số chế tài khác trong thương mại
Trong hoạt động thương mại, khi có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thì cácbên có thể áp dụng chế tài để đảm bảo được quyền, lợi ích chính đáng của mình.Đôi khi, việc chỉ áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là không đủ để bên
bị vi phạm đạt được những lợi ích, mục đích của mình và do đó chế tài này có thểđược áp dụng đồng thời với một số chế tài trong thương mại Tuy nhiên, không phảimọi chế tài trong thương mại đều có thể áp dụng đồng thời với thời chế tài buộcthực hiện đúng hợp đồng Cụ thể, LTM 2005 chỉ cho phép áp dụng đồng thời chế tàiBTHĐHĐ với chế tài phạt vi phạm, yêu cầu bồi thường thiệt hại mà không áp dụngđồng thời với các chế tài hủy hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉthực hiện hợp đồng và các biện pháp khác Về nguyên nhân, tác giả sẽ phân tích chitiết tại Mục 2.3 trong Chương 2 của khóa luận
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của chế tài buộc thực hiện đúng hợp
đồng trong pháp luật Việt Nam
1.2.1 Giai đoạn trước năm 1997
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam có thể coi làđược xuất hiện lần đầu tiên trong thời kỳ Pháp thuộc, được quy định thông qua một
số điều luật Cụ thể như sau:
Ở Miền Bắc, Điều 912 Bộ dân luật Bắc kỳ quy định như sau: “Nếu người bán không nộp trong thời hạn hai bên đã định với nhau, thì người mua có thể tùy ý xin thủ tiêu việc mua bán, hay là nếu sự chậm trễ tại người bán, thì có thể bắt phải giao nộp” Như vậy, trong Bộ dân luật Bắc kỳ 1931 có quy định về việc cho phép người mua được quyền buộc bên bán phải giao nộp vật bán.
Trong khi đó, trong Bộ Hoàng Việt Trung kỳ Hộ luật (Bộ luật Dân sự Trung kỳ
1936) cũng ghi nhận về chế tài BTHĐHĐ, theo đó, tại Điều thứ 1040 ghi nhận “Nếu người bán không giao-phó trong thời-hạn hai bên đã định với nhau, và nếu sự chậm giao ấy chỉ do lỗi người bán thời người mua có thể tùy-ý hoặc xin thủ-tiêu việc mua bán, hoặc bắt phải giao-phó vật đã bán” Như vậy, cũng giống như Bộ luật dân sự Bắc
kỳ 1931, bộ Hoàng luật Dân sự Trung kỳ cũng có quy định về chế tài
BTHĐHĐ
Sau cách mạng Tháng tám 1945 những quy định về chế tài buộc thực hiệnđúng hợp đồng được tiếp tục sử dụng cùng với các bộ luật dân sự kể trên cho đếnnăm 1959 Tại miền bắc Việt Nam, ngày 10 tháng 7 năm 1959 Tòa án tối cao ra chỉ
11
Trang 18thị số 772/TATC để “đình chỉ việc áp dụng luật pháp cũ của phong kiến đế quốc”13.Trong thời kì này, tuy có các văn bản về chế tài thương mại song chế tài buộc thựchiện đúng hợp đồng đã không còn được quy định.
Ở Miền Nam, trong Bộ luật Thương mại 1972 Việt Nam Cộng Hòa, chế tàiBTHĐHĐ được quy định tại Điều 353 với nội dung, “nếu đã có giao ước mà ngườibán không giao hàng thì người mua, sau khi đốc thúc vô hiệu bằng văn thư ngoại tưpháp, có thể mua một số hàng cùng loại để thay thế và xin Tòa buộc người bán phảichịu phí tổn cùng giá sai biệt”14
Đến giai đoạn những năm từ 1989 đến trước 1997 thì các hợp đồng kinh tế đượcđiều chỉnh bởi Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 (PLHĐKT 1989) Theo Pháp lệnh nàythì chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được quy định tại các Điều 31, Điều 32, Điều
3415 Theo đó, buộc thực hiện đúng hợp đồng được áp dụng khi sản phẩm, hàng hóakhông đúng chất lượng, công việc không đúng yêu cầu kỹ thuật đã thỏa thuận (Điều31); Khi phát hiện sai sót thì các bên có quyền thỏa thuận thay thế việc sửa chữa sai sótbằng cách giảm giá hoặc đổi lấy sản phẩm, hàng hóa khác (Điều 32); Khi một bênkhông hoàn thành sản phẩm, hàng hóa, công việc một cách đồng bộ theo thỏa thuận thìbên bị vi phạm có quyền không nhận sản phẩm, hàng hóa, công việc đó cho đến khiđược hoàn thành đồng bộ (Điều 34) Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn ở mức sơkhai, chưa hoàn thiện Chẳng hạn, tại Điều 32 PLHĐKT 1989 không quy định về việcmột bên có quyền đơn phương thay thế việc sửa chữa sai sót bằng cách đổi lấy sảnphẩm, hàng hóa khác mà việc này phải được thực hiện thông qua quá trình thỏa thuận.Việc quy định như vậy có thể dẫn đến sự chậm trễ, gây ra thiệt hại và có thể nhận xét là
“thiếu linh động” khi mà để cho thiệt hại xảy ra sau đó yêu cầu thực hiện các chế tàikhác là phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại
1.2.2 Giai đoạn từ sau năm 1997
Sau một thời gian thực thi thì Luật Thương mại 1997 (LTM 1997) ra đời thaythế PLHĐKT 1989, đánh dấu một bước phát triển về việc điều chỉnh các quan hệthương mại Đặc biệt về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, LTM 1997 dànhkhoản 1 Điều 223 để định nghĩa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng16
13 Luật dân sự Việt Nam, trang web: [https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2007/11/16/2487/], truy cập lần cuối ngày 13/5/2021
14 Mã Thị Bích Mai (2017), Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo luật thương mại 2005, Khóa
luận tốt nghiệp cử nhân luật, trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr.8
15 Đặng Hoa Trang, tlđd (5), tr 14
16 Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu phí tổn phát sinh.
Trang 19Sau bảy năm được thực thi, LTM 1997 đã có nhiều đóng góp cho việc điềuchỉnh hoạt động thương mại nói chung và các chế tài trong thương mại cụ thể là chế tàibuộc thực hiện đúng hợp đồng nói riêng Tuy nhiên, nhằm đáp ứng hơn nữa các yêucầu cho công cuộc phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế thì Luật Thương mại 2005 (LTM2005) ra đời, bên cạnh việc kế thừa LTM 1997 thì LTM 2005 bổ sung rất nhiều quyđịnh mới, trong đó là các quy định về chế tài trong thương mại và đặc biệt là sự hoànthiện đối với chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng hơn so với quy định của LTM 1997.Đơn cử như việc quy định trong LTM về cách thức áp dụng chế tài BTHĐHĐ, trườnghợp bên vi phạm giao hàng kém chất lượng, cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì
theo LTM 1997 bên vi phạm phải “tìm cách loại trừ khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ”, trong khi đó LTM 2005 có sự hoàn thiện hơn khi loại bỏ cụm từ “tìm cách” trong câu trên Như vậy theo LTM 2005 nghĩa vụ của bên vi phạm không chỉ giới hạn ở việc “tìm cách” để khắc phục vi phạm mà nghĩa vụ của họ phải là loại trừ
khuyết tật của hàng hóa, thiếu sót của dịch vụ
1.3 Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Theo Điều 294 LTM 2005 quy định về 04 trường hợp mà bên vi phạm nghĩa
vụ hợp đồng sẽ được miễn trách nhiệm Quy định này cũng đồng thời áp dụng đốivới việc miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng bởi vì lúc này bên viphạm hợp đồng có thể viện dẫn các quy định về miễn trách nhiệm để từ chối yêucầu buộc thực hiện đúng hợp đồng của bên bị vi phạm Cụ thể các trường hợp đượcmiễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng sẽ được phân tích dưới đây
1.3.1 Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong trường hợp
mà các bên đã thỏa thuận
Một trong những nguyên tắc của pháp luật thương mại đó chính là nguyên
tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận Theo đó “các bên có quyền tự do thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó” Tại điểm a khoản 1 Điều 294 LTM 2005 quy định bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm khi xảy ra trường hợp miễn trách
nhiệm mà các bên đã thỏa thuận Như vậy, bằng việc quy định thỏa thuận là mộttrong các trường hợp miễn trách nhiệm khi có sự vi phạm hợp đồng thương mại haytrường hợp miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng đã thể hiện sự tôntrọng và bảo hộ quyền tự do thỏa thuận của Nhà nước trong lĩnh vực thương mại
Phân tích quy định về trường hợp miễn trách nhiệm do các bên đã thỏa thuận
có những điểm cần lưu ý như sau:
13
Trang 20Thứ nhất, điều kiện để miễn trách nhiệm là các bên “đã” có thỏa thuận về
việc miễn trách nhiệm nếu xảy ra tình huống như các bên đã thỏa thuận Như vậy,xét về mặt thời điểm thì việc thỏa thuận này phải xảy ra trước khi bên bị vi phạm ápdụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Thứ hai, như thế nào được coi là “đã có thỏa thuận” về việc miễn trách
nhiệm hay hình thức của thỏa thuận này là gì? Pháp luật thương mại hiện không cóquy định rõ ràng về hình thức của thỏa thuận vấn đề miễn trách nhiệm này Tuynhiên, tham khảo quy định tại Điều 24 LTM 2005 về hình thức của hợp đồng muabán hàng hóa, Điều 74 LTM 2005 về hình thức của hợp đồng dịch vụ thì những điềuluật này quy định nếu không có quy định cụ thể tại các văn bản pháp luật khác thìcác hợp đồng này có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lậpbằng hành vi cụ thể Xét về thỏa thuận trường hợp miễn trách nhiệm thì đây có thểcoi là một nội dung hợp đồng và do đó nó có thể được thể hiện dưới hình thức vănbản, lời nói hay hành vi cụ thể
Đối với hình thức văn bản thì thỏa thuận về trường hợp miễn trách nhiệmhay miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ có thể được ghi nhận trong văn bản hợp đồnghay phụ kiện hợp đồng (như phụ lục hợp đồng) với tư cách là bộ phận không táchrời của hợp đồng hay trong một văn bản mà pháp luật chuyên ngành quy định là tàiliệu kèm theo hợp đồng17
Đối với hình thức lời nói hay hành vi cụ thể thì việc chứng minh có tồn tạithỏa thuận về trường hợp miễn trách nhiệm hay trường hợp không áp dụng chế tàiBTHĐHĐ là vấn đề không dễ Trên thực tế cũng rất ít khi xảy ra trường hợp có sựthỏa thuận về việc miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ bằng lời nói hay hành vi cụ thểbởi lẽ những hợp đồng thương mại được giao kết bằng lời nói hay hành vi cụ thểthông thường có giá trị không quá lớn mà mang tính chất nhỏ lẻ do đó các bên sẽthường bỏ qua việc thỏa thuận những vấn đề như chế tài, miễn trách nhiệm…
1.3.2 Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong trường hợp
xảy ra sự kiện bất khả kháng
Sự kiện bất khả kháng không được định nghĩa trong LTM 2005 Do đó, theonguyên tắc áp dụng luật chung vào giải quyết những vấn đề luật chuyên ngành khôngquy định được ghi nhận tại khoản 3 Điều 4 LTM 200518 thì tác giả sẽ viện dẫn quy định
của BLDS để định nghĩa Theo quy định của BLDS 2015, “sự kiện bất khả
17 Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, tlđd (9), tr.442
18 Khoản 3 Điều 4 LTM 2005: “ 3 Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự.”
14
Trang 21kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”19.LTM 2005 liệt kê sự kiện bất khả kháng vào một trong 04 trường hợp miễn trách nhiệmđối với hành vi vi phạm Và vì vậy việc áp dụng chế tài hay cụ thể là chế tài BTHĐHĐkhi hành vi vi phạm của bên vi phạm là do xảy ra sự kiện bất khả kháng là không đúngquy định của pháp luật Một số sự kiện bất khả kháng có thể kể đến đó là thiên tai, hỏahoạn, chiến tranh, đình công… Tuy nhiên, để được miễn trách nhiệm khi vi phạm hợpđồng hay miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ thì các sự kiện mà các bên cho rằng đó là sựkiện bất khả kháng thì phải thỏa mãn những điều kiện sau đây:
(i) Sự kiện xảy ra một cách khách quan;
(ii) Sự kiện xảy ra không thể lường trước được;
(iii) Sự kiện xảy ra không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện
pháp cần thiết và khả năng cho phép và;
(iv) Sự kiện nêu trên gây cản trở dẫn đến việc bên vi phạm không thể thực
hiện hay không thể thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng
1.3.3 Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng khi hành vi vi phạm
của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia
Bên vi phạm được giải phóng khỏi trách nhiệm khi việc vi phạm hợp đồng củamình xuất phát từ chính lỗi của bên kia.20 Như vậy, khi một bên vi phạm hợp đồngnhưng nguyên nhân là hoàn toàn do lỗi của bên còn lại thì bên vi phạm hợp đồng cóquyền từ chối việc bên bị vi phạm áp dụng chế tài BTHĐHĐ Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra
là xác định “lỗi của bên kia” là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp dẫn đến việc không
thực hiện đúng hợp đồng để bên vi phạm viện dẫn quy định miễn trách nhiệm hay từchối thực hiện chế tài? LTM 2005 không có câu trả lời song cách quy định chung là lỗithì có thể hiểu lỗi ở đây là bao gồm cả lỗi là nguyên nhân trực tiếp và lỗi là nguyênnhân gián tiếp dẫn đến việc không thực hiện đúng hợp đồng Đối với trường hợp lỗi lànguyên nhân trực tiếp thì câu trả lời khá rõ ràng, bởi vì ở đây quan hệ nguyên nhân –
kết quả trực tiếp dẫn đến việc vi phạm thì “theo lẽ công bình người gây ra việc không thực hiện đúng hợp đồng không thể viện dẫn việc này để đem lại lợi ích cho mình” 21 Trong khi đó, trường hợp lỗi của bên bị vi phạm là nguyên nhân gián tiếp của việc
không thực hiện đúng hợp đồng thể hiện ở các hình thức như vi
Trang 22phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ và từ việc này dẫn đến việc bên vi phạmhợp đồng không thể thực hiện đúng hợp đồng22.
Việc miễn trách nhiệm hay miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ trong trường hợpnày thường gặp ở tình huống một bên vi phạm nghĩa vụ của mình bên còn lại ápdụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng thì việc áp dụng chế tài tạm ngừng hợpđồng của bên bị vi phạm là một sự vi phạm hợp đồng nhưng sự vi phạm này xuấtphát từ lỗi của bên kia
LTM 2005 và cả BLDS 2015 đều quy định trường hợp miễn trách nhiệm do lỗi
“hoàn toàn” của bên kia Như vậy, điều kiện để bên vi phạm hợp đồng viện dẫn quy định này là lỗi phải “hoàn toàn” của bên bị vi phạm nhưng lại thiếu quy định về việc lỗi xuất phát từ cả hai bên hay lỗi “một phần” của bên bị vi phạm Theo tác giả, nên
theo hướng quy định miễn trách nhiệm hay miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ tương ứngvới mức độ, phạm vi lỗi của bên có lỗi dẫn đến hành vi vi phạm của bên còn lại
1.3.4 Miễn áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng khi hành vi vi phạm
của một bên do thực hiện quyết định của của cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng
LTM 2005 quy định một trong các trường hợp miễn trách nhiệm là khi hành
vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩmquyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng Căn cứ quantrọng để bên vi phạm được miễn trách nhiệm này là nhằm mục đích đảm bảo tínhquyền uy phục tùng của mệnh lệnh hành chính Khi một quyết định hành chính
được ban hành được đưa ra, bên vi phạm trong hợp đồng có thể bị cấm đoán thựchiện một hành vi (như xuất khẩu, nhập khẩu) hoặc buộc phải thực hiện một hành vi(như nộp hàng hóa cho quyết định trưng thu) Ở đây, bên vi phạm hợp đồng chỉ có hailựa chọn hoặc là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, tuân theo quyết định hành chính của cơquan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc là làm trái quyết định của cơ quan nhànước nhưng thực hiện đúng hợp đồng23 Trên tinh thần thượng tôn pháp luật, bất kểquyết định hành chính đó là hợp pháp hay không thì cách xử sự phải được ưu tiên đó là
vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và tuân theo quyết định hành chính nhà nước LTM
2005 quy định theo hướng khuyến khích các bên xử sự theo hướng tuân theo quyếtđịnh hành chính nhà nước bằng việc quy định một trường hợp miễn trách nhiệm là
22 Đỗ Văn Đại, tlđd (8), tr.222
23 Nguyễn Thị Như Anh (2018), Miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng theo Luật Thương mại
2005 và Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân
luật,
Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr.32
Trang 23do thi hành quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mặc dù có thể coi trườnghợp này như là một trường hợp của việc miễn trách do sự kiện bất khả kháng.
Phân tích quy định về miễn trách nhiệm hay miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐkhi hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhànước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợpđồng có thể thấy để bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng viện dẫn quy định này nhằm từchối việc thực hiện chế tài BTHĐHĐ thì cần thỏa mãn những điều kiện sau:
(i) Nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm của một bên là do thực hiện
quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
(ii) Các bên không thể biết được quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền này tại thời điểm giao kết hợp đồng
Tóm lại, Điều 294 LTM 2005 nêu ra 04 trường hợp bên vi phạm nghĩa vụ hợpđồng được miễn trách nhiệm, đồng thời đây cũng là 04 trường hợp mà bên vi phạm cóthể viện dẫn để từ chối tuân thủ chế tài BTHĐHĐ Tuy nhiên, để được áp dụng quyđịnh miễn trách nhiệm thì bên vi phạm phải thực hiện các hành vi để chứng minh
vi phạm của mình rơi vào các trường hợp miễn trách nhiệm và chứng minh với bên
bị vi phạm về trường hợp miễn trách nhiệm của mình24 Ngoài ra, bên vi phạm
nghĩa vụ hợp đồng còn có các nghĩa vụ thông báo cho bên bị vi phạm “bằng văn bản” về trường hợp miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra Đồng thời
khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm cũng phải có nghĩa vụthông báo ngay cho bên kia biết, nếu không thông báo hoặc thông báo không kịpthời thì phải bồi thường thiệt hại
1.4 Vấn đề giới hạn việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Như đã phân tích ở trên, hiện nay LTM Việt Nam có 04 trường hợp về việc giớihạn áp dụng chế tài BTHĐHĐ Ngoài ra, tại Điều 420 BLDS 2015 còn có một quy định
về việc thực hiện hợp đồng khi có hoàn cảnh thay đổi cơ bản xảy ra Theo đó, khi có hoàn cảnh thay đổi cơ bản xảy ra bên có lợi ích bị ảnh hưởng có thể yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý Trường hợp các bên không thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định hoặc sửa đổi hợp đồng để cân bằng lợi ích giữa các bên Tuy nhiên, tại khoản 4 Điều 420 BLDS 2015 lại quy định“Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo
24 Khoản 2 Điều 294 và khoản 3 Điều 295 LTM 2005
17
Trang 24hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Như vậy, mặc dù tinh thần tại Điều
420 BLDS 2015 là tiến bộ song khó có thể vận dụng vào thực tiễn miễn áp dụng chếtài BTHĐHĐ
Nhìn chung, những quy định về việc giới hạn áp dụng chế tài BTHĐHĐ nêutrên là vẫn còn nhiều thiếu sót, mang hơi hướng của việc bảo vệ bên bị vi phạm nghĩa
vụ hợp đồng quá mức và đặc biệt ở góc độ so sánh luật thì số lượng cũng như phạm
vi các trường hợp giới hạn áp dụng chế tài BTHĐHĐ là còn khiêm tốn, chưa tính đếncác trường hợp đặc biệt để cân bằng lợi ích cũng như hậu quả kinh tế của các bên.Tham khảo các quy định quốc tế chẳng hạn như Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mạiquốc tế của Unidroit 2004 thì việc giới hạn áp dụng chế tài BTHĐHĐ đối với các nghĩa
vụ không phải là nghĩa vụ thanh toán không chỉ dừng lại ở các trường hợp (i) và (ii) màcòn mở rộng ra ở các trường hợp (iii), (iv) và (v) dưới đây25:
(i) Không thể thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hay trên thực tế(ii) Việc thực hiện nghĩa vụ hoặc, nếu có thể, các phương thức thực hiện
nghĩa vụ đòi hỏi cố gắng hoặc những khoản chi phí bất hợp lý
(iii) Bên có quyền có thể nhận một cách hợp lý được việc thực hiện nghĩa vụ
bằng phương pháp khác
(iv) Việc thực hiện mang tính tuyệt đối cá nhân; hay
(v) Bên có quyền không yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn hợp
lý kể từ thời điểm bên này đã biết hoặc lẽ ra phải biết về việc không thựchiện nghĩa vụ
Tóm lại, để đảm bảo sự cân bằng lợi ích của cả bên vi phạm và bên bị viphạm, tránh gây hậu quả nặng nề bất hợp lý cho bên vi phạm hợp đồng thì theo tácgiả nên thu hẹp phạm vi áp dụng chế tài BTHĐHĐ theo xu hướng quốc tế, mà cụthể là mở rộng các trường hợp giới hạn việc áp dụng chế tài BTHĐHĐ, có thể thamkhảo các quy định của Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế về vấn đề này
1.5 Vấn đề gia hạn thực hiện nghĩa vụ
Để áp dụng chế tài BTHĐHĐ, LTM 2005 cho phép bên bị vi phạm có thể “giahạn một thời gian hợp lý để bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng” Tuy nhiên, thế
nào là một khoảng thời gian “hợp lý” để bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng?
LTM 2005 không quy định cụ thể và việc không quy định đó cũng là điều dễ hiểu Bởi
lẽ, tùy từng quan hệ hợp đồng mà khoảng thời gian này sẽ khác nhau và
25 Điều 7.2.2 PICC 2004, bản dịch được tham khảo từ trang web:
[http://tailieuxnk.com/upload/sanpham/thumb/Tai-lieunguyen-tac-unidroit-ve-hop-dong-thuong-mai-317191556747.pdf], truy cập lần cuối ngày 28/5/2021
18
Trang 25hợp lý ở quan hệ hợp đồng này có thể sẽ không hợp lý ở quan hệ hợp đồng khác, vìvậy khó có thể cô đọng hay điều chỉnh tất cả các trường hợp để đảm bảo tính ổnđịnh lâu dài của luật Đối với một số quan hệ hợp đồng mà đối tượng là hàng hóamang tính chất mùa, vụ, hay công việc mang tính chất thời điểm thì bên bị vi phạm
có xu hướng rút ngắn khoảng thời gian gia hạn này Việc gia hạn thời gian thườngdựa vào thiện chí của bên bị vi phạm cũng như là sự đánh giá, cân nhắc của họ khixét đến lợi ích của việc hợp đồng được thực hiện Trong khi đó, đánh giá mức độ
“hợp lý” của khoảng thời gian nêu trên nếu xảy ra tranh chấp dựa vào sự đánh giácủa cơ quan giải quyết tranh chấp trên cơ sở cân nhắc các yếu tố khác nhau chẳnghạn như tính chất của đối tượng hợp đồng, mức độ vi phạm hợp đồng,… Có ý kiếncho rằng việc gia hạn một thời gian để bên bị vi phạm khắc phục vi phạm và nếu hếtthời gian ấn định mà bên vi phạm không khắc phục vi phạm thì bên bị vi phạm cóquyền áp dụng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện khiến cho bản chấtchế tài BTHĐHĐ ở đây chuyển thành “việc các bên thỏa thuận gia hạn thời gianthực hiện nghĩa vụ hợp đồng”26 Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả thì bản chấtchế tài này không phải là “thỏa thuận” gia hạn thời gian nghĩa vụ hợp đồng mà việc
“gia hạn” của bên bị vi phạm chỉ là một hành vi pháp lý đơn phương, thể hiện yêucầu, mong muốn bên vi phạm khắc phục vi phạm hợp đồng của mình Ngoài ra, nếuviệc gia hạn mang tính chất “thỏa thuận” lại thời gian nghĩa vụ hợp đồng như quanđiểm nêu trên thì sẽ kéo theo việc thay đổi nội dung của hợp đồng về nghĩa vụ củacác bên được xác lập trước đó, trái với bản chất và hệ quả pháp lý của việc áp dụngchế tài BTHĐHĐ (nội dung được trình bày tại Mục 1.6 của khóa luận)
Bên cạnh đó, quy định hiện nay của LTM 2005 tại Điều 299 LTM sử dụng cụm
từ “trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng” theo tác giả là không hợp lý, dễ dẫn đến sự khó hiểu khi áp dụng LTM nên sử dụng cụm từ “trong thời gian gia hạn thực hiện nghĩa vụ” để đồng nhất với quy định tại điều luật trước đó
về quy định gia hạn thực hiện nghĩa vụ hoặc sử dụng cụm “trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định” để phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 299 LTM 2005 nhằm giúp
việc xác định thời gian này dễ dàng hơn Việc quy định theo hướng này cũng là phùhợp với các quy định quốc tế, chẳng hạn là với Điều 47 CISG27 khi mà khoản 1
26 Lê Hồng Hạnh (2002), Những nền tảng pháp lý cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng Xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Hà Nội, tr.26
27Điều 47 CISG: “1 Người mua có thể cho người bán thêm một thời hạn bổ sung hợp lý để người bán thực hiện nghĩa vụ.
2 Trừ phi người mua đã được người bán thông báo rằng người bán sẽ không thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời hạn bổ sung đó, người mua không được sử dụng đến bất cứ biện pháp bảo hộ pháp lý nào trong trường hợp người bán vi phạm hợp đồng trước khi thời hạn bổ sung kết thúc Tuy nhiên ngay cả trong trường hợp này người mua cũng không mất quyền đòi bồi thường thiệt hại do người bán chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình.”
19
Trang 26Điều 47 quy định người mua có thể gia hạn một khoảng thời gian bổ sung hợp lý đểbên bán thực hiện nghĩa vụ và khoản 2 quy định người mua không được áp dụng
biện pháp nào khác “trong thời hạn bổ sung đó” Đồng thời cũng phù hợp với cách
quy định của PICC 2004 khi mà tại khoản 1 Điều 7.1.5 của PICC 2004 quy định
“bên có quyền có thể thông báo gia hạn thêm cho bên có nghĩa vụ một thời hạn bổ
sung” và tại khoản 2 Điều này quy định “trong suốt thời gian trước khi thời hạn này kết thúc” 28 bên bị vi phạm không được viện dẫn các biện pháp nào khác để giảiquyết (trừ biện pháp ngừng thực hiện hợp đồng hoặc buộc bồi thường thiệt hại).Như vậy cả CISG và PICC 2004 đều theo hướng quy định không áp dụng biện phápnào khác (trừ buộc bồi thường thiệt hại và tạm ngừng thực hiện hợp đồng) trong
“thời gian bổ sung” để bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ
Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 299 LTM 2005 cho phép bên bị vi phạm được ápdụng các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi của mình trong trường hợp bên vi phạmkhông thực hiện chế tài BTHĐHĐ trong thời gian ấn định – thời gian được gia hạn
để thực hiện nghĩa vụ Như vậy, khi hết thời hạn trên mà bên vi phạm không khắcphục vi phạm thì liệu rằng bên bị vi phạm sẽ được áp dụng ngay các chế tài khácmặc cho không đủ điều kiện để áp dụng các chế tài này (như điều kiện vi phạm cơbản hợp đồng đối với chế tài hủy hợp đồng, đình chỉ hợp đồng) hay phải thỏa mãncác điều kiện cụ thể của các chế tài đó thì mới được áp dụng? Điều 293 LTM 2005
quy định không được phép áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng đối với các vi phạm không phải là vi phạm cơ bản trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Tham khảo một số quy định quốc tế, tại khoản 3 Điều 7.3.1 của PICC 2004
cho phép áp dụng chế tài hủy hợp đồng nếu “trong trường hợp chậm trễ bên có nghĩa
vụ không thực hiện trong thời hạn được quy định tại Điều 7.1.5”, Điều 7.1.5 quy định
về việc gia hạn thời hạn hợp lí để thực hiện nghĩa vụ Như vậy, theo PICC thì hết thờihạn bổ sung mà bên vi phạm không khắc phục vi phạm thì bên bị vi phạm được ápdụng ngay chế tài hủy bỏ hợp đồng mà không cần đáp ứng điều kiện riêng của chế tàinày (điều kiện vi phạm cơ bản) Trong khi đó, đối với CISG cũng theo hướng bên bị
viphạm được áp dụng ngay chế tài khác (hủy bỏ hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng) mà không cần chứng minh điều kiện có hành vi vi phạm cơ bản.29
28Điều 7.1.5 PICC 2004: “1 Trong trường hợp không thực hiện, bên có quyền có thể thông báo gia hạn thêm cho bên có nghĩa vụ một thời hạn bổ sung để bên này thực hiện nghĩa vụ.
2.Trong suốt thời gian trước khi thời hạn này kết thúc, bên có quyền có thể dừng thực hiện các nghĩa vụ liên quan của mình và đòi bồi thường thiệt hại, nhưng không được viện dẫn bất kỳ biện pháp giải quyết nào khác "
29 Đặng Hoa Trang, tlđd (5), tr.43
Trang 27Tóm lại, nếu xem xét việc gia hạn thực hiện nghĩa vụ tại Điều 298 LTM 2005
là một “cơ chế phá vỡ nguyên tắc” chỉ áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng đối với các vi phạm cơ bản thì rõ
ràng quy định tại Điều 293 LTM 2005 đã bỏ sót trường hợp “trừ trường hợp phápluật có quy định khác” (ở đây là quy định tại Điều 298, Điều 299 LTM 2005) haynói cách khác là có sự mâu thuẫn giữa quy định tại khoản 2 Điều 299 với Điều 293LTM 2005 Ngược lại, nếu xem xét việc gia hạn nghĩa vụ tại Điều 298 LTM 2005không có tác dụng “phá vỡ nguyên tắc” đã nêu ở trên thì rõ ràng khoản 2 Điều 299
LTM 2005 đã bỏ sót cụm từ “nếu đáp ứng các điều kiện của các chế tài đó” và hiểu
theo cách này cũng sẽ là không phù hợp với các quy định quốc tế tác giả đã nêu
đồng thời cũng đi trái với thực tiễn thương mại khi mà “một bên đã dùng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng nhưng không đem lại hiệu quả hơn mong đợi thì họ hoàn toàn có quyền tìm kiếm một giải pháp khác, thậm chí là hủy bỏ hợp đồng khi bên kia đã không có thiện chí hoặc hoàn toàn không có khả năng thực hiện” 30
1.6 Hệ quả pháp lý của việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Xem xét hệ quả pháp lý của việc áp dụng chế tài BTHĐHĐ bên cạnh việcnhận biết được những hệ quả mà chế tài này tạo ra thì còn góp phần nghiên cứuđược mối quan hệ giữa việc áp dụng chế tài BTHĐHĐ và các chế tài khác trongthương mại Đối với chế tài BTHĐHĐ thì chức năng cơ bản của nó là đảm bảo chohợp đồng được thực hiện, do đó áp dụng chế tài này sẽ không tác động đến hiệu lựccủa hợp đồng Các thỏa thuận ban đầu trong hợp đồng vẫn là căn cứ để xác định cácvấn đề pháp lý có liên quan và quyền và nghĩa vụ của các bên
Trường hợp bên bị vi phạm áp dụng chế tài theo cách thức yêu cầu bên viphạm thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng và gia hạn một khoản thời gianhợp lý để bên bị vi phạm khắc phục vi phạm thì thời hạn theo hợp đồng vẫn là mốc
để tính thời hạn khiếu nại, thời hiệu khởi kiện, tính toán thiệt hại xảy ra hay lãi suấtchậm trả31, Chỉ trong trường hợp cả hai bên đạt được thỏa thuận lại về gia hạn thờihạn thì thời hạn mới này mới trở thành cột mốc mới để tính thời hạn khiếu nại vàthời hiệu khởi kiện
Trong khi đó, trường hợp bên bị vi phạm áp dụng các biện pháp khác để hợpđồng được thực hiện thì các yếu tố như khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan,chi phí thực tế hợp lý sẽ dựa trên những thỏa thuận trong hợp đồng Chẳng hạn, trường
30 Nguyễn Thị Hoa (2015), Chế tài hủy bỏ hợp đồng thương mại, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân
Luật, trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh, tr.23
31 Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, tlđd (9), tr.460
21
Trang 28hợp hai bên thỏa thuận hợp đồng cung ứng dịch vụ với tổng giá trị là A, tuy nhiênbên cung ứng dịch vụ không thực hiện việc cung ứng dịch vụ của mình và bên nhậncung ứng dịch vụ lúc này phải tiến hành thuê một bên thứ ba để thực hiện với giá B(cao hơn giá A) thì lúc này bên vi phạm phải thanh toán cho bên bị vi phạm khoảnchênh lệch là B -A (B trừ A), tức là sự chênh lệch này được dựa vào nội dung thỏathuận trong hợp đồng ban đầu của hai bên.
Về nghĩa vụ của bên bị vi phạm khi bên vi phạm khắc phục các vi phạm hợpđồng LTM 2005 có quy định tại khoản 4 Điều 297 Theo đó, khi bên vi phạm đãthực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình sau khi được bên bị vi phạm yêu cầu, bên bị viphạm phải nhận hàng, nhận dịch vụ và thanh toán tiền hàng, thù lao dịch vụ
1.7 Ý nghĩa của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Ý nghĩa đối với nền kinh tế: Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hộinhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài hay việcgiao lưu, hợp tác thông qua các hợp đồng kinh tế đóng vai trò vô cùng quan trọng32.Việc LTM 2005 đặt ra các quy định về chế tài BTHĐHĐ có vai trò như một cơ chế
“đảm bảo” cho các bên giao kết các hợp đồng thương mại
Ýnghĩa đối với các bên trong hợp đồng thương mại: đây là chế tài có ý nghĩa
vô cùng quan trọng, thông qua bản chất của chế tài là buộc các bên tham gia hợp đồngtuân thủ các cam kết đã đưa ra vào thời điểm giao kết hợp đồng, từ đó các nghĩa vụtrong hợp đồng thương mại được thực hiện, mục đích giao kết hợp đồng đạt được Cácbên có thể an tâm khi giao kết hợp đồng thương mại, bởi nếu không có thỏa thuận haytrường hợp miễn trách khác thì bất cứ hành vi vi phạm của bên còn lại đều có thể làđiều kiện để áp dụng chế tài BTHĐHĐ Ngoài ra, việc cho phép áp dụng chế tài
BTHĐHĐ theo cách thức thứ hai – bên bị vi phạm sử dụng các biện pháp khác để hợpđồng được thực hiện trong rất nhiều trường hợp sẽ giúp giảm thiểu những thiệt hạikhông đáng có Chẳng hạn, A và B giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, A cung cấphàng hóa cho B, B sử dụng hàng hóa đó tiến hành việc chế biến để cung cấp cho mộtđối tác nước ngoài là C Việc A vi phạm nghĩa vụ giao hàng dẫn đến việc B không cónguyên liệu sản xuất để cung cấp cho C có thể dẫn đến nguy cơ B vi phạm hợp đồngvới C và phải gánh chịu các khoản phạt vi phạm hay bồi thường thiệt hại Lúc này, chophép B quyền mua hàng hóa từ một bên thứ ba để có nguyên liệu sản xuất, giao hàngcho C sẽ giúp giảm thiểu các khoản phạt hay bồi thường thiệt hại không đáng có mà Achỉ phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan
32 Số liệu thống kê từ Tổng cục thống kê cho thấy năm 2020 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 543,9 tỷ USD, thu hút vốn đầu tư nước ngoạt đạt 28,53 tỉ USD.
22
Trang 29KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chế tài BTHĐHĐ là một trong những chế tài trong thương mại, thường được
sử dụng để giải quyết các vi phạm nghĩa vụ trong các hợp đồng thương mại TrongChương 1, tác giả đã làm rõ khái niệm chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng từ cácgóc độ lý luận, quy định của pháp luật
Chế tài BTHĐHĐ có các đặc điểm cơ bản đó là chủ thể áp dụng chế tài làcác bên trong hợp đồng thương mại, đây là chế tài cơ bản nhất để bảo vệ quan hệhợp đồng và chế tài này có thể được áp dụng đồng thời với các chế tài khác trongthương mại
Trong Chương 1 tác giả đã khái quát về quá trình hình thành và phát triển củachế tài BTHĐHĐ trong pháp luật Việt Nam, tiếp theo đó là nêu lên các trường hợpmiễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ theo quy định của LTM 2005 Ngoài ra, tác giả cũng
mở rộng vấn đề giới hạn việc áp dụng chế tài BTHĐHĐ bằng việc phân tích các quyđịnh của LTM 2005 và so sánh với một số quy định của các văn bản pháp luật quốc tế,
từ đó đề xuất việc bổ sung các quy định về giới hạn việc áp dụng chế tài BTHĐHĐ
Cũng trong Chương 1, tác giả đã phân tích vấn đề gia hạn thực hiện nghĩa vụkhi áp dụng chế tài BTHĐHĐ, nhận diện một số thiếu sót của quy định pháp luật.Bên cạnh đó, tác giả cũng đã trình bày hệ quả pháp lý của việc áp dụng chế tài buộcthực hiện đúng hợp đồng, theo đó việc áp dụng chế tài BTHĐHĐ thì không ảnhhưởng đến hiệu lực của hợp đồng
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là một trong những chế tài quan trọng
và có ý nghĩa nhất trong các chế tài trong thương mại Ý nghĩa này được thể hiệnthông qua vai trò đối với quan hệ của các bên trong hợp đồng thương mại và vai tròđối với nền kinh tế
23
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI BUỘC THỰC
hệ giữa chế tài BTHĐHĐ với các chế tài khác trong thương mại Tiếp theo đó tácgiả sẽ nhận xét sự hợp lý, hợp pháp của các quyết định nêu trên và cuối cùng là đưa
ra các kiến nghị hoàn thiện
Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu các bản án, quyết định có hiệu lực củaTòa án, tác giả nhận thấy rằng thực tiễn giải quyết tranh chấp được đưa ra cơ quan
có thẩm quyền giải quyết thì nguyên đơn thông thường đã áp dụng chế tàiBTHĐHĐ, khi khởi kiện thì chế tài họ yêu cầu áp dụng sẽ thường là buộc bồithường thiệt hại, yêu cầu phạt vi phạm hay hủy bỏ hợp đồng Đối với chế tàiBTHĐHĐ nếu có yêu cầu thông thường sẽ là yêu cầu thanh toán Thực tiễn nêu trênxuất phát từ những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, trong rất nhiều trường hợp, bên vi phạm hợp đồng chấp nhận việc
vi phạm hợp đồng và chịu các chế tài khác mà không tiếp tục thực hiện hợp đồng nếuviệc tuân thủ đúng hợp đồng dẫn đến những bất lợi to lớn hơn so với việc vi phạm
Bên cạnh đó, xuất phát từ học thuyết “vi phạm hiệu quả”33 theo đó, nếu sự vi phạmcủa một bên giúp họ thu được lợi ích lớn hơn so với những bất lợi mà họ phải gánhchịu từ các trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thì lúc này, với bản chất hướng đếnmục đích “sinh lợi” của các hoạt động thương mại, bên vi phạm nhiều khả năng sẽchấp nhận sự đánh đổi có lợi này thể hiện qua việc chấp nhận các yêu cầu về bồithường thiệt hại, phạt vi phạm thay cho việc tuân thủ các nghĩa vụ hợp đồng
Thứ hai, xuất phát từ lựa chọn của bên bị vi phạm khi việc thực hiện đúng hợpđồng không còn là chế tài đảm bảo được lợi ích cao nhất Theo đó, trong nhiều trườnghợp, thời điểm để “thực hiện đúng hợp đồng” qua đi, lúc này nếu bên vi phạm có thựchiện đúng hợp đồng thì bên bị vi phạm vẫn không đảm bảo được lợi ích của mình Do
đó, đối với các trường hợp này bên bị vi phạm cũng sẽ không ưu tiên lựa chọn việc ápdụng chế tài BTHĐHĐ khi khởi kiện Ngoài ra, việc yêu cầu Tòa án giải quyết
33 Về học thuyết vi phạm hiệu quả: xem thêm Nguyễn Thị Thanh Huyền (2021), Bàn về cơ sở tồn
tại và vấn
đề giới hạn phạm vi áp dụng của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số
3(395) 2021, tr.52 – tr.56.
Trang 31với quy trình nhiều bước, từ xử lý đơn kiện, thụ lý giải quyết đến thi hành án cónguy cơ kéo dài dẫn đến thời điểm đạt được lợi ích từ việc “thực hiện đúng hợpđồng” qua đi (trừ yêu cầu thanh toán), do đó lúc này sự lựa chọn áp dụng chế tàiBTHĐHĐ của bên bị vi phạm sẽ không còn là ưu tiên.
Thứ ba, do chế tài BTHĐHĐ thiếu một cơ chế thực thi hiệu quả Xuất phát từviệc khi bên vi phạm có các hành vi vi phạm hợp đồng thì ý định, thiện chí tuân thủcác cam kết của họ đã không còn Do đó, mặc cho bên bị vi phạm có yêu cầu songnếu bên vi phạm vẫn không thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình thì bên bị viphạm cũng sẽ không thể làm gì khác Vì vậy, khi tiến hành khởi kiện thì yêu cầu của
họ thường nhằm mục đích bù đắp các thiệt hại (áp dụng chế tài buộc bồi thườngthiệt hại) và thu được một khoản tiền phạt vi phạm nếu hợp đồng có thỏa thuận(phạt vi phạm) Xem xét các quy định hiện hành của LTM 2005, có thể nhận thấyLTM 2005 có một cơ chế để đảm bảo cho việc tuân thủ chế tài BTHĐHĐ Đó chính
là quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán theo quy định tại Điều 306 LTM
200534 Tuy nhiên, cơ chế nêu trên của LTM chỉ giới hạn trong phạm vi nghĩa vụthanh toán, còn các nghĩa vụ khác không mang tính tiền tệ như nghĩa vụ giao hàng,cung ứng dịch vụ thì hiện nay không có một cơ chế thực thi hiệu quả Để hoàn thiện
cơ chế thực thi chế tài BTHĐHĐ, một số đề xuất có thể được áp dụng Chẳng hạn,
đó là việc đưa ra biện pháp “astreinte” – biện pháp có nguồn gốc từ thực tiễn xét xửcủa Tòa án Pháp cho việc chậm hoặc không thực hiện nghĩa vụ mà Toà án buộc bên
vi phạm phải thực hiện35 Cụ thể, cơ chế nêu trên cho phép Tòa án ngoài việc buộcbên có nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng còn cho phép Tòa án áp dụng thêm biệnpháp bổ sung – phạt cho việc chậm hay không thực hiện nghĩa vụ mà Tòa án buộcbên vi phạm phải thực hiện36
Một vấn đề khác trong thực tiễn xét xử hiện nay đó là việc ghi nhận Điều luật
297 trong các bản án, quyết định Theo đó, trong thực tiễn hiện nay có sự không đồngnhất giữa việc ghi nhận áp dụng Điều 297 LTM 2005 với việc áp dụng Điều 50 LTM
2005 Mặc dù cùng tính chất của vụ án là nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tòa án buộc bịđơn phải thanh toán số tiền còn thiếu theo hợp đồng nhưng ở một số bản án Tòa án
34 Điều 306 LTM 2005: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”
35 Hồ Ngọc Hiển, Đỗ Giang Nam, Một số vấn đề về biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp
đồng theo pháp luật Việt Nam, [http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210309], truy cập lần
cuối ngày 21/5/2021
36 Đỗ Văn Đại (chủ nhiệm đề tài), Đỗ Văn Hữu (2010), Buộc thực hiện đúng hợp đồng trong pháp
luật Việt Nam, Tài liệu hội thảo khoa học “Không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật thực định Việt
Nam”,
Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh, tr.06
Trang 32chỉ ghi nhận áp dụng Điều 50 LTM để quyết định buộc bị đơn phải thanh toán sốtiền còn thiếu Điển hình là trong bản án số 10/2021/KDTM-ST ngày 31/3/2021 củaTòa án nhân dân thành phố Dĩ An tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp hợp đồngmua bán hàng hóa.Trong khi đó, một số bản án khác với tính chất, nội dung gầntương tự thì Tòa án có sự ghi nhận Điều 297 LTM (cụ thể là khoản 5 Điều 297) đểđưa ra quyết định buộc bị đơn phải tiến hành việc thanh toán cho nguyên đơn (đơn
cử là bản án số 05/2020/KDTM-ST ngày 28/09/2020 của Tòa án nhân dân Thị xãHương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa)
Việc không ghi nhận Điều 297 LTM mà chỉ ghi nhận Điều 50 trong bản ántạo ra một sự không thống nhất không đáng có trong việc áp dụng pháp luật, gây ra
sự cản trở với việc thống kê, nghiên cứu và đánh giá không đúng tầm quan trọngcủa chế tài BTHĐHĐ Theo tác giả, để khắc phục tình trạng nêu trên trong tương laitrường hợp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao công bố án lệ hoặc cóhướng dẫn có liên quan đến việc buộc một bên phải thực hiện nghĩa vụ thanh toáncho bên còn lại thì nên xem xét ghi nhận việc áp dụng Điều 297 LTM để Tòa án cáccấp có thể lưu ý trong công tác xét xử
2.1 Thực trạng pháp luật về điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng
hợp đồng
2.1.1 Thực trạng quy định pháp luật về điều kiện áp dụng chế tài buộc thực
hiện đúng hợp đồng
2.1.1.1 Điều kiện luật định
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quy định tại Điều 297 LTM 2005được áp dụng khi đáp ứng các điều kiện sau đây: (i) Có hành vi vi phạm hợp đồng;(ii) Hợp đồng bị vi phạm là hợp đồng có hiệu lực và (iii) không rơi vào các trườnghợp miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ (về nội dung miễn áp dụng chế tài BTHĐHĐ
đã được tác giả trình bày tại Mục 1.3 trong Chương 1 của Khóa luận)
Về điều kiện có hành vi vi phạm hợp đồng
Đây là điều kiện không chỉ của riêng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
mà là điều kiện của các chế tài khác trong thương mại Theo định nghĩa của vi phạm
hợp đồng tại khoản 12 Điều 3 LTM 2005 thì “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này” Như vậy, dựa theo định
nghĩa trên thì vi phạm hợp đồng có thể được biểu hiện ở dưới 3 dạng là (i) hành vikhông thực hiện, (ii) hành vi thực hiện không đầy đủ hoặc (iii) hành vi thực hiện
26
Trang 33không đúng nghĩa vụ theo “thỏa thuận của các bên” hay “theo quy định của luật thương mại” thì bên đó được xem là có hành vi vi phạm hợp đồng Như vậy, về bản
chất, hành vi vi phạm hợp đồng không chỉ giới hạn ở “thỏa thuận của các bên” –hay hợp đồng thương mại mà còn mở rộng ra là ở các “quy định của luật thươngmại” Hay nói cách khác về hành vi vi phạm hợp đồng không chỉ là vi phạm nhữngcam kết, những thỏa thuận trong hợp đồng mà còn có thể là hành vi vi phạm nhữngnghĩa vụ phát sinh từ những quy định của pháp luật liên quan đến hợp đồng đó37
Xem xét cụ thể từng dạng thể hiện của hành vi vi phạm:
(i) Hành vi không thực hiện nghĩa vụ: Đây là hành vi vi phạm hợp đồng thể
hiện dưới dạng không hành động Theo đó bên vi phạm không tiến hành thựchiện những nghĩa vụ của mình theo hợp đồng và theo các quy định của LTM.Chẳng hạn, đối với bên bán là không giao hàng hóa, bên cung ứng dịch vụ làkhông tiến hành cung cấp dịch vụ - không thực hiện công việc cho bên nhậncung ứng dịch vụ Đối với bên mua thông thường là hành vi không nhậnhàng hóa, không thanh toán tiền hàng, tiền dịch vụ, không tiến hành nhậnhàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ;
(ii) Hành vi thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ: Đây là hành vi vi phạm hợp
đồng thể hiện dưới dạng không hành động Theo đó, mặc dù đã thực hiệnmột phần nghĩa vụ hợp đồng song bên vi phạm lại không thực hiện đầy đủnhững nghĩa vụ của mình, tức là đối với những phần nghĩa vụ “không đủ” thì
họ không thực hiện Đối với bên bán, hành vi này được thể hiện ở các tìnhhuống như bên bán giao hàng hóa nhưng không đủ số lượng, khối lượng, bênmua thì không thanh toán đủ tiền hàng hóa, tiền cung ứng dịch vụ;
(iii) Hành vi thực hiện không đúng nghĩa vụ: Đây là dạng hành vi có thể được
xem xét là ở dạng hành động khi mà bên vi phạm đã thực hiện nhưng “khôngđúng” nghĩa vụ Đối với bên bán, hành vi này có thể là giao hàng hóa khôngphù hợp với hợp đồng, giao hàng hóa không đúng thời gian, địa điểm Trongkhi đó đối với bên mua, bên nhận cung ứng có thể là việc cung cấp sai thôngtin cần thiết cho bên bán, bên cung ứng dịch vụ
Về vi phạm hợp đồng thì LTM 2005 chia vi phạm thành hai loại là vi phạm cơ
bản và vi phạm không cơ bản Theo đó, “vi phạm cơ bản” là sự vi phạm hợp đồng của
một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đíchcủa việc giao kết hợp đồng38 Trong khi đó, “vi phạm không cơ bản” tuy không
37 Nguyễn Thị Dung (chủ biên) và tập thể giảng viên bộ môn Luật Thương mại đại học Luật Hà Nội
(2017), Luật Kinh tế, NXB Lao Động, tr 685
38 Khoản 13 Điều 3 LTM 2005
27
Trang 34được LTM 2005 định nghĩa nhưng có thể hiểu là vi phạm hợp đồng không rơi vàodạng vi phạm cơ bản, tức là sự vi phạm của một bên không đến mức làm cho bênkia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng LTM 2005 cũng không có
sự quy định trực tiếp liệu điều kiện có hành vi vi phạm hợp đồng để áp dụng chế tàiBTHĐHĐ có bắt buộc phải là vi phạm cơ bản hay không?
Theo quy định tại Điều 293 LTM 2005 về việc áp dụng chế tài trong thương mạiđối với vi phạm không cơ bản thì đã giới hạn việc áp dụng đối với chế tài tạm ngừngthực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng đối với viphạm không cơ bản nếu các bên không có thỏa thuận Điều này có ý nghĩa quy địnhgián tiếp rằng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng không bị hạn chế đối với vi phạmkhông cơ bản hay nói cách khác là được áp dụng đối với mọi vi phạm hợp đồng, trừtrường hợp các bên có thoả thuận khác Như vậy, chế tài BTHĐHĐ được áp dụng đốivới mọi vi phạm hợp đồng mà không cần xác định liệu vi phạm đó là vi phạm cơ bảnhay không Tác giả đồng ý với hướng giải thích nêu trên Xét bản chất của chế tài làbuộc thực hiện “đúng” hợp đồng, như vậy, sự vi phạm nghĩa vụ dẫn đến sai khác nghĩa
vụ hợp đồng đã là “không đúng” với nghĩa vụ hợp đồng không phân biệt mức độ viphạm, do đó vẫn có thể áp dụng chế tài này Ví dụ, hành vi không thanh toán một phầntiền trong giao dịch mua bán hàng hóa (không thanh toán 1% số tiền) Ở đây, mục đíchgiao kết hợp đồng của bên bán đã được đáp ứng một phần (99% số tiền đã được thanhtoán) nên thông thường không thể xem là bên bán không đạt được mục đích của việcgiao kết hợp đồng Do đó, vi phạm trên có thể là vi phạm không cơ bản song vẫn nên
và phải xem xét rằng bên bán có quyền áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồngbởi như vậy mới đáp ứng được quyền lợi của bên bán
LTM 2005 quy định tại Điều 297 về việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúnghợp đồng, từ đó có thể liệt kê các hành vi được coi là thực hiện không đúng hợp đồng
và buộc phải khắc phục lại cho đúng với hợp đồng Cụ thể đó là đối với bên bán hànghay bên cung cấp dịch vụ thì các hành vi này là giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụkhông đúng hợp đồng; Giao hàng, cung ứng dịch vụ thiếu sót, kém chất lượng Trongkhi đó các vi phạm đối với bên mua đó là không trả tiền, không nhận hàng hay cácnghĩa vụ khác của bên mua được quy định trong hợp đồng và trong LTM 2005
Ngoài ra, có quan điểm cho rằng điều kiện hành vi “vi phạm hợp đồng” là điều
kiện mà khái niệm của nó nội hàm không đầy đủ để áp dụng trong việc xác định việcbuộc thực hiện đúng hợp đồng Theo quan điểm này, ở đây nên lựa chọn thuật ngữ
“không thực hiện đúng hợp đồng” thay cho thuật ngữ “vi phạm hợp đồng”39
39 Đỗ Văn Đại (2010), tlđd (8), tr.25 – tr.29
28
Trang 35Quan điểm này đưa ra các trường hợp mà thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” không phù hợp chẳng hạn trường hợp một bên “chậm thực hiện” nghĩa vụ thì không thể xác
định là có một vi phạm hợp đồng tại khoản 12 Điều 3 LTM 2005 hay không bởi tại
điều này chỉ quy định vi phạm hợp đồng là hành vi “không thực hiện”, “thực hiện không đầy đủ” hoặc “thực hiện không đúng nghĩa vụ” Ngoài ra, tác giả công trình
nêu trên còn nhìn nhận ở góc độ so sánh luật theo đó xu hướng hiện tại trên thế giới
là không sử dụng thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” mà nên sử dụng thuật ngữ “không
thực hiện đúng” Tuy nhiên, quan điểm tác giả khóa luận cho rằng ở đây nên sử
dụng thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” thay vì “không thực hiện đúng hợp đồng” Các trường hợp như “chậm thực hiện” tức là đã là việc “không thực hiện đúng nghĩa vụ” Nếu hợp đồng đã xác định thời gian thực hiện nghĩa vụ mà bên vi phạm lại
thực hiện chậm đi tức là đã thực hiện không đúng với nghĩa vụ đã đặt ra Ngoài ra,
cũng cần xem xét bản chất từ “không đúng” tại khoản 12 Điều 3 LTM là bất cứ sự
sai khác nào về nghĩa vụ so với những thỏa thuận trong hợp đồng và những nghĩa
vụ là hệ quả của hợp đồng Tham khảo quy định PICC 2004 của Unidroit tại Điều
7.1.1 định nghĩa “Không thực hiện hợp đồng là việc một bên không thực hiện một nghĩa vụ nào đó phát sinh từ hợp đồng, kể cả việc thực hiện hợp đồng không đúng hay chậm trễ” Như vậy, quy định trong PICC 2004 lại theo hướng sử dụng thuật ngữ “không thực hiện hợp đồng” để chỉ các vi phạm bao gồm “thực hiện chậm trễ” hay “thực hiện không đúng hợp đồng” Quan điểm của tác giả thì cách thức quy
định của PICC 2004 cũng là không phù hợp, khi mà “thực hiện không đúng hợpđồng” – có thể ở dạng hành động lại nằm trong nội hàm của khái niệm không thựchiện hợp đồng (dạng không hành động)
Về điều kiện hợp đồng bị vi phạm là hợp đồng có hiệu lực
Đây là điều kiện tất yếu để bên bị vi phạm nghĩa vụ hợp đồng áp dụng chế tàibuộc thực hiện đúng hợp đồng Bởi lẽ, hợp đồng là căn cứ xác lập quan hệ hợp đồnggiữa các bên Do đó, nếu hợp đồng bị vi phạm là không có hiệu lực – tức là khôngtồn tại nghĩa vụ theo hợp đồng giữa các bên (bao gồm nghĩa vụ theo thỏa thuậntrong hợp đồng và nghĩa vụ phát sinh từ các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệhợp đồng đó) thì không thể lập luận rằng một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng để ápdụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được
Như đã phân tích ở Mục 1.1.2 thì hợp đồng thương mại là một dạng cụ thể củahợp đồng dân sự Do đó, hợp đồng này bắt buộc phải tuân theo các quy định để có hiệulực của hợp đồng dân sự Điều 116 BLDS 2015 quy định giao dịch dân sự là hợp đồnghoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự Như vậy, hợp đồng dân sự có thể coi là một giao dịch dân sự được
29
Trang 36thể hiện dưới dạng hợp đồng Điều 117 BLDS 2015 quy định điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
“Điều 117 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân
sự trong trường hợp luật có quy định.”
Từ quy định nêu trên, có thể suy ra các điều kiện để có hiệu lực của hợp đồngthương mại như sau:
(i) Điều kiện chủ thể xác lập giao dịch phải có năng lực pháp luật, năng lực
hành vi dân sự;
(ii) Điều kiện tự nguyện của chủ thể khi xác lập giao dịch;
(iii) Điều kiện mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm
của luật, không trái đạo đức xã hội;
(iv) Ngoài ra, trong một số giao dịch thì hình thức cũng là điều kiện có hiệu
lực của giao dịch
Như vậy, để áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thì hợp đồng bị viphạm – tức hợp đồng có quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên cũng phải là hợpđồng có hiệu lực Chẳng hạn, một hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc danh mục cấmmua bán, giao dịch giữa các chủ thể không có quyền thì sẽ bị vô hiệu do đối tượng củahợp đồng là trái với các quy định của pháp luật Lúc này hợp đồng sẽ không có hiệu lực
và do đó các bên sẽ không được ghi nhận quyền, nghĩa vụ của mình và tất nhiên sẽkhông có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nếu không có nghĩa vụ hợp đồng
Tuy nhiên, một hợp đồng bị vô hiệu không tất yếu dẫn đến việc loại trừ ngayviệc áp dụng chế tài BTHĐHĐ Bởi vì, hợp đồng vô hiệu có thể là vô hiệu một phầnhoặc vô hiệu toàn bộ Theo đó, trường hợp hợp đồng vô hiệu toàn bộ thì toàn bộ nộidung của hợp đồng bị vô hiệu tức là không phát sinh hiệu lực của hợp đồng, bao gồmnội dung quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên Tuy nhiên, trường hợp hợp
30
Trang 37đồng bị vô hiệu từng phần40 và nội dung vô hiệu không phải nội dung ảnh hưởngđến quyền, nghĩa vụ của các bên thì sự vi phạm của một bên không phải là vi phạmvào nội dung vô hiệu Và như vậy, hợp đồng vẫn sẽ phát sinh hiệu lực về vấn đềnghĩa vụ của các bên và khi có một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thì bên bị viphạm vẫn có thể áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng.
2.1.1.2 Điều kiện thỏa thuận của các bên
Ngoài điều kiện cơ bản là có hành vi vi phạm hợp đồng và hợp đồng bị viphạm là hợp đồng có hiệu lực thì các bên trong hợp đồng có thể thỏa thuận thêm vềđiều kiện được áp dụng chế tài BTHĐHĐ nhằm giới hạn hay mở rộng khả năng ápdụng của chế tài này LTM 2005 không quy định về vấn đề các bên có quyền thỏathuận khi nào thì áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng Tuy nhiên, quanđiểm của tác giả là để đảm bảo nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận thì các bên
có thể thỏa thuận với nhau về việc áp dụng chế tài này41 Mặt khác, việc thỏa thuậnđiều kiện áp dụng cũng như là điều kiện không áp dụng chế tài buộc thực hiện đúnghợp đồng là cần thiết, đáp ứng nhu cầu cũng như quyền lợi của các bên tham giagiao kết hợp đồng
2.1.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về điều kiện áp dụng chế tài buộc thực
hiện đúng hợp đồng
Bản án số 10/2021/KDTM-ST ngày 31/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố
Dĩ An tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Tóm tắt:
Công ty T ký hợp đồng mua bán số 058.2019-INT.VX với công ty X với nộidung công ty T bán cho công ty X thiết bị, dụng cụ là khung bàn Inox với tổng giá trịcủa hợp đồng là 1.069.839.225 đồng (chưa bao gồm VAT) Việc thanh toán chia làm
2 đợt với thời hạn xác định trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về điều khoản phạt
vi phạm hợp đồng với mức 8% Quá trình thực hiện hợp đồng công ty T đã giao hàngđầy đủ cho công ty X song công ty X chỉ thanh toán tiền hàng đợt 01 Công ty
T đã nhiều lần liên hệ với công ty X để thanh toán nợ nhưng công ty X né tránh vàđến nay vẫn chưa thực hiện Nay công ty T khởi kiện yêu cầu công ty X thanh toántiền hàng còn thiếu và tiền phạt do vi phạm hợp đồng
40 Hợp đồng vô hiệu từng phần là chỉ một phần của hợp đồng này bị vô hiệu và phần bị vô hiệu này không ảnh hưởng đến những phần còn lại của hợp đồng
41 Nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận tại Điều 11 LTM 2005 “Các bên có quyền tự do thoả thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền
và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó.”
31
Trang 38Theo nhận định của Tòa án, Tòa án đã xác định hợp đồng Mua bán số058.2019-INT.VX được ký giữa người đại diện hợp pháp giữa hai công ty là sự tựnguyện thỏa thuận giữa hai bên nên có giá trị bắt buộc thực hiện Quá trình thựchiện hợp đồng, công ty T đã giao đúng các thiết bị, dụng cụ với thông số kỹ thuậttheo đúng thời hạn và địa điểm cho công ty X Tuy nhiên, công ty X chỉ mới thựchiện việc thanh toán cho công ty T tiền hàng đợt 01 là đã vi phạm hợp đồng, làmảnh hưởng đến quyền lợi của công ty T Do đó, Tòa án chấp nhận yêu cầu đòi công
ty X thanh toán tiền hàng còn nợ
Nhận xét: Theo nghiên cứu của tác giả, việc chậm thanh toán hay vi phạm
nghĩa vụ thanh toán là một trong những vi phạm phổ biến nhất trong các hợp đồngthương mại và yêu cầu bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ thanh toán cũng là điển hìnhnhất của việc áp dụng chế tài BTHĐHĐ trong thực tế Trong bản án nêu trên, có thểthấy Tòa án đã vận dụng các quy định về điều kiện áp dụng chế tài BTHĐHĐ Cụ thể
đó là các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực (Tòa án đã xác định hợp đồng Mua bán số058.2019-INT.VX được ký giữa người đại diện hợp pháp giữa hai công ty là sự tựnguyện thỏa thuận giữa hai bên nên có giá trị bắt buộc thực hiện), điều kiện có hành
vi vi phạm hợp đồng (Tòa án xác định công ty X chỉ mới thực hiện việc thanh toáncho công ty T tiền hàng đợt 01 là đã vi phạm hợp đồng, làm ảnh hưởng đến quyềnlợi của công ty T)
2.2 Thực trạng pháp luật về cách thức áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng
hợp đồng
2.2.1 Thực trạng quy định pháp luật về cách thức áp dụng chế tài buộc thực
hiện đúng hợp đồng
Mặc dù tên gọi của chế tài là “buộc thực hiện đúng hợp đồng” có thể tạo ra hiểu
nhầm rằng đây chỉ là chế tài bắt buộc bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng khắc phục
vi phạm của mình Tuy nhiên, giới hạn của chế tài BTHĐHĐ còn mở rộng ra vớiviệc bên bị vi phạm có thể áp dụng các biện pháp nhằm khắc phục vi phạm và bên
vi phạm phải có nghĩa vụ gánh chịu những chi phí, tổn thất mà bên bị vi phạm đãphải thực hiện để tiến hành việc khắc phục đó LTM 2005 quy định hai cách thức ápdụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng khác nhau Cách thứ nhất là bên bị viphạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng và cách thứ hai là bên vi phạmdùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện Sau đây tác giả đi vào phântích từng cách thức áp dụng chế tài này
32
Trang 392.2.1.1 Bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng
LTM 2005 quy định về quyền của bên bị vi phạm đó là yêu cầu bên vi phạmthực hiện đúng hợp đồng Về nội dung yêu cầu nêu trên thì các yêu cầu của bên bị viphạm sẽ tương ứng với vi phạm hợp đồng của bên vi phạm Đối với trường hợp bên
vi phạm giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì bên vi phạmphải giao đủ hàng hoặc cung ứng dịch vụ theo hợp đồng Trường hợp bên vi phạm giaohàng hóa, cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hóa,thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng hóa khác để thay thế, cung ứng dịch vụ đúng hợpđồng Cách quy định tại khoản 2 Điều 297 LTM 2005 mang tính chất liệt kê, các hành
vi vi phạm của bên bán là (i) giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợpđồng; (ii) Giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ kém chất lượng và nội dung yêu cầu khi ápdụng chế tài BTHĐHĐ là tương ứng với 2 nhóm vi phạm nêu trên Tuy nhiên, việc quyđịnh theo hướng liệt kê như trên là có thiếu sót các trường hợp vi phạm dẫn đến thiếusót những nội dung mà bên bên bị vi phạm được yêu cầu khắc phục Cụ thể thì quyđịnh này chỉ tập trung vào nghĩa vụ giao hàng, cung ứng dịch vụ phù hợp với hợp đồngcủa bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà bỏ sót các trường hợp bên bán vi phạmnghĩa vụ giao hàng, cung ứng dịch vụ đúng thời gian, địa điểm Ngoài ra, quy định nêutrên còn không bao quát hết các trường hợp giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồngkhi mà chỉ đề cập đến vi phạm liên quan đến
chất lượng hàng hóa (được ghi nhận tại điểm c khoản 1 Điều 39 LTM 200542) mà
bỏ sót các vi phạm khác về hàng hóa phù hợp với hợp đồng43
Trong trường hợp bên vi phạm là bên mua, khoản 5 Điều 297 LTM 2005 quy
định bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả tiền, nhận hàng hoặc thực hiện các nghĩa
vụ khác của bên mua được quy định trong hợp đồng và trong LTM 2005 Đối với nghĩa
vụ của bên mua trong LTM 2005 thì được quy định tại các Điều 44 (nghĩa vụ kiểm trahàng hóa), Điều 50 về nghĩa vụ thanh toán, Điều 56 về nghĩa vụ nhận hàng, Điều 85nghĩa vụ của khách hàng trong hợp đồng cung ứng dịch vụ (nghĩa vụ thanh toán tiềncung ứng dịch vụ, nghĩa vụ cung cấp kịp thời các kế hoạch, chỉ dẫn và những chi tiếtkhác để việc dịch vụ được được thực hiện không bị trì hoãn hay gián đoạn) Cách quyđịnh đối với vi phạm của bên mua và quyền của bên bán khi áp dụng chế
42 Điểm c khoản 1 Điều 39 LTM 2005: “Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hoá mà bên bán đã giao cho bên mua”
43 Các vi phạm khác ở đây bao gồm các trường hợp hàng hóa không phù hợp với hợp đồng tại điểm a,b,d của khoản 1 Điều 39 LTM 2005, cụ thể: a) Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hoá cùng chủng loại; b) Không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng; d) Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hoá đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hoá trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường.
33
Trang 40tài BTHĐHĐ ở đây hợp lý và đầy đủ hơn so với cách quy định vi phạm của bên bán
và quyền của bên mua Theo đó, vi phạm của bên mua được viện dẫn theo các nghĩa
vụ của họ được quy định trong hợp đồng và trong LTM 2005 và hệ quả là bên bán
có quyền yêu cầu bên mua phải thực hiện đúng theo hợp đồng dựa trên những nghĩa
vụ đó Tuy nhiên, cách quy định tại khoản 5 Điều 297 LTM 2005 vẫn còn bỏ sót cáctrường hợp mà bên mua mặc dù không vi phạm các nghĩa vụ quy định trong LTM
2005 như đã nêu và cũng không vi phạm những nghĩa vụ được ghi nhận trong hợpđồng song lại vi phạm những nghĩa vụ khác chẳng hạn vi phạm những nghĩa vụ màcác bên mặc nhiên thừa nhận hay những nghĩa vụ là tập quán thương mại đối vớinhững hợp đồng thương mại trong lĩnh vực đó
Xem xét quy định của PICC 2004 tại các Điều 7.2.1 và 7.2.2 thì quy định này
áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo các nội dung của vi phạm – viphạm nghĩa vụ thanh toán thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm thựchiện nghĩa vụ thanh toán; Vi phạm nghĩa vụ phi tiền tệ thì bên có quyền có thể yêucầu bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ phi tiền tệ đó Theo tác giả, để hoàn thiện cácquy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều 297 LTM 2005 thì cách quy định của PICC
2004 là hướng có thể cân nhắc để học hỏi khi mà cách quy định này cô đọng, súctích nhưng cũng bao quát được hết các trường hợp vi phạm và quyền yêu cầu khắcphục tương ứng
Một vấn đề khác là việc thể hiện của “yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng” LTM 2005 cũng không quy định rõ yêu cầu này được thể hiện dưới hình thức
nào và phải thực hiện trong thời hạn nào Về hình thức thể hiện, cũng giống với việc
áp dụng hình thức thể hiện của hợp đồng thương mại hay các thỏa thuận miễn tráchnhiệm thì tác giả cho rằng hình thức của yêu cầu này có thể được thể hiện dưới dạngvăn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể Xem xét bản chất của yêu cầu buộc thực hiệnđúng hợp đồng này là một hành vi pháp lý đơn phương44, gắn với việc phát sinh nghĩa
vụ của bên vi phạm về việc phải khắc phục vi phạm hợp đồng do đó hình thức của yêucầu này nên được thể hiện bằng văn bản để thuận tiện cho việc chứng minh nếu cótranh chấp Ngoài ra, việc khởi kiện của bên bị vi phạm yêu cầu Tòa án buộc bên viphạm thực hiện đúng hợp đồng liệu có phải là một trong các hình thức thể hiện củacách thức nêu trên hay không? Theo của tác giả, việc khởi kiện yêu cầu thực hiện đúng
hợp đồng được xem là một trong các hình thức thể hiện của “yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng” Theo đó, bên bị vi phạm thể hiện yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng thông qua “đơn khởi kiện” trong đó có nội dung
44 Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
34