Để đánh giá về thực trạng phân tích tài chính tại doanh nghiệp, bài viết này sẽ xem xét thông tin từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của một số doanh nghiệp chiếm thị phần lớn tro
Trang 1Phân tích thực trạng của hoạt động phân tích tài chính
tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
I Đặt vấn đề
Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá, sự phát triển không ngừng của công nghệ, thông tin và toàn thế giới đang chịu những tác động lớn của đại dịch Covid-19 Quá trình phân tích này giúp cho các đối tượng quan tâm đến doanh nghiệp (nhà quản lý doanh nghiệp, cổ đông, nhà cung cấp tín dụng ngắn và dài hạn, nhà đầu tư, …) nắm bắt và đánh giá đúng thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp, là cơ sở để xác định hiệu quả kinh doanh, triển vọng và rủi ro, để từ
đó đưa ra các quyết định kịp thời và đúng đắn
Mỗi chủ thể kể trên quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp dưới nhiều góc độ khác nhau Trong bài luận này sẽ tập trung phân tích tình hình phân tích tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới giác độ doanh nghiệp, tức là các doanh nghiệp tiến hành phân tích, từ đó đo lường, đánh giá dựa trên các chỉ tiêu nhằm kịp thời
có những quyết định phù hợp cho các kế hoạch của mình
Để đánh giá về thực trạng phân tích tài chính tại doanh nghiệp, bài viết này sẽ xem xét thông tin từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của một số doanh nghiệp chiếm thị phần lớn trong các ngành, đã niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
II Thực trạng phân tích tài chính tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
1 Thời gian thực hiện phân tích tài chính
Công tác tổng hợp số liệu được tiến hành thường xuyên Số liệu trên báo cáo kế toán được tổng hợp vào hàng quý, năm Công tác phân tích được tiến hành khi có yêu cầu của cấp trên hoặc chủ yếu vào cuối năm tại doanh nghiệp, tương đồng với thời gian các doanh nghiệp lập báo cáo tài chính, báo cáo thường niên theo quy định trong thông tư của Bộ tài chính, để nộp cho các cơ quan Nhà nước, công bố thông tin cho công chúng
“Theo Thông tư 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012 của Bộ Tài chính, công ty đại chúng
phải lập Báo cáo thường niên và công bố thông tin về Báo cáo thường niên chậm nhất là hai mươi (20) ngày sau khi công bố Báo cáo tài chính năm được kiểm toán.”
2 Cơ sở dữ liệu cho quá trình phân tích
Cơ sở dữ liệu cho quá trình phân tích tại các doanh nghiệp này khá phong phú Các nguồn
Trang 2nhiên, việc phân tích để đánh giá các con số, sự biến động được xem có tốt hay không, thì phải gắn với môi trường pháp lý, tình hình kinh tế vĩ mô và tình hình ngành kinh doanh Lúc này, nguồn thông tin bên ngoài hệ thống kế toán được cập nhật một cách khá thường xuyên sẽ giúp cung cấp bao gồm các thông tin về môi trường kinh doanh, tình hình tăng trưởng kinh tế, tình hình cạnh tranh trong ngành trong nước và nước ngoài Việc sử dụng kết hợp những dữ liệu cả trong và ngoài doanh nghiệp giúp quá trình phân tích được cụ thể và hiệu quả hơn, phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp gắn với bức tranh tổng thể, giúp nhà quản trị đưa ra quyết định đúng đắn hơn
Tuy vậy không phải doanh nghiệp nào cũng có tận dụng hiệu quả các nguồn thông tin bên ngoài doanh nghiệp để tăng tính hiệu quả của quá trình phân tích tài chính Vấn đề đặt ra ở đây
là việc chọn lọc thông tin và tính minh bạch của những dữ liệu này Sử dụng cơ sở dữ liệu không phù hợp hay có sai lệch sẽ làm cho quá trình phân tích trở nên phức tạp không cần thiết, việc đánh giá, dự đoán và ra quyết định sẽ bị ảnh hưởng theo hướng tiêu cực và tốn nhiều chi phí và thời gian
3 Nội dung chính của phân tích tài chính
Thông qua xem xét báo cáo thường niên của một số doanh nghiệp, mục đánh giá tình hình tài chính có thể thấy các doanh nghiệp tập trung vào các nội dung sau:
3.1 Phân tích tình hình tài sản, nguồn vốn
Các doanh nghiệp thực hiện tính toán cơ cấu các khoản mục trong tài sản, nguồn vốn, và
so sánh với năm trước đó Bên cạnh đưa ra các con số về mặt kế toán, thì các doanh nghiệp cũng
có đưa ra giải thích, nhận xét xem cơ cấu này có phù hợp và điển hình cho ngành của mình hay không Cụ thế có thể thấy thông qua một số trích dẫn từ phân tích tình hình tài chính trong báo cáo thường niên năm 2020 sau đây:
Hình 1: Phân tích tình hình tài sản của Hoà Phát
(Nguồn: Báo cáo thường niên 2020 – HPG)
Trang 3Tập đoàn Hoà Phát thực hiện phân tích tình hình tài sản bằng cách tính tỷ lệ giữa tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn so với tổng tài sản, rồi thực hiện so sánh với số liệu của 5 năm trước
đó Ở báo cáo thường niên, doanh nghiệp đã chú trọng vào các khoản mục có sự thay đổi nhiều,
ví dụ ở đây là hàng tồn kho, còn các khoản mục còn lại thì Hoà Phát không đi cụ thể về mặt cơ cấu từng khoản mục biến động ra sao
Hình 2: Phân tích tình hình nguồn vốn của Hoà Phát
(Nguồn: Báo cáo thường niên 2020 – HPG)
Với phần phân tích tình hình hình nguồn vốn, tập đoàn Hoà Phát cũng chia làm 2 phần lớn là nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Ở phần này, doanh nghiệp đã đi sâu vào biến động của các khoản nợ, giải thích được vì sao mà chỉ số về vay nợ tăng cao Điều này cũng là hợp lý khi các con số về vay nợ đóng vai trò quan trọng trong phản ánh tình hình sức khoẻ tài chính của một doanh nghiệp Vì vậy, để các nhà đầu tư cảm thấy yên tâm và nhận ra tiềm năng phát triển trong tương lai, thì cần phải có sự phân tích sâu vào khoản mục này
Trang 4Xem xét việc phân tích của Vinamilk thì thấy doanh nghiệp này thực hiện phân tích tình hình tài sản, nguồn vốn bằng cách chia ra phân tích vốn lưu động và tài sản dài hạn Vinamilk đã tính tỷ lệ phần trăm của các khoản mục quan trọng, hoặc có biến động trọng yếu, đồng thời chỉ ra chính sách của công ty trong việc duy trì tỷ lệ này Cách phân tích này là khá phù hợp với đặc điểm doanh nghiệp với các sản phẩm về sữa là mặt hàng kinh doanh chủ yếu, luôn được tiêu thụ liên tục để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, trong khi vốn lưu động đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp
Hình 3: Quản lý vốn lưu động, tài sản dài hạn Vinamilk
(Nguồn: Báo cáo thường niên 2020 – VNM)
Sự khác nhau trong cách phân tích tình hình tài sản và nguồn vốn giữa Vinamilk và Hoà Phát có thể là do sự khác nhau trong đặc điểm kinh doanh, cách tiêu thụ sản phẩm Trong khi Vinamilk với các sản phẩm về sữa là chủ yếu, mang đặc điểm của doanh nghiệp bán lẻ (cụ thể theo số liệu 2018, Vinamilk có 240.000 điểm bán lẻ - chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các kênh phân phối), thì Hoà Phát với thế mạnh về thép, mang đặc điểm của doanh nghiệp bán buôn (bán hàng thường theo các đơn đặt hàng lớn
Trang 5Hình 4: Phân tích tình hình tài sản của Tổng công
ty Khí Việt Nam
(Nguồn: Báo cáo thường niên 2020 – GAS)
Xem xét một doanh nghiệp khác để thấy việc phân tích tình hình tài sản, nguồn vốn gắn liền với đặc điểm sản xuất, kinh doanh đó là Tổng công ty Khí Việt Nam (Hình 4) Hoạt động của Tổng công ty gắn với các dự án đầu tư, do vậy phân tích, giải thích sự biến động về mặt con số kế toán hay biến động trong cơ cấu của các khoản mục sẽ gắn với các giai đoạn của dự án
Như vậy, có thể thấy việc phân tích tài sản, nguồn vốn được thực hiện dựa trên
số liệu trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Việc phân tích bao gồm tính toán
cơ cấu các khoản mục, so sánh với số liệu
kỳ trước, đồng thời phân tích cần gắn với đặc thù của ngành kinh doanh và các hoạt động của doanh nghiệp gồm sản xuất, kinh doanh và đầu tư Cụ thể, với doanh nghiệp bán lẻ thì có thể sẽ cần tập trung hơn vào phân tích vốn lưu động, với các doanh nghiệp mà hoạt động gắn với các dự án đầu
tư thì việc phân tích sẽ thực hiện gắn với các giai đoạn của dự án
3.2 Phân tích các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh
Trang 6Hình 5: Phân tích doanh thu, chi phí, lợi nhuận của Vinamilk
(Nguồn: Báo cáo thường niên 2020 – VNM)
Từ báo cáo kết quả kinh doanh của Vinamilk, ta có thể thấy thực hiện phân tích tập trung vào một số chỉ tiêu như sau:
Thứ nhất, phân tích về doanh thu: thực hiện so sánh doanh thu thực tế so với kế hoạch của năm và doanh thu của các năm trước đó Việc phân tích doanh thu này sẽ được phân tách ra các mảng nhỏ Ví dụ, với Vinamilk sẽ phân ra theo ra theo khu vực (nội địa, xuất khẩu và chi nhánh
ở nước ngoài), với Hoà Phát sẽ phân tách ra các lĩnh vực hoạt động như Thép, Nông nghiệp và Bất động sản Việc phân tích doanh thu cần gắn với xem xét giá bán và sản lượng của hàng hoá, dịch vụ thay đổi như thế nào (giảm, ổn định hay tăng trưởng), từ đó xem xét liệu sự biến động này có phù hợp với biến động của môi trường kinh doanh hay không
Thứ hai, phân tích cơ cấu chi phí: Do doanh nghiệp nào có kết cấu chi phí với phần định phí cao hơn thì sẽ đem lại lợi nhuận nhiều hơn khi doanh thu gia tăng và ngược lại trong trường hợp doanh thu suy giảm thì sẽ gặp rủi ro nhiều Do đó mà việc phân tích cơ cấu chi phí đóng vai trò quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp xem xét lại các khoản mục chi phí, thực hiện điều chỉnh khi xảy ra biến động quá lớn, nhằm giữ tỷ lệ định phí ở mức ổn định Ví dụ của Vinamilk
là xem xét chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp
Thứ ba, phân tích lợi nhuận (EBIT, EBITDA,…): ở phần này sẽ thực hiện so sánh với kế hoạch và mức tăng trưởng so với các năm trước Trong đó lợi nhuận trước thuế, khấu hao và lãi vay (EBITDA) thường được chú ý do dùng để phân tích, so sánh mức lãi giữa các công ty với nhau cùng 1 ngành, lĩnh vực Chỉ số này giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc thuyết phục các nhà đầu tư, loại bỏ được những yếu tố về kế toán hay tài chính gây ra khiến cho doanh nghiệp
bị ảnh hưởng
Trang 7Hình 6: EBITDA của Hoà Phát (2015-2020)
(Nguồn: Báo cáo thường niên 2020 – HPG)
3.3 Phân tích thông qua hệ thống các chỉ tiêu tài chính
Chỉ tiêu tài chính là các mốc tài chính để đánh giá hoạt động của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định Mỗi chỉ tiêu tài chính đặc trưng sẽ vẽ nên bức tranh tổng thể của doanh nghiệp về tài chính – kế toán; giúp các nhà quản trị đưa ra những quyết định đúng đắn trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt Trong phân tích tài chính của doanh nghiệp, nhà quản trị thường sử dụng các nhóm chỉ tiêu sau:
• Chỉ tiêu về khả năng thanh toán: Hệ số thanh toán ngắn hạn, Hệ số thanh toán nhanh
• Chỉ tiêu về cơ cấu vốn: Hệ số nợ/Tổng tài sản, Hệ số Nợ/Vốn chủ sở hữu
• Chỉ tiêu về năng lực hoạt động: Vòng quay hàng tồn kho, Vòng quay khoản phải thu, Vòng quay các khoản phải trả, Doanh thu thuần/Tổng tài sản
• Chỉ tiêu về khả năng sinh lời: ROI, ROE, ROA…
Tùy vào từng loại hình doanh nghiệp và tùy mục đích phân tích, nhà quản trị có thể lựa chọn chỉ số cần thiết để tính toán và phân tích báo cáo tài chính phục vụ nhu cầu của mình Việc phân tích của chỉ tiêu này gồm tính toán, so sánh với mốc được coi là tốt, là an toàn và so sánh với số liệu các năm trước để xem xét sự biến động Việc đánh giá này sẽ giúp doanh nghiệp có
sự điều chỉnh và ra quyết định kịp thời để giúp cho hoạt động như sản xuất, kinh doanh, quản lý, vay vốn của doanh nghiệp được diễn ra thuận lợi, nâng cao chất lượng và có hiệu quả
Trang 8Hình 7: Chỉ tiêu về khả năng thanh toán, về năng lực hoạt động của GAS
(Nguồn: Báo cáo thường niên 2020 – GAS)
Như vây, nội dung phân tích tình hình tài chính tại các doanh nghiệp đã khái quát được một số mặt khá quan trọng bao gồm phân tích cấu trúc tài chính, phân tích kết quả và hiệu quả kinh doanh, phân tích khả năng thanh toán,… Một hệ thống chỉ tiêu tài chính đã hình thành và được sử dụng để phân tích thường xuyên trong những năm gần đây Các chỉ tiêu được tính toán,
so sánh, phân tích nhằm nổi bật xu hướng và nguyên nhân gây biến động qua các năm Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản như khả năng sinh lời, khả năng thanh toán được chú ý phân tích Đặc biệt, với những chỉ tiêu được hình thành từ các giá trị mang tính thời điểm và thời kỳ đã được các doanh nghiệp phân định rõ ràng và tính toán chính xác
Tuy nhiên, nội dung phân tích này có một số vấn đề cần chú ý:
Thứ nhất, hệ thống chỉ tiêu tài chính được doanh nghiệp sử dụng đều được xây dựng trên
hệ thống chỉ tiêu có sẵn, nên việc các doanh nghiệp thực hiện tính toán mà không có chú thích hay giải thích gì sẽ đặt ra câu hỏi rằng các chỉ tiêu mà doanh nghiệp phân tích liệu có phải chỉ mang tính chất danh nghĩa, tính toán theo yêu cầu của Bộ tài chính và chỉ để trình bày trên Thuyết minh báo cáo tài chính và Báo cáo thường niên hay không
Thứ hai, là sự thiếu sót trong phân tích các chỉ tiêu báo cáo lưu chuyển tiền tệ, ở trên các báo cáo công khai, doanh nghiệp mới chỉ tính toán về mặt số liệu chứ chưa thực sự phân tích sâu
Trang 9trong việc so sánh các chỉ tiêu, tỷ trọng của các dòng tiền trong từng hoạt động, so sánh dòng tiền vào ra của mỗi hoạt động và xem xét xu hướng biến động của mỗi dòng tiền
Thứ ba, chúng ta là đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, tiếp cận quá trình phân tích tài chính của doanh nghiệp thông qua báo cáo tài chính và báo cáo thường niên nên không thể biết liệu doanh nghiệp có chú trọng quá trình phân tích tài chính, thực hiện độc lập mà không lồng ghép, kết hợp trong các báo cáo kể trên hay không Bởi nếu việc phân tích mà chỉ để trình bày trên các báo cáo công khai thì có thể thấy việc phân tích tài chính của doanh nghiệp còn thiếu, chưa đầy đủ và chưa có ý nghĩa
4 Các phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính
Hệ thống các phương pháp mà các doanh nghiệp áp dụng trong việc phân tích tình hình tài chính đã và đang phát huy hiệu quả đáng kể trong việc phân tích nói chung và phân tích tài chính nói riêng Các phương pháp được sử dụng trong quá trình phân tích chủ yếu gồm có:
• Phương pháp so sánh: Là phương pháp được sử dụng nhiều, dùng để phân tích dự biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu tài chính về mặt thời gian (giữa các năm và thường là so sánh với năm trước) hoặc dùng để đánh giá mức độ biến động so với mục tiêu đề ra thông qua so sánh các số liệu thực hiện với các số liệu kế hoạch, hoặc dùng trong so sánh với trung bình ngành,… Phương pháp này thường được kết hợp với đồ thị
để nêu bật được sự so sánh, đối chiếu
• Phương pháp chi tiết: Phương pháp này được sử dụng để chi tiết các bộ phận cấu thành chỉ tiêu trong phân tích hoạt động kinh doanh, cụ thể có thể thấy trong phân tích cơ cấu chi phí của doanh nghiệp hoặc dùng để chi tiết về mặt địa điểm, tức phân tích theo khu vực sản xuất (ví dụ Vinamilk phân tích doanh thu bán hàng theo nội địa, xuất khẩu và chi nhánh ở nước ngoài)
III Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Thứ nhất, về thời gian thực hiện phân tích tài chính thì cần được tiến hành một cách
thường xuyên hơn theo tháng, quý, … để kịp thời thông tin đến các cấp quản lý tình hình tài chính của doanh nghiệp, tránh sự chậm trễ và gây ra hậu quả không đáng có
Thứ hai, về cơ sở dữ liệu, việc phân tích không nên chỉ thực hiện dựa trên báo cáo tài
chính của doanh nghiệp mà cần mở rộng ra thông tin bên ngoài như thông tin kinh tế trong và ngoài nước, thông tin trong ngành kinh doanh, thông tin của khách hàng,… Tuy nhiên, việc sử dụng dữ liệu cho phân tích cần có tính chọn lọc, đảm bảo thông tin là chính xác
Trang 10là tính toán và so sánh các con số Ngoài ra bên cạnh các nội dung mà các doanh nghiệp hiện nay đã phân tích thì có thể bổ sung thêm các phần về phân tích rủi ro tài chính, và tăng cường nội dung phân tích về các chỉ tiêu phản ánh dòng tiền Về hệ thống chỉ tiêu tài chính, thì cần được xây dựng dựa trên cơ sở chế độ chính sách tài chính kế toán hiện hành, mang tính khoa học nhưng cũng dễ hiểu, dễ áp dụng để nâng cao tính khả thi và hiệu quả Hệ thống chỉ tiêu phân tích cần xây dựng phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh riêng biệt của ngành để có thể phản ánh hiệu quả hoạt động một cách chính xác, hợp lý Các chỉ tiêu này phải mang tính chất bổ sung cho nhau nhằm phản ánh thực trạng tài chính của doanh nghiệp và giúp cho người sử dụng kết quả phân tích dễ sử dụng, có tính thuyết phục cao
Thứ tư, về phương pháp phân tích tài chính, các doanh nghiệp nên sử dụng phối kết hợp
nhiều phương pháp, bổ sung thêm một số phương pháp phân tích khác như phương pháp Dupont, phương pháp thay thế liên hoàn, bên cạnh các phương pháp truyền thống hay sử dụng Doanh nghiệp có thể ứng dụng nhiều phần mềm dự báo và phân tích tiên tiến để đưa ra kết quả phân tích một cách lôgic, rõ ràng Ngoài ra cần mở rộng phạm vi số năm phân tích, có thể sử dụng số liệu của khoảng từ 3 đến 5 năm trở lên để thấy được sự biến động trong dài hạn Phương pháp
sử dụng phân tích tài chính có thể mở rộng trong việc so sánh giữa các doanh nghiệp có lĩnh vực kinh doanh mang tính chất tương đồng không chỉ trong nước mà cả trong khu vực Kết quả so sánh này có thể thấy được sức cạnh tranh của doanh nghiệp này so với các doanh nghiệp khác khác, qua đó có thể đánh giá một cách khách quan hơn tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ năm, về tổ chức công tác phân tích tài chính tại các doanh nghiệp thì cần chú ý đến
xây dựng quy trình phân tích phù hợp với mục đích và tổ chức bộ máy thực hiện Để có thể tiến hành phân tích hiệu quả thì đặt ra yêu cầu về nhân lực cho các doanh nghiệp, nhân lực trình độ cao quyết định lớn đến chất lượng của quá trình phân tích Việc phân tích và dự báo tình hinh tài chính cần được thực hiện bơi một bộ phận chuyên trách, tách biệt với bộ phận kế toán để tăng tính khách quan
IV Kết luận
Ngày này, môi trường kinh doanh của hầu hết các ngành ngày càng có sự cạnh tranh quyết liệt, cùng với đó là ảnh hưởng của dịch Covid-19 đặt ra yêu cầu cho các nhà quản lý doanh nghiệp phải tăng cường tiềm lực tài chính của mình Một trong các cách để đảm bảo sức khoẻ tài chính của doanh nghiệp là chú trọng, hoàn thiện và nâng cao chất lượng của công tác phân tích tài chính Thông qua tìm hiểu thực trạng phân tích tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, có thể thấy các doanh nghiệp đã xây dựng được những nền tảng
cơ bản của quá trình phân tích tài chính về nội dung, hệ thống chỉ tiêu, phương pháp phân tích,… Tuy nhiên, để công tác phân tích tài chính ngày càng hoàn thiện, đánh giá tình hình tài chính một cách khách quan và toàn diện thì các doanh nghiệp cần phải nâng cao chất lượng về mặt dữ liệu, lựa chọn, kết hợp hiệu quả các phương pháp, xây dựng một đội ngũ nhân lực trình độ cao và độc lập thực hiện việc phân tích