1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tài liệu tâm lý học tư pháp EL16

382 37 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 382
Dung lượng 722,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ CỦA TÂM LÝ HỌC TƯ PHÁP 1.1. Đối tượng của tâm lý học tư pháp Tâm lý học tư pháp là một ngành khoa học độc lập. Nó là cầu nối giữa khoa học pháp lý và khoa học tâm lý. Tâm lý học tư pháp được coi là một chuyên ngành ứng dụng của khoa học tâm lý. Vì vậy, đối tượng nghiên cứu của nó là các quy luật nảy sinh, phát triển và biểu hiện của các hiện tượng tâm lý, các quy luật hình thành phẩm chất tâm lý của con người trong hoạt động tư pháp. Tâm lý học tư pháp dành phần lớn các nghiên cứu của amình vào việc xây dựng các biện pháp, cách thức tác động vào các hoạt động tố tụng nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án. Tâm lý học tư pháp nghiên cứu các quy luật nảy sinh, phát triển của những phẩm chất tâm lý dẫn con người đến thực hiện các hành vi chống đối pháp luật, nghiên cứu sự thay đổi và phát triển của những hiện tượng tâm lý trong các hoạt động tố tụng v.v.. Ngoài các quy luật tâm lý nói trên, tâm lý học tư pháp còn nghiên cứu những mô hình hoạt động thực tiễn và đề ra những yêu cầu tâm lý đối với các điều tra viên, thẩm phán, kiểm sát viên, nhằm giúp họ thực hiện tốt các chức năng được giao. Tâm lý học tư pháp cũng nghiên cứu các phương pháp tâm lý áp dụng vào hoạt động tư pháp. Tâm lý học tư pháp giúp cho các cán bộ hoạt động trong lĩnh vực tư pháp có những hiểu biết cần thiết về các quy luật tâm lý, để họ có thể nhanh chóng nghiên cứu, phân tích, đánh giá, làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Như vậy, tâm lý học tư pháp là một ngành tâm lý học ứng dụng nghiên cứu các quy luật và các đặc điểm tâm lý của con người biểu hiện trong các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. 1.2. Nhiệm vụ của tâm lý học tư pháp Tâm lý học tư pháp nghiên cứu: Các cơ sở tâm lý của hành vi tuân thủ pháp luật (ý thức pháp luật, đạo đức, ý thức xã hội, những chuẩn mực xã hội); Những khía cạnh tâm lý của hoạt động tư pháp (những khía cạnh tâm lý của hoạt động điều tra, xét xử các vụ án hình sự, dân sự); Đặc điểm tâm lý của những người tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự, dân sự (bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan...); Nguyên nhân và điều kiện phạm tội, những đặc điểm tâm lý của hành vi phạm tội; Cơ sở tâm lý của của hoạt động cải tạo phạm nhân; Những phẩm chất tâm lý của những người tiến hành tố tụng (điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân); Những khía cạnh tâm lý của các quan hệ tài sản, kinh tế và nhân thân được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự; Những tác động tâm lý của pháp luật và của các cơ quan bảo vệ pháp luật đối với từng cá nhân và các nhóm riêng biệt. 2. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TÂM LÝ HỌC TƯ PHÁP Tâm lý học tư pháp là một trong những ngành khoa học non trẻ của khoa học tâm lý. Nhưng những thử nghiệm giải quyết một cách hệ thống một số nhiệm vụ của hoạt động tư pháp bằng các phương pháp tâm lý học đã đưa vào từ thế kỷ XVIII. Quá trình phát triển của tâm lý học tư pháp có thể chia thành ba giai đoạn: Lịch sử sơ khai của tâm lý học tư pháp; Sự hình thành của tâm lý học tư pháp như một ngành khoa học độc lập; Lịch sử của tâm lý học tư pháp ở thế kỷ XX. 2.1. Lịch sử sơ khai của tâm lý học tư pháp Như phần lớn các ngành khoa học mới xuất hiện ở ranh giới những lĩnh vực khác nhau của tri thức loài người, tâm lý học tư pháp trong các giai đoạn phát triển đầu tiên của mình không có tính độc lập và không có những nhà khoa học chuyên ngành. Vì vậy, các nhà tâm lý học, luật học và thậm chí các chuyên gia ở các lĩnh vực khoa học khác cũng đã thử nghiệm giải quyết các vấn đề thuộc môn khoa học này. Giai đoạn phát triển đầu tiên của tâm lý học tư pháp gắn liền với tính tất yếu hướng khoa học luật đến với tâm lý học để giải quyết các nhiệm vụ đặc trưng, khi các nhiệm vụ này không thể giải quyết bằng các phương pháp luật học truyền thống. Cũng như nhiều ngành khoa học tâm lý khác, tâm lý học tư pháp đi từ việc xây dựng trừu tượng thuần túy đến sự nghiên cứu thực nghiệm khoa học. Một trong những tác giả đầu tiên đã nghiên cứu một loạt các khía cạnh tâm lý học tư pháp và tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn là M.M.Sêrbatov (17331790). Trong các tác phẩm của mình ông đề nghị: khi soạn thảo pháp luật phải chú ý đến đặc điểm của nhân cách con người, một trong những vấn đề đầu tiên là tăng cường miễn chấp hành hình phạt. Ông đã đánh giá cao yếu tố lao động trong việc cải tạo, cảm hóa và giáo dục người phạm tội. Trong các công trình của mình, I. T. Paxôskov (1652 1726) đã đưa ra những kiến nghị tâm lý về việc hỏi cung bị can và lấy lời khai người làm chứng. Ông đã giải thích cách chi tiết hóa lời khai man của người làm chứng như thế nào để nhận được những thông tin chính xác nhằm vạch ra sự gian dối của họ. Đồng thời ông còn đưa ra cách phân chia tội phạm. Việc truyền bá tư tưởng cải tạo và cảm hóa giáo dục người phạm tội đã buộc pháp luật phải hướng tới tâm lý học để biện giải một cách khoa học các vấn đề này. Nghiên cứu những vấn đề này vào đầu thế kỷ XIX ở Nga tiêu biểu là V.K.Elpatrevski, P.D.Lôdi, L.X.Gordienko v.v.. Tuy vậy, trong thời gian này bản thân môn tâm lý học mang tính siêu hình và trừu tượng, không thể liên kết với luật hình sự để thảo ra các tiêu chuẩn và các phương pháp xác đáng nghiên cứu nhân cách con người. Nhiều công trình nghiên cứu về tâm lý học tư pháp xuất hiện ở Nga vào cuối thế kỷ XIX. Đó là các công trình của I.X.Barsev Quan niệm về khoa học pháp luật hình sự, K.Ia, IanôvitraIanhevskôvơ Những tư tưởng về ngành tư pháp hình sự xét theo quan điểm của tâm lý học và sinh lý học, L.E.Vladimirov Các đặc điểm tâm lý của người phạm tội trong nghiên cứu hiện đại, A.U.Phrede Sách đại cương về tâm lý học tư pháp. Trong các công trình này đã bày tỏ những tư tưởng vận dụng các kiến thức tâm lý một cách thuần tuý trong hoạt động cụ thể của các cơ quan điều tra và toà án. Trong các công trình của các nhà bác học người Đức như I.Gophbauera Tâm lý trong việc áp dụng các cơ sở của nó vào cuộc sống tư pháp (1808) và I.Phridrikha Sự điều hành một cách hệ thống trong tâm lý học tư pháp đã thử nghiệm sử dụng các số liệu tâm lý khi điều tra tội phạm. Các vấn đề tâm lý đánh giá lời khai của người làm chứng đã lôi cuốn nhà toán học người Pháp Laplaxa. Trong tác phẩm Những kinh nghiệm triết học của thuyết xác suất được xuất bản ở Pháp năm 1814, Laplaxa đã nghiên cứu lời khai của người làm chứng song song với kết quả có thể có của bản án. Ông cho rằng các yếu tố xác suất được hình thành: Từ những xác suất của chính sự kiện mà người làm chứng kể lại; Từ những xác suất của 4 giả thiết (đối với người lấy lời khai): + Người làm chứng không nhầm lẫn và không gian dối; + Người làm chứng không gian dối, nhưng nhầm lẫn; + Người làm chứng không nhầm lẫn, nhưng gian dối; + Người làm chứng gian dối và nhầm lẫn. 2.2. Sự hình thành của tâm lý học tư pháp như một ngành khoa học độc lập Tâm lý học tư pháp được hình thành vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của tâm lý học, tâm thần học và một loạt các ngành khoa học pháp lý (trước tiên là luật hình sự). Sự phát triển của tâm lý học, tâm thần học và luật học đã dẫn đến tính tất yếu của việc hình thành tâm lý học tư pháp như một ngành khoa học độc lập. Vào năm 1899 P.I.Côvalevxki đã đề xuất vấn đề: Phân chia tâm lý học bệnh nhân và tâm lý học tư pháp; đưa những ngành khoa học này vào chương trình giáo dục khoa học pháp lý. Tâm lý học tư pháp ở Đức được phát triển mạnh mẽ hơn cả. Ở đây lần đầu tiên có sự tổng hợp theo kinh nghiệm các yếu tố liên quan đến đặc điểm tâm lý của hành vi phạm tội, tâm lý nhân cách của người phạm tội và đặc điểm tâm lý lời khai của người làm chứng đã bắt đầu được thực hiện rộng rãi. Cuối thế kỷ XIX cùng với sự ra đời của tội phạm học, tâm lý học tội phạm cũng được hình thành. Năm 1898, nhà tội phạm học Gans Gross đã sáng lập ra tác phẩm lớn Tâm lý học tội phạm. Ông cho rằng: Tâm lý học tư pháp là một ngành tâm lý học ứng dụng. Cần có ngành khoa học tâm lý ứng dụng đặc trưng để nắm bắt những quy tắc điều khiển các quá trình tâm lý trong hoạt động tư pháp.(1) Trong tác phẩm Tâm lý học tội phạm, G. Gross đã sử dụng rộng rãi các tư liệu từ lĩnh vực tâm lý học thực nghiệm (kết quả nghiên cứu của V. Vuntơ, G.Ebbingauz, G. Ribo, A. Bine v.v.) và đã chỉ ra ý nghĩa của tư liệu này đối với tội phạm học. Đầu thế kỷ XX trong tâm lý học tư pháp bắt đầu xuất hiện các phương pháp thực nghiệm điều tra. Phần lớn các công trình ở giai đoạn này đều dành cho việc nghiên cứu tâm lý lời khai của người làm chứng. Như công trình của I.N.Khôntrev Lời gian dối viển vông, Gr. Portyganlov lời khai của người làm chứng (1903), E.M.Culiser Tâm lý lời khai của người làm chứng và điều tra tư pháp (1904). Về đề tài này đã có những bài báo cáo của M. M. Khơmiancov vấn đề về tâm lý của người làm chứng (1903); A. V. Zavađki và A. I. Elistratov những ảnh hưởng của các vấn đề thiếu ám thị đến độ tin cậy của lời khai người làm chứng (1904), O. B. Gônđovski Tâm lý lời khai của người làm chứng (1904). (1). Gross G. Criminalpsychology. Garz, 1898, p. 3. Trong nghiên cứu tâm lý điều tra hành vi phạm tội bước tiến quan trọng là áp dụng một cách trực tiếp phương pháp thực nghiệm tâm lý. Một trong những nhà sáng lập ra phương pháp này là nhà tâm lý học người Pháp Anphređ Bine. Lần đầu tiên ông đã nghiên cứu về sự ảnh hưởng của ám thị đối với lời khai của trẻ em bằng con đường thực nghiệm. Năm 1900 ông đã viết cuốn sách ám thị. Trong một chương của cuốn sách này ông đã đề cập đến sự ảnh hưởng của ám thị đến lời khai của trẻ em. Nhà tâm lý học người Đức Vinliam Stern đã tiến hành một loạt các thực nghiệm về tâm lý lời khai của người làm chứng. Ông đã cộng tác với G. Gross xuất bản cuốn tạp chí Những báo cáo về tâm lý của lời khai (Leipzig, 1903 1906). Việc nghiên cứu tâm lý học tội phạm được tiến hành ở nhiều nước: Ở Pháp có Klapaređ, ở Mỹ có Mêiers, cũng như Mikin Cettel vào năm 1895 đã tiến hành thực nghiệm trí nhớ của sinh viên và sau đó lập chỉ số mức độ chính xác của lời khai người làm chứng. Ở Nga có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề tâm lý của lời khai người làm chứng, như M. M. Khômiacov, M.P.Bukhvanlova, A. N. Berxtein, E. M. Culisev v.v.. Năm 1905, tại đây đã ra tuyển tập Những vấn đề tâm lý. Tính gian dối và những lời khai của người làm chứng. Thế kỷ XIX Trezare Lômbrôzo là một trong những người đầu tiên thử giải thích bản chất của hành vi phạm tội theo quan điểm chủng tộc học. Đến ngày nay thuyết của Lômbrôzo vẫn được kế tục. Những tiếng vang của thuyết này có thể tìm thấy trong các thuyết khoa học hiện đại, như trong học thuyết Phrớt và học thuyết Phrớt mới về sự thù địch bẩm sinh và những ham mê phá hoại. Cuối thế kỷ XIX, các quan niệm tâm lý học và xã hội học về bản chất của hành vi phạm tội được mở rộng. Các nhà tâm lý học và xã hội học như Gabriel Tarđ, Emil Diurkgeim, Maks Veber, L. Levi Briul v.v. đã bắt đầu quan tâm đến những nguyên nhân của tình trạng phạm tội. Vào những năm đầu tiên của chính quyền Xô Viết, sự quan tâm của xã hội đến các vấn đề về hoạt động tư pháp và về nhân thân người phạm tội đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của tâm lý học tư pháp. Ngay từ ngày đầu thành lập, Nhà nước Xô Viết đã bắt đầu tìm kiếm các biện pháp phòng ngừa tình trạng phạm tội và các cách thức để cải tạo, cảm hóa, giáo dục người vi phạm pháp luật. Năm 1925 lần đầu tiên trên thế giới ở Liên Xô (cũ) đã thành lập Viện quốc gia nghiên cứu tình trạng phạm tội và tội phạm. Trong vòng năm năm hoạt động của mình Viện đã dành nhiều công trình khoa học lớn cho ngành tâm lý học tư pháp. Nhiều viện và cơ quan nghiên cứu về tội phạm, về nhân thân người phạm tội đã được thành lập ở Matxcơva, Lêningrát, Saratov, Kiev, Kharcov, Minsk, Bacu v.v.. Nhà tâm lý học A. R. Luria đã tiến hành những nghiên cứu khoa học trong phòng thí nghiệm tâm lý thực nghiệm. Phòng thí nghiệm này được thành lập năm 1927 tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Matxcơva. Ông nghiên cứu những khả năng áp dụng các phương pháp tâm lý thực nghiệm để điều tra hành vi phạm tội. Trong thời kỳ này A. P. Cônhi cũng góp phần lớn lao vào sự phát triển của tâm lý học tư pháp. Năm 1922 ông đã viết cuốn sách Trí nhớ và chú ý, trong cuốn sách này đã trình bày các vấn đề về lời khai của người làm chứng. Nhà tâm lý học Nga A. V. Pêtrovski đã đánh giá thực chất của sự nghiên cứu tâm lý học tư pháp ở giai đoạn này như sau: Vào những năm 20 Tâm lý học tư pháp là ngành khoa học rộng lớn và có uy tín, nghiên cứu điều kiện phạm tội, đời sống và tâm lý của các nhóm tội phạm khác nhau, tâm lý lời khai của người làm chứng và giám định tâm thần học tư pháp, tâm lý cải tạo lao động.(1) Vào đầu những năm 30, việc nghiên cứu tâm lý học tư pháp cũng như việc nghiên cứu các lĩnh vực tâm lý học lao động, tâm lý xã hội, tâm lý y học đều dừng lại, và đến giữa những năm 50 sự phát triển của ngành khoa học này bị gián đoạn. Từ những năm 60 trở đi, những vấn đề bức thiết về tâm lý học tư pháp lại bắt đầu được thảo luận. Khi đó ở các nước phương tây, các công trình khoa học được công bố: R.Luvaz Tâm lý học và tình trạng phạm tội (Gamburg, 1960); G. Tokh Tâm lý học tư pháp và tâm lý học tội phạm (New York, 1961), T.Bôgđan chương trình về tâm lý học tư pháp (Ruma ni, 1960); tập thể tác giả Những cơ sở về tâm lý học tư pháp (Tiệp Khắc, 1964) v.v.. Năm 19651966, Bộ giáo dục Liên Xô (cũ) đã ra quyết định đưa môn tâm lý học tư pháp vào giảng dạy ở các trường đại học luật của các thành phố Matxcơva, Lêningrát, Minsk v.v..(1). Pêtrovski A. V., Lịch sử tâm lý học Xô Viết, M. 1976, tr. 181. Tháng 5 năm 1971, ở Matxcơva đã tổ chức hội nghị lần đầu tiên toàn liên bang về tâm lý học tư pháp. Chính hội nghị này đã tạo ra những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển của tâm lý học tư pháp. Và sau một thời gian một loạt các công trình khoa học trong lĩnh vực tâm lý học tư pháp được công bố. Như A.V.Đulov Tâm lý học tư pháp (Minsk, 1975); V.L.Vaxilev Tâm lý học tư pháp. Bài tập thực hành đối với điều tra viên (M. 1979) và Tâm lý học pháp lý (M, 1974) v.v.. Tháng 9 năm 1986 tại thành phố Tartu (Etstônhia), đã tổ chức hội nghị toàn liên bang về tâm lý học tư pháp. Trong hội nghị này người ta đã thảo luận những vấn đề về phương pháp và cấu trúc của tâm lý học tư pháp. Tháng 6 năm 1989, tại Lêningrát đã tổ chức cuộc hội thảo toàn liên bang của các giảng viên thuộc chuyên ngành tâm lý pháp lý của cả nước. Các thành viên của cuộc hội thảo đã xem xét và thông qua báo cáo của V.L.Vaxilev về chương trình giảng dạy đại học của môn Tâm lý học pháp lý. Căn cứ vào chương trình này, V.L. Vaxilev đã viết giáo trình Tâm lý học pháp lý (M. 1991); IU.V.Trupharovski Tâm lý học pháp lý (M. 1997); M.I. Enhinkev Những cơ sở của tâm lý học đại cương và tâm lý học pháp lý (M. 1997). Ngày nay, ở Liên bang Nga cũng như ở một số nước trên thế giới, trong lĩnh vực tâm lý học tư pháp việc nghiên cứu được tiến hành trên những phương diện: Những vấn đề chung của tâm lý học tư pháp (đối tượng, nhiệm vụ, hệ thống các phương pháp, lịch sử, mối liên hệ với các ngành khoa học khác); Tâm lý của hoạt động điều tra; Tâm lý của hoạt động xét xử; Đặc điểm tâm lý của những người vi phạm pháp luật ở lứa tuổi chưa thành niên; Tâm lý của hoạt động cải tạo lao động. 3. CÁC NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA TÂM LÝ HỌC TƯ PHÁP 3.1. Các nguyên tắc nghiên cứu tâm lý học tư pháp 3.1.1. Nguyên tắc khách quan Nghiên cứu khách quan các hiện tượng tâm lý là vấn đề có tính chất nguyên tắc. Nghiên cứu một cách khách quan trước hết phải nghiên cứu chính bản thân các hiện tượng, các đặc điểm, các quy luật tâm lý của chủ thể và khách thể trong hoạt động tư pháp. Phải xem xét sự vật, hiện tượng như chúng vốn có trong thực tế, và phản ánh đúng mọi diễn biến và biểu hiện của chúng. Nguyên tắc này không cho phép các nhà nghiên cứu phán đoán một cách chủ quan, tuỳ tiện đưa ra những kết luận thiếu cơ sở khoa học. 3.1.2. Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng Nguyên tắc này khẳng định tâm lý có nguồn gốc là thế giới khách quan tác động vào bộ não con người thông qua “lăng kính chủ quan” của con người. Các tác động bên ngoài vào con người đóng vai trò quyết định thông qua các điều kiện bên trong. Các tác động từ bên ngoài đó là thế giới bên ngoài con người, bao gồm những điều kiện, đặc trưng của hoàn cảnh xã hội – lịch sử cụ thể, môi trường xã hội với tất cả các mối quan hệ xã hội mà các cá nhân tham gia vào đó, các điều kiện sống và làm việc của cá nhân, gia đình... Các điều kiện bên trong chính là những cái quy định đặc điểm tâm, sinh lý cá thể, bao gồm các đặc điểm sinh vật của cá thể, các đặc điểm hoạt động thần kinh cấp cao với các quy luật của nó, các đặc điểm tâm lý của nhân cách biểu hiện ở trình độ hiểu biết, vốn sống, nhu cầu, tính cách, năng lực... Các điều kiện điều kiện bên ngoài là nguyên nhân quyết định việc nảy sinh các diễn biến tâm lý khác nhau của con người, nhưng cái bên ngoài muốn phát huy tác dụng phải thông qua các điều kiện bên trong của chủ thể. Do đó, nhất thiết phải nghiên cứu các điều kiện, hoàn cảnh mà trong đó các phẩm chất tâm lý của cá nhân được hình thành và phát triển. 3.1.3. Nguyên tắc thống nhất tâm lý ý thức và hoạt động Tâm lý con người được biểu hiện trong hoạt động và đóng vai trò định hướng, điều khiển hoạt động, đồng thời thông qua hoạt động, tâm lý – ý thức con người được nảy sinh, hình thành, phát triển. Tâm lý – ý thức và hoạt động của con người là thống nhất trong mối quan hệ biện chứng. Nguyên tắc thống nhất giữa tâm lý – ý thức và hoạt động có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong hoạt động tư pháp. Nghiên cứu phán xét tâm lý của những người tham gia tố tụng phải thông qua các biểu hiện trong hành vi và hoạt động cụ thể của họ. V.I. Lênin đã chỉ rõ: “Chúng ta nên dựa vào những tiêu chuẩn nào để phán đoán tư tưởng và tình cảm chân thực của những con người chân thực? Rõ ràng chỉ có một tiêu chuẩn, đó là những hoạt động của họ”.(1) “Phán đoán một con người không phải dựa vào lời nói và phương pháp suy nghĩ của họ mà dựa vào hành vi của họ”.(2) 3.1.4. Nguyên tắc vận động phát triển Phải xem xét tâm lý của chủ thể và khách thể trong lĩnh vực hoạt động tư pháp bằng lăng kính biện chứng. Đời sống của con người vô cùng sinh động, tâm lý của con người luôn luôn thay đổi không bao giờ cố định. Nghiên cứu tâm lý con người nhất định phải tuân thủ nguyên tắc vận động phát triển. Phải nghiên cứu nhân cách trong sự hình thành, phát triển và biến đổi của nó. Khi nghiên cứu nhân cách cần phải đối chiếu các thông tin về cá nhân trong các thời kỳ khác nhau. 3.1.5. Nguyên tắc tiếp cận nhân cách Khi nghiên cứu tâm lý con người nói chung và tâm lý những người tiến hành, tham gia tố tụng nói riêng phải tiếp cận với từng con người cụ thể với toàn diện các mặt, các phẩm chất thuộc tính của họ từ xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực. Phải phân tích để thấy được sự tác động qua lại của các yếu tố xã hội và yếu tố sinh vật trong qúa trình hình thành và phát triển của mỗi một nhân cách cụ thể. Ở đây, cần chú ý làm rõ cả những mặt mạnh và cả những mặt yếu của các nhân cách.

Trang 1

1

Trang 2

1390-2019/CXBIPH/23-14/CAND

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Giáo trình

TÂM LÝ HỌC TƯ PHÁP

NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN

HÀ NỘI - 2019

Trang 4

Chủ biên

PGS.TS ĐẶNG THANH NGA

Tập thể tác giả

PGS.TS ĐẶNG THANH NGA Chương I, II, III, IV

ThS ĐỖ HIỀN MINH Chương VI, VII

TS CHU LIÊN ANH và

TS CHU VĂN ĐỨC

Chương VIII

Trang 5

PHẦN INHỮNG VẤN ĐỀ CHUNGCỦA TÂM LÝ HỌC TƯ

PHÁP

CHƯƠNG I

ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU CỦA TÂM LÝ HỌC TƯ PHÁP

1 ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ CỦA TÂM LÝ HỌC TƯPHÁP

1.1 Đối tượng của tâm lý học tư pháp

Tâm lý học tư pháp là một ngành khoa học độc lập Nó làcầu nối giữa khoa học pháp lý và khoa học tâm lý Tâm lý học

tư pháp được coi là một chuyên ngành ứng dụng của khoa họctâm lý Vì vậy, đối tượng nghiên cứu của nó là các quy luậtnảy sinh, phát triển và biểu hiện của các hiện tượng tâm lý, cácquy luật hình thành phẩm chất tâm lý của con người trong hoạtđộng tư pháp

Tâm lý học tư pháp dành phần lớn các nghiên cứu củamình vào việc xây dựng các biện pháp, cách thức tác động vàocác hoạt động tố tụng nhằm xác định sự thật khách quan của vụán

Trang 6

Tâm lý học tư pháp nghiên cứu các quy luật nảy sinh, pháttriển của những phẩm chất tâm lý dẫn con người đến thực hiện

Trang 7

các hành vi chống đối pháp luật, nghiên cứu sự thay đổi vàphát triển của những hiện tượng tâm lý trong các hoạt động tốtụng v.v

Ngoài các quy luật tâm lý nói trên, tâm lý học tư pháp cònnghiên cứu những mô hình hoạt động thực tiễn và đề ra nhữngyêu cầu tâm lý đối với các điều tra viên, thẩm phán, kiểm sátviên, nhằm giúp họ thực hiện tốt các chức năng được giao.Tâm lý học tư pháp cũng nghiên cứu các phương pháp tâm lý

áp dụng vào hoạt động tư pháp

Tâm lý học tư pháp giúp cho các cán bộ hoạt động tronglĩnh vực tư pháp có những hiểu biết cần thiết về các quy luậttâm lý, để họ có thể nhanh chóng nghiên cứu, phân tích, đánhgiá, làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án

Như vậy, tâm lý học tư pháp là một ngành tâm lý học ứng

dụng nghiên cứu các quy luật và các đặc điểm tâm lý của con người biểu hiện trong các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh.

1.2 Nhiệm vụ của tâm lý học tư pháp

Tâm lý học tư pháp nghiên cứu:

- Các cơ sở tâm lý của hành vi tuân thủ pháp luật (ý thứcpháp luật, đạo đức, ý thức xã hội, những chuẩn mực xã hội);

- Những khía cạnh tâm lý của hoạt động tư pháp (nhữngkhía cạnh tâm lý của hoạt động điều tra, xét xử các vụ án hình

sự, dân sự);

- Đặc điểm tâm lý của những người tham gia tố tụng trongcác vụ án hình sự, dân sự (bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên

Trang 8

đơn, bị đơn, người làm chứng, những người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan );

- Nguyên nhân và điều kiện phạm tội, những đặc điểm tâm

lý của hành vi phạm tội;

- Cơ sở tâm lý của của hoạt động cải tạo phạm nhân;

- Những phẩm chất tâm lý của những người tiến hành tốtụng (điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhândân);

- Những khía cạnh tâm lý của các quan hệ tài sản, kinh tế

và nhân thân được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự;

- Những tác động tâm lý của pháp luật và của các cơ quanbảo vệ pháp luật đối với từng cá nhân và các nhóm riêng biệt

2 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TÂM LÝ HỌC

TƯ PHÁP

Tâm lý học tư pháp là một trong những ngành khoa họcnon trẻ của khoa học tâm lý Nhưng những thử nghiệm giảiquyết một cách hệ thống một số nhiệm vụ của hoạt động tưpháp bằng các phương pháp tâm lý học đã đưa vào từ thế kỷXVIII

Quá trình phát triển của tâm lý học tư pháp có thể chiathành ba giai đoạn:

- Lịch sử sơ khai của tâm lý học tư pháp;

- Sự hình thành của tâm lý học tư pháp như một ngànhkhoa học độc lập;

Trang 9

- Lịch sử của tâm lý học tư pháp ở thế kỷ XX.

Trang 10

Như phần lớn các ngành khoa học mới xuất hiện ở ranhgiới những lĩnh vực khác nhau của tri thức loài người, tâm lýhọc tư pháp trong các giai đoạn phát triển đầu tiên của mìnhkhông có tính độc lập và không có những nhà khoa học chuyênngành Vì vậy, các nhà tâm lý học, luật học và thậm chí cácchuyên gia ở các lĩnh vực khoa học khác cũng đã thử nghiệmgiải quyết các vấn đề thuộc môn khoa học này Giai đoạn pháttriển đầu tiên của tâm lý học tư pháp gắn liền với tính tất yếuhướng khoa học luật đến với tâm lý học để giải quyết cácnhiệm vụ đặc trưng, khi các nhiệm vụ này không thể giải quyếtbằng các phương pháp luật học truyền thống Cũng như nhiềungành khoa học tâm lý khác, tâm lý học tư pháp đi từ việc xâydựng trừu tượng thuần túy đến sự nghiên cứu thực nghiệmkhoa học.

Một trong những tác giả đầu tiên đã nghiên cứu một loạtcác khía cạnh tâm lý học tư pháp và tư tưởng của chủ nghĩanhân văn là M.M.Sêrbatov (1733-1790) Trong các tác phẩmcủa mình ông đề nghị: khi soạn thảo pháp luật phải chú ý đếnđặc điểm của nhân cách con người, một trong những vấn đềđầu tiên là tăng cường miễn chấp hành hình phạt Ông đã đánhgiá cao yếu tố lao động trong việc cải tạo, cảm hóa và giáo dụcngười phạm tội

Trong các công trình của mình, I T Paxôskov 1726) đã đưa ra những kiến nghị tâm lý về việc hỏi cung bị can

(1652-và lấy lời khai người làm chứng Ông đã giải thích cách chi tiếthóa lời khai man của người làm chứng như thế nào để nhận

Trang 11

được những thông tin chính xác nhằm vạch ra sự gian dối của

họ Đồng thời ông còn đưa ra cách phân chia tội phạm

Trang 12

Việc truyền bá tư tưởng cải tạo và cảm hóa giáo dục ngườiphạm tội đã buộc pháp luật phải hướng tới tâm lý học để biệngiải một cách khoa học các vấn đề này Nghiên cứu những vấn

đề này vào đầu thế kỷ XIX ở Nga tiêu biểu là V.K.Elpatrevski,P.D.Lôdi, L.X.Gordienko v.v

Tuy vậy, trong thời gian này bản thân môn tâm lý họcmang tính siêu hình và trừu tượng, không thể liên kết với luậthình sự để thảo ra các tiêu chuẩn và các phương pháp xác đángnghiên cứu nhân cách con người

Nhiều công trình nghiên cứu về tâm lý học tư pháp xuấthiện ở Nga vào cuối thế kỷ XIX Đó là các công trình củaI.X.Barsev "Quan niệm về khoa học pháp luật hình sự", K.Ia,Ianôvitra-Ianhevskôvơ "Những tư tưởng về ngành tư pháp hình

sự xét theo quan điểm của tâm lý học và sinh lý học",L.E.Vladimirov "Các đặc điểm tâm lý của người phạm tộitrong nghiên cứu hiện đại", A.U.Phrede "Sách đại cương vềtâm lý học tư pháp" Trong các công trình này đã bày tỏ những

tư tưởng vận dụng các kiến thức tâm lý một cách thuần tuýtrong hoạt động cụ thể của các cơ quan điều tra và toà án.Trong các công trình của các nhà bác học người Đức nhưI.Gophbauera "Tâm lý trong việc áp dụng các cơ sở của nó vàocuộc sống tư pháp" (1808) và I.Phridrikha "Sự điều hành mộtcách hệ thống trong tâm lý học tư pháp" đã thử nghiệm sửdụng các số liệu tâm lý khi điều tra tội phạm

Các vấn đề tâm lý đánh giá lời khai của người làm chứng

đã lôi cuốn nhà toán học người Pháp Laplaxa Trong tác phẩm

"Những kinh nghiệm triết học của thuyết xác suất" được xuấtbản ở Pháp năm 1814, Laplaxa đã nghiên cứu lời khai của

Trang 13

người làm chứng song song với kết quả có thể có của bản án Ông cho rằng các yếu tố xác suất được hình thành:

- Từ những xác suất của chính sự kiện mà người làm chứng kể lại;

- Từ những xác suất của 4 giả thiết (đối với người lấy lờikhai):

+ Người làm chứng không nhầm lẫn và không gian dối;+ Người làm chứng không gian dối, nhưng nhầm lẫn;

+ Người làm chứng không nhầm lẫn, nhưng gian dối;

+ Người làm chứng gian dối và nhầm lẫn

2.2 Sự hình thành của tâm lý học tư pháp như một ngành khoa học độc lập

Tâm lý học tư pháp được hình thành vào cuối thế kỷ XIX

và đầu thế kỷ XX gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của tâm

lý học, tâm thần học và một loạt các ngành khoa học pháp lý(trước tiên là - luật hình sự)

Sự phát triển của tâm lý học, tâm thần học và luật học đãdẫn đến tính tất yếu của việc hình thành tâm lý học tư phápnhư một ngành khoa học độc lập Vào năm 1899P.I.Côvalevxki đã đề xuất vấn đề: Phân chia tâm lý học bệnhnhân và tâm lý học tư pháp; đưa những ngành khoa học nàyvào chương trình giáo dục khoa học pháp lý

Tâm lý học tư pháp ở Đức được phát triển mạnh mẽ hơn

cả Ở đây lần đầu tiên có sự tổng hợp theo kinh nghiệm các yếu

tố liên quan đến đặc điểm tâm lý của hành vi phạm tội, tâm lýnhân cách của người phạm tội và đặc điểm tâm lý lời khai của

Trang 14

người làm chứng đã bắt đầu được thực hiện rộng rãi.

Cuối thế kỷ XIX cùng với sự ra đời của tội phạm học, tâm

lý học tội phạm cũng được hình thành

Năm 1898, nhà tội phạm học Gans Gross đã sáng lập ra tácphẩm lớn "Tâm lý học tội phạm" Ông cho rằng: Tâm lý học tưpháp là một ngành tâm lý học ứng dụng Cần có ngành khoahọc tâm lý ứng dụng đặc trưng để nắm bắt những quy tắc điềukhiển các quá trình tâm lý trong hoạt động tư pháp".(1)

Trong tác phẩm "Tâm lý học tội phạm", G Gross đã sửdụng rộng rãi các tư liệu từ lĩnh vực tâm lý học thực nghiệm(kết quả nghiên cứu của V Vuntơ, G.Ebbingauz, G Ribo, A.Bine v.v.) và đã chỉ ra ý nghĩa của tư liệu này đối với tội phạmhọc

Đầu thế kỷ XX trong tâm lý học tư pháp bắt đầu xuất hiệncác phương pháp thực nghiệm điều tra

Phần lớn các công trình ở giai đoạn này đều dành cho việcnghiên cứu tâm lý lời khai của người làm chứng Như côngtrình của I.N.Khôntrev "Lời gian dối viển vông", Gr.Portyganlov "lời khai của người làm chứng" (1903),E.M.Culiser "Tâm lý lời khai của người làm chứng và điều tra

tư pháp" (1904) Về đề tài này đã có những bài báo cáo của M

M Khơmiancov "vấn đề về tâm lý của người làm chứng"(1903); A V Zavađki và A I Elistratov "những ảnh hưởng củacác vấn đề thiếu ám thị đến độ tin cậy của lời khai người làmchứng" (1904), O B Gônđovski "Tâm lý lời khai của ngườilàm chứng" (1904)

(1) Gross G Criminalpsychology Garz, 1898, p 3.

Trang 15

Trong nghiên cứu tâm lý điều tra hành vi phạm tội bướctiến quan trọng là áp dụng một cách trực tiếp phương phápthực nghiệm tâm lý Một trong những nhà sáng lập ra phươngpháp này là nhà tâm lý học người Pháp Anphređ Bine Lần đầutiên ông đã nghiên cứu về sự ảnh hưởng của ám thị đối với lờikhai của trẻ em bằng con đường thực nghiệm Năm 1900 ông

đã viết cuốn sách "ám thị" Trong một chương của cuốn sáchnày ông đã đề cập đến sự ảnh hưởng của ám thị đến lời khaicủa trẻ em

Nhà tâm lý học người Đức Vinliam Stern đã tiến hành mộtloạt các thực nghiệm về tâm lý lời khai của người làm chứng.Ông đã cộng tác với G Gross xuất bản cuốn tạp chí "Nhữngbáo cáo về tâm lý của lời khai" (Leipzig, 1903 - 1906)

Việc nghiên cứu tâm lý học tội phạm được tiến hành ởnhiều nước: Ở Pháp có Klapaređ, ở Mỹ có Mêiers, cũng nhưMikin Cettel vào năm 1895 đã tiến hành thực nghiệm trí nhớcủa sinh viên và sau đó lập chỉ số mức độ chính xác của lờikhai người làm chứng Ở Nga có nhiều tác giả nghiên cứu vấn

đề tâm lý của lời khai người làm chứng, như M M.Khômiacov, M.P.Bukhvanlova, A N Berxtein, E M Culisevv.v Năm 1905, tại đây đã ra tuyển tập "Những vấn đề tâm lý.Tính gian dối và những lời khai của người làm chứng"

Thế kỷ XIX Trezare Lômbrôzo là một trong những ngườiđầu tiên thử giải thích bản chất của hành vi phạm tội theo quanđiểm chủng tộc học Đến ngày nay thuyết của Lômbrôzo vẫnđược kế tục Những tiếng vang của thuyết này có thể tìm thấytrong các thuyết khoa học hiện đại, như trong học thuyết Phrớt

Trang 16

và học thuyết Phrớt mới về sự thù địch bẩm sinh và nhữngham

Trang 17

mê phá hoại.

Cuối thế kỷ XIX, các quan niệm tâm lý học và xã hội học

về bản chất của hành vi phạm tội được mở rộng Các nhà tâm

lý học và xã hội học như Gabriel Tarđ, Emil Diurkgeim, MaksVeber, L Levi - Briul v.v đã bắt đầu quan tâm đến nhữngnguyên nhân của tình trạng phạm tội

Vào những năm đầu tiên của chính quyền Xô Viết, sự quantâm của xã hội đến các vấn đề về hoạt động tư pháp và về nhânthân người phạm tội đã góp phần thúc đẩy sự phát triển củatâm lý học tư pháp Ngay từ ngày đầu thành lập, Nhà nước XôViết đã bắt đầu tìm kiếm các biện pháp phòng ngừa tình trạngphạm tội và các cách thức để cải tạo, cảm hóa, giáo dục người

vi phạm pháp luật Năm 1925 lần đầu tiên trên thế giới ở Liên

Xô (cũ) đã thành lập Viện quốc gia nghiên cứu tình trạng phạmtội và tội phạm Trong vòng năm năm hoạt động của mình Viện

đã dành nhiều công trình khoa học lớn cho ngành tâm lý học tưpháp Nhiều viện và cơ quan nghiên cứu về tội phạm, về nhânthân người phạm tội đã được thành lập ở Matxcơva, Lêningrát,Saratov, Kiev, Kharcov, Minsk, Bacu v.v

Nhà tâm lý học A R Luria đã tiến hành những nghiên cứukhoa học trong phòng thí nghiệm tâm lý thực nghiệm Phòngthí nghiệm này được thành lập năm 1927 tại Viện kiểm sátnhân dân tỉnh Matxcơva Ông nghiên cứu những khả năng ápdụng các phương pháp tâm lý thực nghiệm để điều tra hành viphạm tội

Trang 18

Trong thời kỳ này A P Cônhi cũng góp phần lớn lao vào

sự phát triển của tâm lý học tư pháp Năm 1922 ông đã viếtcuốn

Trang 19

sách "Trí nhớ và chú ý", trong cuốn sách này đã trình bày cácvấn đề về lời khai của người làm chứng.

Nhà tâm lý học Nga A V Pêtrovski đã đánh giá thực chấtcủa sự nghiên cứu tâm lý học tư pháp ở giai đoạn này như sau:Vào những năm 20 "Tâm lý học tư pháp - là ngành khoa họcrộng lớn và có uy tín, nghiên cứu điều kiện phạm tội, đời sống

và tâm lý của các nhóm tội phạm khác nhau, tâm lý lời khaicủa người làm chứng và giám định tâm thần học tư pháp, tâm

lý cải tạo lao động".(1)

Vào đầu những năm 30, việc nghiên cứu tâm lý học tưpháp cũng như việc nghiên cứu các lĩnh vực tâm lý học laođộng, tâm lý xã hội, tâm lý y học đều dừng lại, và đến giữanhững năm 50 sự phát triển của ngành khoa học này bị giánđoạn

Từ những năm 60 trở đi, những vấn đề bức thiết về tâm lýhọc tư pháp lại bắt đầu được thảo luận Khi đó ở các nướcphương tây, các công trình khoa học được công bố: R.Luvaz

"Tâm lý học và tình trạng phạm tội" (Gamburg, 1960); G Tokh

"Tâm lý học tư pháp và tâm lý học tội phạm" (New York,1961), T.Bôgđan "chương trình về tâm lý học tư pháp" (Ru-ma-

ni, 1960); tập thể tác giả "Những cơ sở về tâm lý học tư pháp"(Tiệp Khắc, 1964) v.v

Năm 1965-1966, Bộ giáo dục Liên Xô (cũ) đã ra quyếtđịnh đưa môn tâm lý học tư pháp vào giảng dạy ở các trườngđại học luật của các thành phố Matxcơva, Lêningrát, Minskv.v

Trang 20

(1) Pêtrovski A V., Lịch sử tâm lý học Xô Viết, M 1976, tr 181.

Trang 21

Tháng 5 năm 1971, ở Matxcơva đã tổ chức hội nghị lần đầutiên toàn liên bang về tâm lý học tư pháp Chính hội nghị này

đã tạo ra những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho sự phát triểncủa tâm lý học tư pháp Và sau một thời gian một loạt các côngtrình khoa học trong lĩnh vực tâm lý học tư pháp được công bố.Như A.V.Đulov "Tâm lý học tư pháp" (Minsk, 1975);V.L.Vaxilev "Tâm lý học tư pháp Bài tập thực hành đối vớiđiều tra viên" (M 1979) và "Tâm lý học pháp lý" (M, 1974)v.v

Tháng 9 năm 1986 tại thành phố Tartu (Etstônhia), đã tổchức hội nghị toàn liên bang về tâm lý học tư pháp Trong hộinghị này người ta đã thảo luận những vấn đề về phương pháp vàcấu trúc của tâm lý học tư pháp

Tháng 6 năm 1989, tại Lêningrát đã tổ chức cuộc hội thảotoàn liên bang của các giảng viên thuộc chuyên ngành tâm lýpháp lý của cả nước Các thành viên của cuộc hội thảo đã xemxét và thông qua báo cáo của V.L.Vaxilev về chương trình giảngdạy đại học của môn "Tâm lý học pháp lý" Căn cứ vào chươngtrình này, V.L Vaxilev đã viết giáo trình "Tâm lý học pháp lý"(M 1991); IU.V.Trupharovski "Tâm lý học pháp lý" (M 1997);M.I Enhinkev "Những cơ sở của tâm lý học đại cương và tâm

lý học pháp lý" (M 1997)

Ngày nay, ở Liên bang Nga cũng như ở một số nước trênthế giới, trong lĩnh vực tâm lý học tư pháp việc nghiên cứuđược tiến hành trên những phương diện:

- Những vấn đề chung của tâm lý học tư pháp (đối tượng,nhiệm vụ, hệ thống các phương pháp, lịch sử, mối liên hệ với

Trang 22

các ngành khoa học khác);

- Tâm lý của hoạt động điều tra;

- Tâm lý của hoạt động xét xử;

- Đặc điểm tâm lý của những người vi phạm pháp luật ở lứa tuổi chưa thành niên;

- Tâm lý của hoạt động cải tạo lao động

3 CÁC NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊNCỨU CỦA TÂM LÝ HỌC TƯ PHÁP

3.1 Các nguyên tắc nghiên cứu tâm lý học tư pháp

3.1.1 Nguyên tắc khách quan

Nghiên cứu khách quan các hiện tượng tâm lý là vấn đề cótính chất nguyên tắc Nghiên cứu một cách khách quan trướchết phải nghiên cứu chính bản thân các hiện tượng, các đặcđiểm, các quy luật tâm lý của chủ thể và khách thể trong hoạtđộng tư pháp Phải xem xét sự vật, hiện tượng như chúng vốn

có trong thực tế, và phản ánh đúng mọi diễn biến và biểu hiệncủa chúng Nguyên tắc này không cho phép các nhà nghiên cứuphán đoán một cách chủ quan, tuỳ tiện đưa ra những kết luậnthiếu cơ sở khoa học

3.1.2 Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng

Nguyên tắc này khẳng định tâm lý có nguồn gốc là thế giớikhách quan tác động vào bộ não con người thông qua “lăngkính chủ quan” của con người Các tác động bên ngoài vào conngười đóng vai trò quyết định thông qua các điều kiện bêntrong

Trang 23

Các tác động từ bên ngoài đó là thế giới bên ngoài conngười, bao gồm những điều kiện, đặc trưng của hoàn cảnh xãhội – lịch sử cụ thể, môi trường xã hội với tất cả các mối quan

hệ xã hội mà các cá nhân tham gia vào đó, các điều kiện sống

và làm việc của cá nhân, gia đình

Các điều kiện bên trong chính là những cái quy định đặcđiểm tâm, sinh lý cá thể, bao gồm các đặc điểm sinh vật của cáthể, các đặc điểm hoạt động thần kinh cấp cao với các quy luậtcủa nó, các đặc điểm tâm lý của nhân cách biểu hiện ở trình độhiểu biết, vốn sống, nhu cầu, tính cách, năng lực

Các điều kiện điều kiện bên ngoài là nguyên nhân quyếtđịnh việc nảy sinh các diễn biến tâm lý khác nhau của conngười, nhưng cái bên ngoài muốn phát huy tác dụng phải thôngqua các điều kiện bên trong của chủ thể Do đó, nhất thiết phảinghiên cứu các điều kiện, hoàn cảnh mà trong đó các phẩmchất tâm lý của cá nhân được hình thành và phát triển

3.1.3 Nguyên tắc thống nhất tâm lý - ý thức và hoạt động

Tâm lý con người được biểu hiện trong hoạt động và đóngvai trò định hướng, điều khiển hoạt động, đồng thời thông quahoạt động, tâm lý – ý thức con người được nảy sinh, hìnhthành, phát triển Tâm lý – ý thức và hoạt động của con người

là thống nhất trong mối quan hệ biện chứng

Nguyên tắc thống nhất giữa tâm lý – ý thức và hoạt động

có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong hoạt động tư pháp Nghiêncứu phán xét tâm lý của những người tham gia tố tụng phải

Trang 24

thông qua các biểu hiện trong hành vi và hoạt động cụ thể của

họ V.I

Trang 25

Lênin đã chỉ rõ: “Chúng ta nên dựa vào những tiêu chuẩnnào để phán đoán tư tưởng và tình cảm chân thực của nhữngcon người chân thực? Rõ ràng chỉ có một tiêu chuẩn, đó lànhững hoạt động của họ”.(1) “Phán đoán một con ngườikhông phải dựa vào lời nói và phương pháp suy nghĩ của họ

mà dựa vào hành vi của họ”.(2)

3.1.4 Nguyên tắc vận động phát triển

Phải xem xét tâm lý của chủ thể và khách thể trong lĩnh vựchoạt động tư pháp bằng "lăng kính" biện chứng Đời sống củacon người vô cùng sinh động, tâm lý của con người luôn luônthay đổi không bao giờ cố định Nghiên cứu tâm lý con ngườinhất định phải tuân thủ nguyên tắc vận động phát triển Phảinghiên cứu nhân cách trong sự hình thành, phát triển và biếnđổi của nó Khi nghiên cứu nhân cách cần phải đối chiếu cácthông tin về cá nhân trong các thời kỳ khác nhau

3.1.5 Nguyên tắc tiếp cận nhân cách

Khi nghiên cứu tâm lý con người nói chung và tâm lýnhững người tiến hành, tham gia tố tụng nói riêng phải tiếp cậnvới từng con người cụ thể với toàn diện các mặt, các phẩm chấtthuộc tính của họ từ xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực.Phải phân tích để thấy được sự tác động qua lại của các yếu tố

xã hội và yếu tố sinh vật trong qúa trình hình thành và pháttriển của mỗi một nhân cách cụ thể Ở đây, cần chú ý làm rõ cảnhững mặt mạnh và cả những mặt yếu của các nhân cách

3.2 Các phương pháp nghiên cứu của tâm lý học tư

(1) V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 1, xuất bản lần thứ 4 (tiếng Nga), tr 385.

(2) V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 14, xuất bản lần thứ 4 (tiếng Nga), tr 205.

Trang 26

3.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát là tri giác hiện tượng tâm lý một cách có tổ chức,

có chủ định, có mục đích rõ ràng

Đối tượng quan sát là những biểu hiện bên ngoài của tâm

lý (hành động, cử chỉ, ngôn ngữ, vẻ mặt, dáng điệu, quan hệvới người khác v.v.) diễn ra trong điều kiện sinh hoạt tự nhiênbình thường của con người Trên cơ sở đó có thể kết luận vềnhững hiện tượng tâm lý bên trong

Nhờ tri giác tinh tế và nhạy bén các trạng thái tâm lý quanét mặt, cử chỉ, ngữ điệu của lời nói mà chủ thể giao tiếp cóthể phát hiện chính xác và đầy đủ thái độ của đối tượng Ngônngữ diễn tả tình cảm hay còn gọi là ngôn ngữ biểu cảm rấtphong phú Nó thể hiện tính cách, trí tuệ, tình cảm, ý chí củacon người Tính chủ động hay thụ động, tính chân thành haygiả dối, tính tin tưởng hay hoài nghi đều in "dấu" trong giọngnói và nhịp điệu của lời nói Ví dụ: khi xúc động, giọng nóihổn hển, lời nói ngắt quãng; khi vui vẻ, nhịp nói nhanh; khibuồn, giọng trầm và nhịp chậm; khi ra lệnh, giọng cươngquyết, sắc, gọn Trạng thái xúc cảm của con người cũng thườngđược biểu hiện ở nét mặt, cử chỉ, hành vi Ví dụ: Khi sợ hãi,mặt người ta trở nên tái nhợt, hành động bị gò bó, khi bối rối,xấu hổ mặt người ta đỏ bừng, toát mồ hôi

Trong quan sát có thể trực tiếp tiếp xúc với đối tượng (điềutra viên quan sát hành vi, cử chỉ, nét mặt v.v của bị can trongkhi tiến hành hỏi cung họ) hoặc gián tiếp (qua người khác hoặc

Trang 27

qua tài liệu Ví dụ: qua kết quả ghi chép của các giám địnhviên).

Khi quan sát, cần phải lưu ý:

- Xác định trước những hiện tượng cần quan sát, lậpchương trình quan sát và cách ghi chép kết quả quan sát, cũngnhư xác định vai trò, vị trí giữa người quan sát với đối tượngnghiên cứu;

- Dùng các phương tiện kỹ thuật, những không để đốitượng quan sát biết;

- Phải có những phương pháp khác hỗ trợ để có thể đánhgiá bản chất đối tượng quan sát một cách đầy đủ

3.2.2 Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn

Đây là phương pháp nhận thức đặc điểm tâm lý của conngười thông qua giao tiếp ngôn ngữ với họ Bằng cách đặt ranhững câu hỏi và dựa vào trả lời của đối tượng để trao đổi, hỏithêm nhằm thu nhận những thông tin về vấn đề cần nghiêncứu

Đàm thoại, phỏng vấn phải được diễn ra trong không khíthân mật chân thành, tin cậy, thoải mái, không gò bó, giữ kẽ vàgiả tạo Thông qua đàm thoại, phỏng vấn có thể hiểu được tâmtrạng, cảm xúc, trình độ học vấn, hứng thú, nhu cầu, thế giớiquan, tính cách, khí chất, và năng lực của đối tượng nghiêncứu

Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong hoạt động tưpháp và thường kết hợp với phương pháp quan sát Ví dụ: Khi

Trang 28

tiến hành lấy lời khai của các đương sự, thẩm phán có thể quansát hành vi, cử chỉ, nét mặt của họ.

Muốn đàm thoại, phỏng vấn thu được kết quả tốt, cần:

Trang 29

- Xác định rõ mục đích yêu cầu nghiên cứu tâm lý qua đàmthoại để đi đúng phương hướng nghiên cứu tránh lan man;

- Phải chủ động dẫn dắt câu chuyện đến chỗ cần tìm hiểu;

- Tránh lối đặt câu hỏi sẵn kiểu vấn đáp, tránh những câuhỏi có thể dẫn đối tượng đến chỗ trả lời máy móc “có” hoặc

“không”;

- Làm cho câu chuyện mang sắc thái tranh luận khi cầnthiết

3.2.3 Phương pháp nghiên cứu hồ sơ, tài liệu độc lập

Các đặc trưng tâm lý của đối tượng (một con người cụ thể,một nhóm người, tập thể người ) thường được ghi lại dấu ấntrong các tài liệu độc lập khác nhau (như trong báo cáo tổngkết quí, năm của cơ quan, của ngành ) Khái quát các tài liệuđộc lập này có thể giúp ta đưa ra những kết luận nhất định vềđối tượng nghiên cứu Vì các tài liệu thu được là chính thốngnên các sự kiện, con số nhận được mang tính chân thực và tạođiều kiện cho người nghiên cứu tiếp tục phân tích các sự kiện,hiện tượng một cách khách quan, có hiệu quả

3.2.4 Phương pháp thực nghiệm

Phương pháp thực nghiệm là phương pháp mà trong đó nhànghiên cứu chủ động tạo ra các hiện tượng cần nghiên cứu, saukhi đã tạo ra điều kiện cần thiết loại trừ yếu tố ngẫu nhiên.Phương pháp thực nghiệm có những đặc điểm:

- Tạo ra tình huống riêng biệt để có thể quan sát hiện tượngcần nghiên cứu trong dạng thuần túy của nó;

- Sắp lại hiện tượng đó nhiều lần tùy theo mức độ cần thiết

Trang 30

* Thực nghiệm trong tự nhiên: Là thực nghiệm dựa vào

điều kiện hoạt động bình thường của đối tượng nghiên cứu(hoàn cảnh sinh hoạt, học tập, công tác) để thực hiện chươngtrình thí nghiệm đã định Ví dụ: có thể tiến hành thực nghiệmtìm hiểu thái độ của bị can, bị cáo, nguyên đơn, bị đơn thôngqua giao tiếp được tiến hành tại gia đình hoặc nơi làm việc củahọ

Ưu điểm của phương pháp này là tránh được tính giả tạo cóảnh hưởng đến diễn biến tâm lý của đối tượng

* Thực nghiệm tâm lý giáo dục: Là những điều kiện giáo

dục học tập thường áp dụng trong việc cải tạo nhằm luyện tậpcho phạm nhân có thói quen và kỹ xảo trong lao động, thái độmới đối với tập thể và xã hội và cách nhìn nhận mới trong hànhvi

* Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm: Là nhằm nghiên

cứu những đặc điểm của hoạt động tâm lý trong những điềukiện do người nghiên cứu tạo ra Phương pháp này dựa theonguyên lý mô hình hóa tâm lý của hoạt động, cho phép táchbiệt ra một bộ phận của hoạt động toàn vẹn để có thể đo lường

nó đến độ chính xác cần thiết Đặc trưng của phương pháp này

là sử dụng những máy móc tinh vi phức tạp Ví dụ: có thể dùngmáy đo chính xác các biểu hiện nảy sinh bên trong của tâm lý

Trang 31

như sự biến đổi điện sinh ở não khi tư duy, hoạt động timmạch khi cảm xúc.

Phương pháp thực nghiệm có ưu khuyết điểm sau:

Ưu điểm: Người làm thực nghiệm tự tạo ra điều kiện làmnảy sinh và phát triển đặc điểm tâm lý nào đó để nghiên cứu, vìthế có thể tiến hành nghiên cứu một cách chủ động

Nhược điểm: Khó sử dụng các kỹ thuật thí nghiệm trongđiều kiện hoạt động thực tiễn của các cơ bảo vệ pháp luật,không tránh khỏi được tính giả tạo trong khi tiến hành thựcnghiệm Vì vậy cần phải bổ sung bằng kết quả nghiên cứu củacác phương pháp khác

3.2.5 Phương pháp trắc nghiệm

Test là một hệ thống biện pháp đã được chuẩn hoá về kỹthuật, được quy định về nội dung và cách làm, nhằm đánh giáứng xử và kết quả hoạt động của một hay nhiều người, cungcấp một chỉ báo về tâm lý như trí lực, xúc cảm, năng lực, tínhcách, khí chất

Trong tâm lý học đã có một hệ thống test về nhận thức,năng lực, nhân cách như:

- Test trí tuệ của Bi nê - xi mông;

- Test trí tuệ của Raven;

- Test nhân cách của Aysencơ (H Eysenck) giúp ta tìmhiểu tính cách của con người

3.2.6 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động

Đó là phương pháp dựa vào kết quả, sản phẩm của hoạt động do con người làm ra để nghiên cứu các đặc điểm tâm lý

Trang 32

của con người đó, bởi vì tâm lý – ý thức con người được biểuhiện trong hành vi và hoạt động cụ thể của họ.

Căn cứ vào kết quả đó có thể biết được những hứng thú, kỹnăng, kỹ xảo nghề nghiệp và trạng thái tâm lý của đối tượng.Chẳng hạn, phân tích đặc điểm các dấu vết hoạt động phạm tội,

có thể xác định được động cơ, mục đích, thói quen, trạng tháitâm lý của người phạm tội

Do những khó khăn nhất định (không biết được quá trìnhlàm ra nó, không biết hoàn cảnh trong đó nó được làm ra )nên muốn sử dụng tốt phương pháp này cần:

- Tìm cách "dựng lại" càng đầy đủ càng tốt quá trình hoạtđộng đưa đến sản phẩm mà ta nghiên cứu;

- Tìm cách "phục hồi" lại (có thể bằng đàm thoại, phỏngvấn ) hoàn cảnh trong đó sản phẩm được làm ra;

- Tìm hiểu các mặt tâm lý khác của thể nghiệm ngoài mặt

đã thể hiện trong sản phẩm (đàm thoại, phỏng vấn, quan sát,test )

3.2.7 Phương pháp điều tra (phương pháp bảng câu hỏi)

Phương pháp điều tra là phương pháp dùng một số câu hỏinhất loạt đặt ra cho một số lớn đối tượng nghiên cứu nhằm thuthập ý kiến chủ quan của họ về một vấn đề Câu hỏi dùng đểđiều tra có thể là câu hỏi đóng, tức là có nhiều đáp án sẵn đểđối tượng chọn một trong hai như: "có", "không", "đúng",

"không đúng", "biết", "không biết", "đồng ý", "không đồng ý"; cóthể là câu hỏi mở, để người được hỏi tự do diễn đạt ý kiến củamình về vấn đề được hỏi; cũng có thể là câu hỏi nửa đóng, kết

Trang 33

hợp danh mục các phương án trả lời dành cho người được hỏikhả năng phủ định chúng và trả lời theo ý mình.

Dùng phương pháp này có thể trong một thời gian ngắn thuthập được một số ý kiến của nhiều người, nhưng là ý kiến chủquan Để có tài liệu tương đối chính xác, cần soạn kỹ bảnhướng dẫn điều tra (người sẽ phổ biến bản câu hỏi điều tra chocác đối tượng) vì nếu những người này phổ biến một cách tùytiện thì kết quả sẽ rất khác nhau và không có giá trị khoa học.Dựa vào các phiếu điều tra người ta nghiên cứu các phẩmchất tâm lý của những người tiến hành tố tụng (điều tra viên,kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân), và đặc điểm tâm

lý của những người tham gia tố tụng (bị can, bị cáo, nguyênđơn, bị đơn )

3.2.8 Phương pháp nghiên cứu tiểu sử

Con người là chủ thể của các hoạt động xã hội Do đó,những tài liệu về đời sống và hoạt động của cá nhân có ý nghĩanhất định đối với việc nghiên cứu tâm lý của con người.Những tài liệu này có thể là tự thuật, nhật ký, thư từ, hồi kýhoặc có thể là những tư liệu do người khác viết về đối tượngnghiên cứu Những tài liệu này giúp phát hiện ra những biểuhiện của hoạt động tâm lý đã xảy ra trong quá khứ Phươngpháp nghiên cứu tiểu sử góp phần cung cấp một số tài liệu choviệc chuẩn đoán tâm lý

Trang 34

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP,ĐỊNH HƯỚNG THẢO LUẬN

1 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học tư pháp

2 Trình bày sơ lược lịch sử tâm lý học tư pháp

3 Trình bày các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứucủa tâm lý học tư pháp

Trang 35

CHƯƠNG II

CÁC PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG TÂM LÝ

TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

1 TÁC ĐỘNG TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

1.1 Khái niệm tác động tâm lý

Tác động tâm lý là một trong các hình thức tác động qua lạigiữa các cá nhân trong quá trình sống và hoạt động của họ.Tác động tâm lý là tác động giữa con người với con ngườiđược thực hiện trong quá trình giao tiếp Thông qua tác độngtâm lý chủ thể tác động điều chỉnh thái độ, hành vi của người

bị tác động theo mục đích của mình

Tác động tâm lý là một hình thức phức tạp nhất Nó là mộtquá trình, một hoạt động do chủ thể nhất định thực hiện, đó làcon người thực tiễn, con người hành động L.V.Petrencô đã

viết: “Tác động tâm lý trước hết là một quá trình, một hoạt

động, chứ không đơn thuần chỉ là một vài cử chỉ, tác động đơn điệu Hoạt động ấy thể hiện bằng các hành động và cách thức tác động với mục đích cụ thể khác nhau ”.(1)

Tác động tâm lý là sự tác động có mục đích của một cá

(1) L.V.Petrecô, Tâm lý học nghiệp vụ trinh sát, Trường Đại học An ninh nhân

dân, 1999, tr 89.

Trang 36

nhân hay một bộ phận người này đến một cá nhân hay một bộphận người khác thông qua các phương pháp, chiến thuật tâm

lý Đó là sự tác động vào nhận thức, tình cảm, ý chí của conngười nhằm làm thay đổi, hình thành, hay xoá bỏ những đặcđiểm tâm lý nào đó của họ

Như vậy, tác động tâm lý là sự tác động có tổ chức, kế

hoạch, hệ thống của cá nhân hay của một bộ phận người này đến một cá nhân hay một bộ phận người khác nhằm làm thay đổi, hình thành hay xoá bỏ những đặc điểm tâm lý nào

tố tụng nhằm chuyển biến và thay đổi những đặc điểm tâm

lý nào đó của họ đáp ứng các yêu cầu cụ thể của hoạt động

tư pháp.

Các tác động tâm lý được thực hiện bằng các phương tiệnnhư cử chỉ, hành vi, điệu bộ, hành động, ngôn ngữ nói hayngôn ngữ viết Nhờ các phương tiện này thông tin được chuyển

từ người này tới người khác làm ảnh hưởng và thay đổi tâm lýcủa người bị tác động theo hướng đã định từ trước

Tác động tâm lý trong hoạt động tư pháp có nét đặc trưng

là cách thức và nội dung của việc tác động được xác định bởimục đích và điều kiện tố tụng

Trang 37

1.3 Mục đích và nguyên tắc tác động tâm lý trong hoạt động tư pháp

1.3.1 Mục đích tác động tâm lý trong hoạt động tư pháp

Trong hoạt động tư pháp, các tác động tâm lý chủ yếu donhững người tiến hành tố tụng sử dụng nhằm đạt các mục đíchsau đây:

- Xác định sự thật khách quan về vụ án trong quá trình điềutra, xét xử;

- Khắc phục những động cơ tiêu cực, khơi dậy những động

cơ tích cực ở những người tham gia tố tụng, tạo điều kiện choviệc xác lập chứng cứ thông qua lời khai của họ được nhanhchóng, chính xác và khách quan;

- Kích thích tính tích cực hoạt động của những người tiếnhành tố tụng và những người tham gia tố tụng;

- Giáo dục những người có phẩm chất tâm lý tiêu cực;

- Giáo dục, cảm hoá người phạm tội

1.3.2 Các nguyên tắc tác động tâm lý trong hoạt động

Trang 38

- Phải chú ý tới đặc điểm tâm lý của người bị tác động Đểtác động đạt được kết quả cao đòi hỏi chủ thể tác động phảinắm bắt được các đặc điểm tâm lý của người bị tác động.

Iu.V.Truphroxki viết: “Các phương pháp tác động tâm lý có

kết quả khi và chỉ khi trong quá trình áp dụng chúng thường xuyên tính đến mọi thay đổi nhân cách, tính đến tập hợp các thuộc tính, phẩm chất nhân cách nói chung và tính đến các trạng thái tâm lý của người bị tác động trong thời điểm đó ”.(1) Điều này có nghĩa là trong quá trình tác động,người tiến hành tố tụng cần phải nắm bắt được các đặc điểmtâm lý như nhu cầu, hứng thú, khí chất, tính cách, năng lực, cácphẩm chất ý chí cũng như trạng thái tâm lý, xúc cảm đang diễn

ra ở người bị tác động

- Chủ thể tác động cần phải có tri thức, hiểu biết về các quyluật hình thành và phát triển tâm lý của con người; các quy luậtlĩnh hội thông tin của con người; các đặc điểm của quá trình trigiác thông tin trong giao tiếp; các yếu tố ảnh hưởng đến quátrình lĩnh hội thông tin, quá trình tư duy, quá trình xúc cảm

- Phải xác định rõ mục đích, lập kế hoạch quá trình tácđộng, cũng như phải tính đến các phản ứng của người bị tácđộng Điều này giúp cho chủ thể tác động sẽ chủ động, linhhoạt, sáng tạo lựa chọn và áp dụng những phương pháp tácđộng đến người bị tác động cho phù hợp, tránh những tìnhhuống bất ngờ, bị động, lúng túng trước những phản ứng tiêucực của họ

- Phải chú ý tới những điều kiện, hoàn cảnh tiến hành tácđộng Các điều kiện, hoàn cảnh bên ngoài như thời gian, địa

Trang 39

(1) Iu.V.Trupharovxki, Tâm lý hoạt động nghiệp vụ, Matxcơva 1997, tr 109

(tiếng Nga).

Trang 40

điểm, số lượng người tham gia trong quá trình tác động có ảnhhưởng lớn đến sự tập trung chú ý của người bị tác động, đếnquá trình cung cấp và tiếp nhận thông tin Do đó, trong quátrình tác động phải tạo ra các điều kiện, hoàn cảnh thuận lợicho việc tiếp xúc giữa chủ thể và người bị tác động, làm chomỗi bên cảm thấy yên tâm, tự tin, không bị phân tán tư tưởng.

- Phải đảm bảo tính tích cực tâm lý ở người bị tác động.Tính tích cực của người bị tác động luôn được coi là một trongcác yếu tố cần thiết đảm bảo cho quá trình tác động tâm lý đạthiệu quả Tác động tâm lý tạo điều kiện, hướng cho người bịtác động tích cực lựa chọn mục đích, phương thức hành động,giúp họ thấy được những điều cần thiết phải làm và những điềukhông nên làm Kết quả của việc này phụ thuộc chủ yếu vàotính tích cực của người bị tác động, nghĩa là họ có “sẵn sàng”tiếp nhận tác động và “sẵn sàng” phản ứng trả lời hay không?

- Nội dung và phương pháp tác động tâm lý phải phù hợpvới từng người bị tác động Nội dung tác động là những thôngtin cần thiết tác động đến tư duy, tình cảm, ý chí của người bịtác động Đó là những thông tin về vụ án; những tài liệu vềnhân thân, về quan hệ gia đình, về tài sản ; các đặc điểm tâm

lý như

nhu cầu, hứng thú, tình cảm, thói quen, tính cách, năng lực của người bị tác động; những thông tin về tình hình kinh tế,chính trị, văn hoá, xã hội trong nước và trên thế giới Nhữngthông tin được sử dụng tác động phải phù hợp với người bị tácđộng Nghĩa là, những thông tin đó phải liên quan đến nhữngvấn đề mà người bị tác động đang quan tâm, phải tạo nên sựrung động, buộc họ phải suy nghĩ và đi đến thay đổi nhận thức,trạng thái tâm lý trong việc khai báo, trình bày với chủ thể tác

Ngày đăng: 14/04/2022, 10:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3: Sơ đồ mối quan hệ lẫn nhau giữa các thành phần - Tài liệu   tâm lý học tư pháp   EL16
Hình 3 Sơ đồ mối quan hệ lẫn nhau giữa các thành phần (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w