Hệ thống câu hỏi Tài chính công 2 Câu 1: Hãy bình luận câu nói: “… Nợ công của VN hiện nay vẫn ở ngưỡng an toàn” Mức độ an toàn hay rủi ro của nợ công không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ/
Trang 1Hệ thống câu hỏi Tài chính công 2 Câu 1: Hãy bình luận câu nói: “… Nợ công của VN hiện nay vẫn ở ngưỡng an toàn”
Mức độ an toàn hay rủi ro của nợ công không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ/GDP, tổng
nợ và nợ hàng năm phải trả mà quan trọng hơn là phụ thuộc vào thực trạng phát triển của nền kinh tế, cơ cấu nợ, khả năng trả nợ và các rủi ro trong tương lai
Theo báo cáo được công bố thì tỷ lệ nợ công/GDP đã giảm từ 63,7% năm 2016 xuống còn 55% năm 2019, và dự kiến năm 2020 sẽ tăng lên 56,8 – 57,4% do các tác động của dịch Covid – 19 Như vậy quy mô nợ công trong thời gian qua có xu hướng giảm và
VN đã đạt được mục tiêu đề ra trong chiến lược nợ công VN đến năm 2020 là đảm bảo tỷ
lệ này không vượt quá 60%
Xem xét về cơ cấu nợ công của VN trong những năm gần đây thì:
• Nợ của Chính phủ: Nợ nước ngoài chiếm khoảng 58 – 61% tổng nợ của Chính phủ
• Nợ được Chính phủ bảo lãnh: Nợ nước ngoài chiếm dưới 50% tổng nợ của Chính phủ bảo lãnh và có xu hướng giảm qua các năm
Như vậy có thể thấy cơ cấu nợ công của VN được duy trì tương đối ổn định qua các năm, duy trì trong mức độ đề ra (không quá 50%) và mức độ rủi ro rất thấp so với tiêu chuẩn an toàn của IMF và WB, an ninh tài chính quốc gia được đảm bảo Ngoài ra, hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam được đánh giá ở mức BB, có triển vọng ổn định Điều đó
có nghĩa là Việt Nam chưa có nguy cơ lâm vào khủng hoảng nợ công
Tuy nhiên, hiện tại nợ công VN vẫn tiềm ẩn rủi ro, kém thuận lợi hơn trước đây Báo cáo nhấn mạnh nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với tổng thu ngân sách có
xu hướng tăng nhanh vượt ngưỡng 25% và có nguy cơ vượt ngưỡng vào một số năm trong giai đoạn tới do lịch trả nợ gốc không đồng đều, tập trung cao vào một số năm Ngoài ra
VN còn phải đối mặt với các vấn đề liên quan đến rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá Do vậy,
VN cần tiếp tục tăng cường công tác quản lý nợ công, theo dõi sát sao danh mục nợ, đồng thời tiếp tục nâng cao hiệu quả đầu tư công
Câu 2: Hãy phân tích các quan điểm cân đối ngân sách? Minh họa bằng ví dụ thực tế
a Lý thuyết cổ điển về ngân sách cân bằng:
Theo lý thuyết này, CP chỉ được khai thác các khoản thu từ thuế Cân đối NSNN
Trang 2phải đảm bảo tổng chi ko đc lớn hơn tổng số thu thuế và tổng số thu thuế cũng không được lớn hơn tổng chi, tức đòi hỏi sự cân bằng tuyệt đối (Có bao nhiêu chi bấy nhiêu)
Ưu điểm: Kiểm soát tốt các khoản chi và hạn chế thâm hụt NSNN
Nhược điểm: Không khuyến khích sử dụng hiệu quả nguồn lực
b Lý thuyết cố tình thâm hụt:
Theo lý thuyết này, cân đối NSNN theo hướng tổng chi lớn hơn tổng thu (không bao gồm vay nợ), tức chấp nhận thâm hụt để mở rộng chi tiêu CP sẽ vay nợ để tài trợ cho thâm hụt để đổi lấy tăng trưởng kinh tế Nền KT tăng trưởng sẽ làm gia tăng tiêu dùng và thu nhập,qua đó làm tăng nguồn thu từ thuế và CP sử dụng nguồn thu gia tăng đó để trả
nợ Do đó lý thuyết này được thực hiện với nguyên tắc: Thâm hụt < Tốc độ tăng trưởng kinh tế và CP phải kiểm soát, duy trì đc nền KT tăng trg ổn định
Ưu điểm
• Khuyến khích sử dụng hiệu quả nguồn lực
• Có thể làm dịu nhanh suy thoái
Nhược điểm
• Phân tác những nguồn lực khan hiếm
• Lấn át khu vực tư nhân
• Làm hại những thế hệ tương lai (gánh nặng nợ)
Quan điểm này phù hợp với các nước đang phát triển do các nước này cần vốn đầu
tư cho phát triển kinh tế và tỷ suất lợi nhuận từ đầu tư cao
Minh họa với cân đối NS tại VN những năm qua đang áp dụng lý thuyết cố tình thâm hụt Cụ thể trong dự toán ngân sách nhà nước cho thấy:
• Dự toán chi lớn hơn dự toán thu trong cân đối,
• Đề ra tỷ lệ cụ thể về bội chi NSNN so vs GDP
Trong giai đoạn 2011 – 2019, tỷ lệ thâm hụt ngân sách ở VN nằm ở ngưỡng dưới 3,4 – 5,3% GDP, và ta thấy chính phủ cũng đang có nhiều nỗ lực trong việc duy trì và đảm bảo thâm hụt NSNN ở mức chấp nhận được thức đẩy kinh tế tăng trưởng với các biện pháp bù đắp thâm hụt NS đc thực hiện khá nhuần nhuyễn
Trang 3c Lý thuyết ngân sách chu kỳ
Theo lý thuyết này, Chính phủ cần có các quyết định chi tiêu khác nhau khi nền KT
ở các giai đoạn khác nhau của chu kỳ (phồn thịnh – khủng hoảng – suy thoái) Vì vậy cân đối NSNN cần có chu kỳ phù hợp với chu kỳ kinh tế Theo thuyết này sự cân bằng NSNN
sẽ ko duy trì trong khuôn khổ 1 năm mà sẽ duy trì trong khuôn khổ 1 chu kỳ kinh tế Tuy nhiên mức thặng dư hay thâm hụt NSNN phải đc khống chế trong 1 giới hạn nhất định mà
CP có thể kiểm soát đc Và các phương pháp đc đưa ra gồm:
• Tạo lập quỹ dự trữ khi nền kinh tế đang phồn thịnh nhằm dự phòng cho những năm thiếu hụt của thời kì suy thoái
• Khi nền kinh tế suy thoái, nhà nước nên thực hiện chính sách cố ý thâm hụt để kích thích cho nền kinh tế phục hồi, phát triển
Lý thuyết này phù hợp với các nước đã phát triển Tuy nhiên, chỉ từ ngày các Nhà nước can thiệp mạnh vào nền kinh tế, nhất là từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, chu kì kinh
tế mất đi tính đều đặn, lí thuyết về ngân sách chu kì mới không còn mang tính thời sự nữa
Câu 3: Hãy nêu kinh nghiệm quốc tế về quản lý nợ công, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm
gì cho VN?
a châu Âu giai đoạn 2009 – 2011
Vào năm 2009, khủng hoảng nợ công bắt đầu với sự gia tăng mức nợ công của nhóm PIIGS (Bồ Đào Nha, Ireland, Ý, Hy Lạp và Tây Ban Nha) Theo đó:
• Hy Lạp năm 2009: Thâm hụt NS đạt 13,6% GDP và Nợ công khoảng 115% GDP
• Ireland 2010: Thâm hụt NS lên tới 32% GDP
• Bồ Đào Nha 2011: Thâm hụt NS lên tới 8,5% và nợ công vượt quá 90% GDP
• Ý và Tây Ban Nhà chưa thực sự rơi vào khủng hoảng nhưng trong vòng nguy hiểm Nguyên nhân là do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 dẫn đến tình trạng suy thoái kinh tế, các quốc gia phải thực hiện các biện pháp kích thích kinh tế thông qua việc tăng chi ngân sách, khiến cho ngân sách chính phủ thâm hụt mạnh Những chính sách kích thích tăng trưởng tại các quốc gia này không đi kèm với một chính sách tài khóa bền vững
và sự mất cân đối trong việc vay nợ của mình
Nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng, các quốc gia châu Âu đã phải thực hiện hàng
Trang 4loạt những chính sách thắt chặt ngân sách một cách hết sức khắc khổ nhằm chứng minh quyết tâm giảm thâm hụt ngân sách xuống chỉ còn 3% GDP và nợ công dưới mức 60% GDP, bên cạnh sự hỗ trợ trực tiếp từ EU và IMF
b Nhật Bản
Nhật Bản là nền kinh tế đứng thứ ba thế giới, tuy nhiên tỷ lệ nợ công của nước này lại đang nằm trong những nước có nợ công cao nhất thế giới
Tỷ lệ nợ công của Nhật Bản đã vượt mức 100% so với GDP lần đầu tiên vào năm
1997 và ngày càng tăng cao Năm 2011, tổng số nợ công của Chính phủ đã gấp đôi GDP
Số nợ công ngày càng gia tăng trong năm 2012 khi Chính phủ Nhật Bản tiếp tục chi các khoản đầu tư lớn để tái thiết những khu vực bị tàn phá bởi thảm họa động đất, sóng thần tháng 3/2011 Trong những năm tiếp sau đó, tỷ lệ nợ công của Nhật Bản không hề có dấu hiệu suy giảm, vẫn luôn nằm ở mức kỷ lục, cuối năm 2017, tỷ lệ nợ công của Nhật đã ở mức 237.6% GDP
Tuy nhiên, nợ công của NB vẫn an toàn Do khoảng 95% nợ công của NB nằm trong tay các nhà đầu tư nội địa (khác với Hy Lạp khi 70% nợ CP do người nước ngoài nắm giữ), trái phiếu chính phủ ổn định, ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu quốc tế Ngoài ra dự trữ ngoại tệ của NB cũng ở mức rất cao, quốc gia này vẫn là nc chủ nợ hàng đầu thế giới
và có tỷ lệ tiết kiểm của người dân rất lớn
c Liên hệ với VN:
Do chưa có sức mạnh kinh tế như Nhật Bản nên để có thể quản lý nợ công hiệu quả, Việt Nam cần quyết liệt thực thi quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, đồng thời cần
có các biện pháp hạn chế sự gia tăng nợ công thông qua việc tăng cường kỷ luật tài khóa, giảm dần mức bội chi NSNN theo một lộ trình phù hợp và cam kết đủ mạnh; Hình thành các cơ chế để đảm bảo việc quản lý và sử dụng nguồn vốn vay được thực hiện theo một chiến lược thận trọng Các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam cần tính toán, nghiên cứu thực thi một chính sách lãi suất thấp, kiểm soát lạm phát và quản lý
nợ nước ngoài/nợ công bằng cách thắt chặt trái phiếu chính phủ
Câu 4: Hãy phân tích cơ cấu thực trạng thu, chi NSNN của VN hiện nay? Anh chị có kiến
nghị gì để tái cơ cấu thu, chi NSNN? Nhiệm vụ của kho bạc trong bộ máy quản lý chi NSNN
a Phân tích cơ cấu thực trạng thu NSNN và đề nghị tái cơ cấu thu của VN:
Trang 5Theo nội dung kinh tế thì thu NSNN gồm: thu từ thuế, phí, lệ phí; tiền cho thuê mặt
đát, mặt nước; tiền bán, cho thuê nhà thuộc sở hữu Nhà nước; thu từ hoạt động kinh tế sự nghiệp của NN; viện trợ không hoàn lại; thu phát, tịch thu, huy động đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng;…
Trong đó, thuế, phí, lệ phí đóng góp 90% thu NSNN, thuế đóng góp 90% tổng thu
từ thuế, phí, lệ phí và thu từ thuế chiếm khoảng 28,5% GDP Tuy nhiên có thể thấy ở các nước phát triển thuế chiếm khoảng 60% tổng thu NS từ thuế, phí và khoảng 23 - 25% GDP Như vậy, có thể thấy tỷ trọng thu và mức độ huy động từ thuế ở mức cao, có thể thu về nhiều cho NSNN nhưng người dân nộp nhiều thuế thì sẽ giữ lại nguồn lực cho sxkd ít đi, giảm động lực cho sản xuất kinh doanh Do vậy để tái cơ cấu thu NSNN thì cần các biện pháp để giảm tỷ trọng thu từ thuế, tăng tỷ trọng của phí và lệ phí như các quy định về phân biệt giá với việc đưa ra các gói dịch vụ khác nhau, mức phí và lệ phí sẽ tăng dần cùng với chất lượng của các gói dịch vụ này
Theo nguồn hình thành thì thu trong cân đối NSNN gồm: thu nội địa, thu từ dầu
thô, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu và thu từ viện trợ không hoàn lại Theo đó trong 5 năm trở lại đây:
Tỷ trọng thu nội địa là hơn 80% tổng thu NSNN, nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động sản xuất - kinh doanh trong nước ngày càng hiệu quả hơn, số doanh nghiệp gia tăng qua các năm tạo động lức phát triển cho nền kinh tế, đồng thời thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính Tỷ trọng thu dầu thô giảm xuống thấp, còn 3 - 4% tổng thu NSNN, nguyên nhân là do chính sách tái cơ cấu nguồn thu giảm phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, và giá dầu thô trong giai đoạn vừa qua ở mức thấp Tỷ trọng thu cân đối từ hoạt động XNK
so với tổng thu NSNN chiếm 14%, thấp hơn giai đoạn trước, do Việt Nam đang ngày càng đẩy mạnh hợp tác quốc tế, thực hiện cắt giảm thuế quan theo lộ trình cam kết
Từ đó có đề nghị về tái cơ cấu thu như sau:
• Tăng thu ngân sách từ các nguồn nội địa, tăng tỷ trọng thu thuế từ sản xuất kinh doanh, tăng tỷ trọng thuế trực thu trong cơ cấu thu thuế
• Giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn thu từ dầu thô và thuế nhập khẩu Đặc biệt sau khi gia nhập WTO, VN được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm, đồng thời cũng cần đưa
ra mức giảm thuế và lộ trình giảm thuế theo cam kết
Trang 6• Hình thành một cơ cấu thuế hợp lý nhằm tăng cường nguồn thu và vai trò điều tiết
vĩ mô của Nhà nước Chú trọng thuế môi trường, thuế tài nguyên…
• Điều chỉnh hệ thống thuế và thu NS phù hợp để vừa bảo hộ hợp lý, có chọn lọc trong sản xuất trong nước, khuyến khích đầu tư công nghệ mới, mở rộng thị trường xuất khẩu, đảmbảo ổn định và tăng trưởng nguồn thu ngân sách nhằm bù đắp phần thuế nhập khẩu bị cắt giảm do hội nhập kinh tế quốc tế
b Phân tích thực trạng cơ cấu chi NSNN và đề nghị tái cơ cấu
Chi Ngân sách Nhà nước chủ yếu là cho: Chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ, chi trả lãi vay, chi cho dự phòng và chi cải cách tiền lương Trong đó, giai đoạn
10 năm gần đây:
Chi thường xuyên luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi NSNN, chiếm trung bình khoảng 61%, và có xu hướng tăng lên Chi đầu tư phát triển chiếm trung bình khoảng 23%, có xu hướng giảm Chi trả nợ và viện trợ chiếm khoảng 7% tổng chi NSNN
Có thể thấy, chi thường xuyên có xu hướng tăng trong khi chi cho đầu tư phát triển mới chính là nguồn lực cho phát triển kinh tế dài hạn lại có xu hướng thu hẹp lại Do đó về tái cơ cấu chi cần có các biện pháp giảm tỷ trọng chi thường xuyên và tăng tỷ trọng cho đầutư phát triển mà vẫn đảm bảo an toàn tài khóa Ví dụ như tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, áp dụng công nghệ khoa học để đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí cho các hoạt động của các
cơ quan công lập trong dài hạn
Câu 5: Phân tích thực trạng nợ công ở VN? Nêu nội dung cơ bản chiến lược nợ công của
VN?
a Thực trạng nợ công của VN:
Theo báo cáo được công bố thì tỷ lệ nợ công/GDP đã giảm từ 63,7% năm 2016 xuống còn 55% năm 2019, và dự kiến năm 2020 sẽ tăng lên 56,8 – 57,4% do các tác động của dịch Covid – 19 Như vậy quy mô nợ công trong thời gian qua có xu hướng giảm và
VN đã đạt được mục tiêu đề ra trong chiến lược nợ công VN đến năm 2020 là đảm bảo tỷ
lệ này không vượt quá 60%
Xem xét về cơ cấu nợ công của VN trong những năm gần đây thì:
• Nợ của Chính phủ: Nợ nước ngoài chiếm khoảng 58 – 61% tổng nợ của Chính phủ
Trang 7• Nợ được Chính phủ bảo lãnh: Nợ nước ngoài chiếm dưới 50% tổng nợ của Chính phủ bảo lãnh và có xu hướng giảm qua các năm
Như vậy có thể thấy cơ cấu nợ công của VN được duy trì tương đối ổn định qua các năm, duy trì trong mức độ đề ra (không quá 50%) và mức độ rủi ro rất thấp so với tiêu chuẩn an toàn của IMF và WB, an ninh tài chính quốc gia được đảm bảo
b Nội dung cơ bản của chiến lược nợ công của VN:
Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài quốc gia giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn
2030 chỉ ra 1 số chỉ tiêu:
Nợ công so với GDP: không quá 65% (2020) và không quá 60% (2030)
Nợ của Chính phủ so với GDP: không quá 55% (2020) và không quá 45% (2030)
• Nợ nước ngoài của CP trong tổng dư nợ chính phủ: giảm xuống dưới 50%
• Dư nợ cho vay ODA so với dư nợ nước ngoài của CP: Tối thiểu đạt 60% Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của CP so với tổng thu NS hàng năm: không quá 25%
Nợ nước ngoài của QG / GDP: không quá 50% (2020) và không quá 45% (2030) Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia hàng năm dưới 25% giá trị xuất khẩu hàng hoá dịch vụ
Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính xây dựng các Đề án Chiến lược
nợ công giai đoạn 2021-2030 trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định
Câu 6: Tại sao cần phải ổn định tỷ lệ điều tiết phân chia nguồn thu ngân sách?
Theo nguyên tắc phân cấp quản lý nguồn thu, tỷ lệ điều tiết phân chia nguồn thu NS được giữ ổn định trong 5 năm Mục đích là để khuyến khích của địa phương tăng thu NSNN, khi các địa phương có thể tăng thu thông qua tăng nguồn thu NS phân chia do tỷ
lệ này là không đổi
Câu 7: Nêu ưu và nhược điểm của nguyên tắc cân đối NSNN hiện nay
Nguyên tắc cân đối NSNN VN hiện nay có 1 số điểm cần lưu ý như sau:
1 NSNN được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao để chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển,
Trang 8tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách; trường hợp đặc biệt Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định Trường hợp bội thu ngân sách thì được sử dụng để trả nợ gốc
và lãi các khoản vay của ngân sách nhà nước
2 Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên
3 Mức dư nợ vay của ngân sách địa phương:
a Đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không vượt quá 60%
số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp;
b Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp lớn hơn chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 30% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp;
c Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp nhỏ hơn hoặc bằng chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 20% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp.’
Ưu điểm:
• Giúp cho việc xác định một cách chính xác và thực chất về tình trạng thặng dư hay thâm hụt của ngân sách nhà nước tại một thời điểm để từ đó đánh giá mức độ cân đối của ngân sách nhà nước
• Đảm bảo an ninh quốc gia khi chi thường xuyên không phụ thuộc vào các khoản vay nợ
• Chi đầu tư phát triển là vấn đề được Nhà nước ưu tiên trong xây dựng nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước, hướng tới tạo nguồn lực cho phát triển dài hạn
Nhược điểm:
• Việc quy định tỷ lệ tối đa được hưởng theo phân cấp lớn hơn chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 30% (trừ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh)
là chưa hợp lý, vì mỗi địa phương có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau nên nhu cầu vay nợ, khả năng quản lý nợ và hoàn trả nợ là khác nhau
Câu 8: Nêu ý kiến của anh chị về định hướng cải cách nguồn thu NSNN của VN hiện nay
(sau khi gia nhập WTO)
Trang 9Sau khi gia nhập WTO thì VN cần hướng đến cải cách nguồn thu NSNN theo hướng bền vững hơn, theo đó:
• Tăng thu ngân sách từ các nguồn nội địa, tăng tỷ trọng thu thuế từ sản xuất kinh doanh, tăng tỷ trọng thuế trực thu trong cơ cấu thu thuế
• Giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn thu từ dầu thô và thuế nhập khẩu Đặc biệt sau khi gia nhập WTO, VN được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm, đồng thời cũng cần đưa
ra mức giảm thuế và lộ trình giảm thuế theo cam kết
• Hình thành một cơ cấu thuế hợp lý nhằm tăng cường nguồn thu và vai trò điều tiết
vĩ mô của Nhà nước Chú trọng thuế môi trường, thuế tài nguyên…
• Điều chỉnh hệ thống thuế và thu NS phù hợp để vừa bảo hộ hợp lý, có chọn lọc trong sản xuất trong nước, khuyến khích đầu tư công nghệ mới, mở rộng thị trường xuất khẩu, đảmbảo ổn định và tăng trưởng nguồn thu ngân sách nhằm bù đắp phần thuế nhập khẩu bị cắt giảm do hội nhập kinh tế quốc tế
Câu 9: Hãy phân tích những nguyên nhân dẫn tới thâm hụt ngân sách ở VN? Đâu là nguyên
nhân chính? Minh họa bằng ví dụ cụ thể?
Nguyên nhân khách quan:
Thiên tai, bệnh dịch vượt tầm kiểm soát sẽ gây ra những tổn thất lớn ngoài dự kiến khiến Chính phủ phải gia tăng chi tiêu để bù đắp Không chỉ vậy còn tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân, doanh nghiệp, khiến nguồn thu từ thuế giảm
Do đó thiên tai, bệnh dịch gây tác động theo 2 hướng đến NSNN, tăng chi và giảm thu, và gây ra thâm hụt NSNN trong ngắn hạn
Ví dụ cụ thể có thể thấy rõ ở năm 2020, cụ thể đến ngày 30/12/2020, NSNN đã chi khoảng 18,1 nghìn tỷ đồng cho công tác phòng chống dịch, đồng thời NSNN đã hỗ trợ trên nghìn tỷ đồng cho các địa phương ở để khắc phục hạn hán, xâm nhập mặn (vùng Đồng bằng sông Cửu Long); thiệt hại do mưa đá, dông lốc, sạt lở (khu vực miền núi phía Bắc)
và ảnh hưởng của mưa lũ miền Trung, Tây Nguyên Trong khi đó, để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong việc phục hồi phát triển kinh tế, nhà nước thực hiện gia hạn hoặc miễn giảm tiền thuế, tiền thuê đất, phí và lệ phí,…
Nguyên nhân chủ quan:
Trang 10Thứ nhất, do quyết định của chính phủ trong việc xây dựng cơ cấu thu – chi NSNN Trong những năm qua, dự toán NSNN được Quốc hội phê duyệt đều cho thấy dự toán chi lớn hơn dự toán thu trong cân đối, đồng thời đề ra tỷ lệ bội chi NSNN hàng năm so với GDP và điều chỉnh tùy vào những biến động kinh tế trong năm
Thứ hai, công tác quản lý NSNN còn kém hiệu quả, trong đó có 1 số vấn đề cụ thể sau:
Một là, tình trạng thất thu thuế ảnh hưởng đến quy mô thu NSNN hàng năm, gồm việc các doanh nghiệp thường xác định doanh thu và hạch toán chi phí không đúng quy định khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN bằng nhiều hình thức, kê khai các khoản miễn giảm thuế TNDN không đúng, chuyển giá hoặc kê khai mua bán lỗ, chậm nộp thuế, nợ thuế; và thu thuế trong kinh doanh thương mại điện tử thời gian qua gặp nhiều khó khăn
Ví dụ như năm 2018, Sabeco qua kiểm toán phát hiện DN này trốn thuế qua chuyển giá nội bộ hay năm 2020, Cục Thuế TP HCM đã quyết định truy thu và phạt 4,1 tỷ đồng với một cá nhân có nguồn thu nhập 41 tỷ đồng từ hoạt động kinh doanh thương mại điện tử thông qua Google, FB trong hai năm 2016 và 2017 nhưng không kê khai và nộp thuế
Hai là, đầu tư công còn nhiều bất cập, hạn chế Cụ thể tình trạng giải ngân đầu tư công nhiều năm qua còn chậm, ví dụ về việc giải ngân 9 tháng đầu năm 2019, chưa đạt được 50% so với kế hoạch, thấp hơn cùng kì năm 2018 Trong đó, giải ngân vốn trái phiếu chính phủ và ODA đều đạt thấp Ngoài ra, còn có tình trạng, thất thoát, lãng phí rất lớn, đầu tư từ ngân sách nhà nước còn dàn trải; hiệu quả đầu tư một số công trình hạ tầng chưa cao
Câu 10: Thâm hụt NS dài hạn có thể dẫn đến tăng gánh nặng thuế?
Thâm hụt NS sẽ tác động đến nền KT khi Nhà nước thực hiện các biện pháp bù đắp thâm hụt NSNN như gia tăng lạm phát, tác động đến lãi suất, tỷ giá, cán cân thanh toán quốc tế và gia tăng nợ công
Đặc biệt với quốc gia đang phát triển như VN thì vấn đề nợ công sẽ là tác động nhận thấy rõ ràng nhất Tuy nhiên, nếu vấn đề thâm hụt NS cứ kéo dài, áp lực trả nợ công gia tăng thì buộc Chính phủ có thể thực hiện các chính sách hướng tới giảm chi tiêu và tìm cách để tăng nguồn thu
Thực tế cho thấy hiện nay thuế phải chiếm tới 80% tổng thu NSNN và nó là 1 vấn
đề nhạy cảm, có ảnh hưởng trực tiếp đến mọi đối tượng trong nền kinh tế Nếu CP tìm giải