1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay

73 557 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 710,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của Tổng công ty cà phê Việt Nam trong xu thế hội nhập hiện nay.

Trang 2

Lời mở đầu

Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Hàng năm xuất khẩu cà phê đem về cho nền kinh tế hàng trăm triệu USD và giải quyết công ăn việc làm, ổn định đời sống cho hàng trăm nghìn hộ gia đình ở các khu vực miền núi và Tây Nguyên Những thành tựu đó đã khẳng định được vị trí, vai trò của ngành cà phê trong nền kinh tế quốc dân, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước

Tổng công ty cà phê Việt Nam là một đơn vị lớn của ngành cà phê Việt Nam chiếm tỷ trọng 25% - 30% trong tổng lượng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành, với vị trí đầu tầu của mình đã đóng góp một phần không nhỏ vào quá trình phát triển của ngành cà phê Việt Nam Nhờ chính sách đổi mới của Đảng và những thuận lợi về khách quan và chủ quan, trong những năm qua Tổng công ty đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành đối với hoạt động kinh doanh,xuất nhập khẩu Tuy nhiên, Tổng công ty cũng phải đối mặt với những khó khăn, đó là: sự biến động tiêu cực về giá trên thị trường thế giới và trong nước cùng với những bất cập trong khâu tổ chức và tiêu thụ; vấn đề vốn, chất lượng cà phê là những thử thách hết sức gay gắt trong hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu của Tổng công ty

Để phát huy vai trò nòng cốt của ngành cà phê Việt Nam, vấn đề thúc đẩy xuất khẩu cà phê đang trở thành mục tiêu hàng đầu của Tổng công ty cà phê Việt Nam Kinh doanh có hiệu quả để công ty bù đắp được chi phí, tạo ra lợi nhuận, có tích luỹ và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới Đây là nhân tố cơ bản để thực hiện vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước, đóng vai trò tạo dựng cơ sở kinh tế cũng như xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất cho chủ nghĩa xã hội

Đề tài “Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của Tổng công ty cà phê Việt

Nam trong xu thế hội nhập hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp

Mục đích của đề tài là: Tìm hiểu vai trò của xuất khẩu cà phê đối với sự phát triển kinh tế xã hội; đánh giá về thực trạng xuất khẩu cà phê của Tổng công ty cà phê; đưa ra các biện pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy xuất khẩu cà phê của Tổng công ty cà phê Việt Nam

Trang 3

Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin, đề tài sử dụng các phương pháp thống kê so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp trong quá trình thực hiện

Nội dung và kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm có 3 chương

Chương 1: Vai trò của xuất khẩu cà phê với sự phát triển kinh tế xã hội Việt

1.Khái quát tình hình cà phê thế giới và việt nam

1.1 Giới thiệu sản phẩm cà phê:

Cà phê là loại đồ uống được ưa thích ở hầu hết các nước trên thế giới, nó là sản phẩm nhiệt đới nhưng lại tiêu thụ nhiều ở các nước ôn đới Ngày nay cà phê được sử dụng rộng rãi vì trong hạt cà phê nhân sống thông thường có chứa 1 - 2,5% chất cafein

có tác dụng kích thích thần kinh, tăng cường hoạt động của tế bào não Ngoài ra trong

Trang 4

+ Cà phê Arabica dịu dạng Colombia, các nước sản xuất nhiều loại này là Colombia, Kenya, Tanzania

+ Cà phê Arabica Brazil, các nước sản xuất gồm Brazil, Etiopia

+ Cà phê Arabica dịu khác, các nước sản xuất gồm Bolivia, Costrica, Cuba, ElSanvađo, Indonesia, Việt Nam

- Cà phê vối (Robusta) :

Loại cà phê này có nguồn gốc từ hạ lưu sông Công Gô, thích hợp với khí hậu nhiệt đới Đây là chủng dễ trồng, chịu hạn tốt nhưng phẩm chất không cao, chiếm tỷ lệ trên 25% sản lượng cà phê trên thế giới

cà phê có thể có nguồn gốc địa chất khác nhau

Trang 5

Cà phê có thể phát triển trên tàn dư núi lửa mà phần lớn là tro như ở Trung Mỹ, trên đất có tầng phong hóa như Braxin ở đó người ta trồng trên đất phát triển từ đá mẹ, bazan hoặc sa thạch ở Tây Phi, ấn Độ chủ yếu trồng trên đất granit ở Việt Nam, các loại đất như granite, sa phiến thạch, phù sa cổ, dốc tụ đều trồng được cà phê Phần lớn

cà phê ở Việt Nam được trồng trên đất bazan như ở Đăk Lăk, Gia Lai, Đồng Nai, Lâm Đồng, Phủ Quỳ (Nghệ An), miền trung du và vùng núi phía Bắc Cũng có những vùng

cà phê trồng trên vùng đất granite như EaKa (Đăk Lăk), trên vùng đất xám pha granite như Đăk Uy (Kon Tum) Các vùng trung du và miền núi phía Bắc nước ta trồng cà phê chủ yếu trên đất có nguồn gốc từ đá thạch

Địa hình trồng cà phê thường bằng phẳng hoặc lượn sóng Những nơi địa hình có

độ dốc > 150 phải xử lý tốt công trình xói mòn, không được trồng cà phê vào vùng trũng không thoát nước được

Dù trồng cà phê trên loại đất nào thì vai trò của con người có tính quyết định trong việc duy trì, bảo vệ, nâng cao độ phì nhiêu của đất Ngay cả trên đất bazan, nếu không được chăm sóc tốt thì cà phê vẫn không phát triển được Ngược lại, những vùng đất không phải là bazan, nếu tăng cường thâm canh vẫn có thể tạo nên khả năng vườn cây phát triển tốt, năng suất cao

1.2.2 Khí hậu:

Không phải vùng nào trên trái đất cũng trồng được cà phê Cà phê chỉ trồng được

ở những vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Ngoài yếu tố đất đai, cây cà phê còn đòi hỏi một

số yêu cầu về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, ánh sáng, gió Vì vậy, khi chọn vùng trồng

cà phê phải chú ý đến các yếu tố quan trọng này

- Nhiệt độ: Phạm vi nhiệt độ phù hợp với mỗi giống cà phê có khác nhau Cà phê chè ở nơi mát và hơi lạnh, nhiệt độ thích hợp nhất từ 180c - 250c Vì vậy, cà phê chè thường được trồng từ miền núi có độ cao 600 - 2.500m Ngược lại, cà phê vối thích hợp

ở những vùng nóng ẩm, nhiệt độ thích hợp từ 220c - 260c

- Lượng mưa: Lượng mưa cần thiết đối với loại cà phê chè từ 1.300mm - 1.900mm, cà phê vối 1.300mm - 2.500mm ở nước ta, lượng mưa tập trung 70% - 80% vào mùa mưa gây ra hiện tượng thừa nước; mùa khô kéo dài từ 3 - 5 tháng và lượng mưa chỉ chiếm 20% - 30% nên nhiều nơi cà phê thiếu nước nghiêm trọng, đặc biệt là Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ

Trang 6

và tăng nhanh quá trình bốc hơi nước đặc biệt là về mùa khô

1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê thế giới

1.3.1 Nguồn sản xuất cà phê thế giới:

Cây cà phê có nguồn gốc từ Châu Phi, vào thế kỷ XVII, cà phê được đưa sang trồng ở Indonesia, sang thế kỷ XVIII nó được đưa sang vùng Tây bán cầu và được trồng đầu tiên ở Matinique và vùng Swriname vùng đảo Caribê Kể từ đó nó được trồng rộng khắp vành đai nhiệt đới, cận nhiệt đới và Châu Mỹ la tinh Sau này dù cà phê được nhân rộng ở châu á, châu Phi nhưng Mỹ la tinh vẫn chiếm 2/3 sản lượng sản xuất và xuất khẩu cà phê thế giới

Hiện nay trên thế giới có khoảng 75 quốc gia trồng cà phê, trong đó có khoảng 51 nước xuất khẩu cà phê Những nước trồng cà phê chủ yếu là những quốc gia đang hoặc chậm phát triển Tổng diện tích cà phê thế giới niên vụ 2000/2001 đạt 11,75 triệu ha (tăng 2,2% so với niên vụ 1999/2000) Sản lượng cà phê nhân hàng năm biến động trong khoảng 6,5 - 7,0 triệu tấn Theo số lượng thống kê của FAO, niên vụ 2000/2001 sản lượng cà phê thế giới đạt 7,259 triệu tấn, tăng 6,0% so với niên vụ trước, trong đó các nước Nam Mỹ và vùng Caribê đạt 4,175 triệu tấn (chiếm 57,6% sản lượng thế giới), các nước Châu á là 1,78 triệu tấn ( chiếm 24,8%), còn lại là Châu Phi - 1,22 triệu tấn (chiếm 16,8%) Nước có diện tích và sản lượng cà phê lớn nhất thế giới là Braxin- chiếm tới 20% diện tích và 25% sản lượng cà phê thế giới Thứ hai là Colombia (13%), Việt Nam (7,2%), Indonesia (7%), Mexico (5,3%), ấn độ (4,5%) và Guatemala 4.2% Chính sự tăng giảm cà phê của các nước này sẽ chi phối trực tiếp đến tình hình cung - cầu và giá cả cà phê trên thế giới

Năng suất cà phê trên thế giới hàng năm đạt rất thấp - bình quân khoảng 600kg/ha Gần đây nhiều nước đã tích cực áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiến bộ, lai tạo ra các bộ giống cà phê mới, tăng mật độ trồng cà phê dày hơn, giải quyết tốt khâu

Trang 7

1.3.2 Nhu cầu tiêu thụ cà phê thế giới:

Nhu cầu tiêu thụ cà phê tăng nhanh kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, đặc biệt tập trung ở các nước công nghiệp phát triển Trong vòng 50 năm kể từ 1947 đến 1997, tổng sản lượng tiêu thụ cà phê từ 27,6 triệu bao lên 99,6 triệu bao(bao 60 kg) tức là tăng khoảng 3,6 lần Sự gia tăng về nhu cầu tiêu thụ cà phê là khá ổn định với mức tăng bình quân của thế giới 1%/năm

Theo dự đoán của cơ quan thông tin kinh tế Anh (EU), nhu cầu tiêu thụ cà phê thế giới trong những năm tới tăng nhẹ Nhu cầu trên những thị trường lớn vẫn chủ yếu giống như những năm 1990 Nhu cầu tiêu thụ theo đầu người ở Mỹ giảm với tỷ lệ trung bình 0,7%, ở Tây Âu cũng rất trầm lắng Vì vậy, trong tương lai nhu cầu tiêu thụ trên những thị trường khác cần phải được thúc đẩy, đặc biệt ở Châu á như: Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc; Nga và các nước Đông Âu khác Lượng tiêu thụ đầu người thấp song

do nền kinh tế tiếp tục phát triển sẽ là tiềm năng lớn thúc đẩy tiêu thụ tăng

Những nước xuất khẩu nhiều về loại cà phê chè (Arabica) là Braxin, Colombia, Mexico Sản lượng cà phê xuất khẩu bình quân những năm gần đây của Braxin là trên 1 triệu tấn/năm, Colombia khoảng 550 - 750 ngàn tấn, Mexico hơn 300 ngàn tấn/năm Những nước xuất khẩu cà phê vối (Robusta) lớn hiện nay là Việt Nam đạt từ 800 ngàn đến 900 ngàn tấn/năm, Indonesia trên 350 ngàn tấn/năm, Cote Divoa trên 300 ngàn tấn

và Uganda khoảng 200 ngàn tấn/năm

Bảng 1: Quan hệ cung cầu về cà phê trên thị trường thế giới

Đơn vị: Triệu bao (1 bao= 60kg)

Trang 8

Nguồn: Tổng công ty cà phê Việt Nam

Qua bảng thống kê trên ta thấy rằng quan hệ cung - cầu cà phê trên thế giới bị mất cân đối trong giai đoạn 2000- 2003 Trong những năm này lượng cung cà phê luôn cao hơn cầu, chính điều này là nguyên nhân khiến cho giá cà phê trên thế giới trong giai đoạn này giảm mạnh Tuy nhiên đến 2 niên vụ gần đây 2004 và 2005 lượng cung và cầu

cà phê thế giới đã cân bằng , đặc biệt niên vụ 2005 lượng cầu đã vượt cung, nguyên nhân là do hạn hán kéo dài ở các nước Châu á và một số nước Nam Mỹ nên sản lượng

cà phê thế giới giảm mạnh điều này đã làm cho giá cà phê thế giới những tháng đầu năm 2005 tăng mạnh có khi lên trên 1000 USD/tấn Còn theo dự đoán của FAO thì năm

2010 nhu cầu cà phê thế giới sẽ là 123,82 triệu bao, trong khi đó lượng cung là 133,33 triệu bao Như vậy, theo FAO thì trong những năm tới giá cà phê thế giới vẫn khó có thể tăng cao

Trong những nước có nhu cầu cao về cà phê thế giới thì những quốc gia phát triển

có nhu cầu tiêu thụ khoảng 4,711 triệu tấn (năm 2005) Trong đó các nước Châu ÂU là 2,736 triệu tấn Các nước Châu á có nhu cầu tiêu thụ khoảng 400.000 tấn Cũng theo dự báo của FAO thì cà phê xuất khẩu năm 2005 sẽ là 5,696 triệu tấn cao hơn mức 5,1 triệu tấn năm 2000 và đạt mức tăng trung bình hàng năm khoảng 2%/năm còn nhập khẩu cà phê thế giới năm 2005 sẽ là 5,149 triệu tấn tăng khoảng 1,9%/năm Đến năm 2010 thì xuất khẩu cà phê thế giới đạt khoảng 6,3 triệu tấn với mức tăng bình quân là 2,2%/năm, còn nhu cầu nhập khẩu là 5,72 triệu tấn với mức tăng bình quân là 2,05%/năm Đối với các quốc gia phát triển thì nhu cầu về nhập khẩu cà phê tăng chậm hơn với mức tăng trung bình hàng năm chỉ khoảng hơn 1%/năm Nếu mức tăng trưởng kinh tế thế giới phục hồi trở lại và có mức tăng trưởng cao hơn thì nhu cầu về nhập khẩu cà phê cũng có thể tăng lên trong những năm tới

1.3.3 Nhận xét chung về xu hướng thị trường cà phê thế giới

Sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2004/2005 ước tính là 115,4 triệu bao Theo sự đánh giá của các chuyên gia thì sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2005/2006 được dự đoán ở mức 110 triệu bao, giảm chút ít so với vụ 2004/2005 Nếu so với nhu cầu thì dường như nguồn cung đang bị thiếu hụt nhưng chính lượng tồn kho lớn ở các nước tiêu

Trang 9

thụ cộng với khả năng tài chính hạn hẹp và tâm lý muốn bán hàng để thu tiền ngay của hầu hết các nước sản xuất đã làm cho thị trường hiện nay phụ thuộc hoàn toàn vào người mua Các quỹ và nhà đầu cơ có thể điều tiết thị trường, giá cả theo ý mình

Mặc dù xu hướng giá tăng lên theo quy luật cung cầu nhưng một điều cần lưu ý rằng mức giá cà phê trên thực tế biến động hết sức cao theo giá trên các thị trường kỳ hạn, mức giá có thể tăng lên hoặc giảm xuống hàng chục đô la Mỹ/tấn sau vài phiên giao dịch Điều này cho thấy rõ là giá cà phê về lâu dài thì phụ thuộc quan hệ cung cầu nhưng trong thời gian ngắn thì hầu như thoát ly khỏi giá trị và cung cầu thị trường Các chuyên gia cũng dự đoán sản lượng cà phê của Braxin cũng giảm so với vụ trước và nguồn cung Robusta từ các nước khác như: Indonesia, ấn độ là ổn định Tiêu thụ cà phê có xu hướng tăng ở các thị trường chính do chuẩn bị mua cà phê để phục vụ

Nô en và Năm mới cũng như mùa đông sắp đến là các yếu tố hỗ trợ cho giá cà phê trên

thị trường thế giới

1.4 Khái quát tình hình cà phê Việt Nam

Cây cà phê được trồng ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1857 do các giáo sĩ truyền đạo nhập vào Trải qua hơn một thế kỷ, đến nay cà phê đã trở thành một mặt hàng nông sản chủ lực mang lại một khối lượng kim ngạch đáng kể cho đất nước Lịch

sử của ngành cà phê cũng phải chịu những tác động lịch sử xã hội nên nó cũng có những bước thăng trầm Chúng ta có thể chia lịch sử của ngành cà phê Việt Nam qua một số mốc thời gian như sau:

* Thời kỳ pháp thuộc (1858 - 1945):

Đã có những đồn điền cà phê đầu tiên được mở ra ở Hà Nam, Sơn Tây, Hòa Bình, Tuyên Quang Sau đó được phát triển ra các vùng Bắc Trung Bộ và Trung du Bắc Bộ Sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, khi Pháp có âm mưu đặt Đông Dương vào thuộc địa khai thác thì chúng mới bắt đầu tập trung vốn phát triển cà phê Thời kỳ 1920 - 1923, sau khi phát hiện ra vùng đất đỏ Bazan ở Tây Nguyên, người ta bắt đầu khai khẩn và lập

ra những đồn điền cà phê ở đây

Trước Cách mạng tháng Tám, diện tích cà phê toàn quốc là 10.500 ha, sản lượng năm cao nhất đạt 4.500 tấn Hầu hết cà phê được xuất sang Pháp qua cảng nhập Le Havre của Pháp

* Thời kỳ kháng chiến chống pháp (1946 - 1954):

Trang 10

* Thời kỳ chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975):

Sau khi miền Bắc giải phóng Nhà nước chủ trương xây dựng các nông trường quốc doanh trong đó có nông trường cà phê, chủ yếu tập trung ở Phủ Quỳ, Nghệ An Trong vòng 6 năm 1956 - 1962, diện tích cà phê từ 500 ha tăng lên 14.800 ha, sản lượng

từ 225 tấn tăng lên 4.850 tấn (1968) Cà phê Việt Nam chủ yếu xuất sang các nước Liên

Xô và Đông Âu

ở miền Nam, tình hình cà phê không có nhiều biến động Từ 1946 - 1957, cà phê tăng không đáng kể, từ 3.019 ha lên 3.370 ha Từ năm 1957 - 1964 Ngụy quyền Sài Gòn chủ trương lập các khu định điền khuyến khích tư nhân khai hoang, nên diện tích tăng nhanh từ 3.370 ha(năm 1957) lên 11.120 ha(năm 1964) Năm 1963, sản lượng cà phê đạt 3.000 tấn, năm 1973 trên 3.500 tấn, đại bộ phận cà phê được tiêu dùng trong nước, xuất khẩu không đáng kể

* Thời kỳ 1976 đến nay:

Sau khi nước nhà hoàn toàn thống nhất, Nhà nước đã quan tâm đúng mức đến việc phát triển ngành cà phê Để đưa ngành cà phê trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, Nhà nước đã thành lập Liên hiệp các Xí nghiệp cà phê Việt Nam, ở các địa phương đều

có các công ty cà phê, đưa vào phát triển kinh tế về quy mô, tốc độ và các dự án đầu tư phát triển

Qua gần 30 năm phấn đấu, ngành cà phê Việt Nam đã phát triển với tốc độ cao vượt bậc Đến nay diện tích cà phê cả nước đã là 500.000 ha, sản lượng xấp xỉ đạt 800 -

900 ngàn tấn/năm Việt Nam trở thành nước xuất khẩu lớn thứ hai trên thế giới và đứng đầu về sản xuất cà phê Robusta

2 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê

2.1 Các nhân tố thuộc về vĩ mô

2.1.1 Chính sách mở cửa hội nhập kinh tế thế giới của Nhà nước

Trang 11

Ngoài chính sách mở cửa hội nhập ra thì việc tham gia các tổ chức định chế tài chính nói chung và các tổ chức về cà phê thế giới nói riêng Như việc tham gia vào tổ chức thương mại thế giới (WTO), tham gia vào các khu vực thực hiện chung về thuế quan của các quốc gia Đông Nam á (CEPT/AFTA) Rồi tổ chức cà phê thế giới (ICO), Hiệp hội các nước xuất khẩu cà phê thế giới (ACPC) Việc tham gia vào các tổ chức này

sẽ giúp cho việc xuất khẩu cà phê giảm thiểu những rào cản tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu cà phê Bên cạnh đó còn giúp cho chúng ta quản lý tốt hơn hoạt động xuất khẩu cà phê tránh tình trạng bị các nhà nhập khẩu, những nhà đầu cơ và các nhà rang xay ép giá giúp cho nước xuất khẩu cà phê như chúng ta có được sự phát triển bền vững

Hiện nay nước ta đang trong tiến trình mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế nên phải cam kết mở rộng thị trường, nới lỏng tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan Theo lịch trình thực hiện AFTA từ 1/7/2003, thuế nhập khẩu cà phê thành phẩm giảm từ 50% xuống còn 20% Hiệp định khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - Asean quy định: thuế nhập khẩu sẽ giảm xuống 0% đối với Trung Quốc vào năm 2010 và vào năm 2015 đối với các nước Việt Nam, Lào, campuchia, Myanma Lộ trình cắt giảm này đang được đàm phán để đẩy nhanh hơn nữa Như vậy việc nhập cà phê thành phẩm của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cà phê Việt Nam từ Lào và Trung Quốc sẽ có tác động tích cực Việc giảm thuế nhập khẩu cà phê thành phẩm để phục vụ cho chế biến xuất khẩu sẽ làm giảm giá thành cà phê xuất khẩu của các doanh nghiệp Tuy lượng cà phê thành phẩm nhập khẩu là không đáng kể, nhưng điều này cũng làm cho việc kinh

Trang 12

doanh xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam có thêm điều kiện thuận lợi để kinh doanh mặt hàng cà phê trên thị trường quốc tế

2.1.2 Cầu và thị trường nước nhập khẩu

Cũng như bất kỳ một loại hàng hoá nào khác, cà phê xuất khẩu cũng chịu ảnh hưởng bởi cầu của nước nhập khẩu Khi các nước nhập khẩu có nhu cầu cao về cà phê

sẽ giúp cho nước xuất khẩu cà phê thúc đẩy xuất khẩu cà phê của mình Nhưng nhu cầu

từ nước nhập khẩu không chỉ là nhu cầu chung về cà phê mà là nhu cầu về loại cà phê nào Như chúng ta đã biết cà phê có loại cà phê Arabica(cà phê chè), Robusta(cà phê vối) Việt Nam là nước chủ yếu sản xuất cà phê vối, nếu nước nhập khẩu cà phê có nhu cầu cao loại cà phê này thì sẽ thúc đẩy xuất khẩu cà phê của chúng ta, còn nếu nước nhập khẩu có nhu cầu cao về cà phê nhưng lại là loại cà phê chè thì cũng không làm tăng xuất khẩu cà phê của Việt Nam

Dung lượng của thị trường nước nhập khẩu về cà phê cũng ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất khẩu cà phê Nếu nước nhập khẩu có nhu cầu về cà phê nhưng dung lượng của thị trường này không lớn thì lượng cà phê được nhập vào thị trường này cũng không lớn và cũng không làm tăng xuất khẩu cà phê của nước nhập khẩu là bao nhiêu

Ngoài nhu cầu ra thì thị trường nước nhập khẩu cũng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các nước xuất khẩu Cho dù nước nhập khẩu có nhu cầu cao

về cà phê và dung lượng thị trường lớn nhưng nước nhập khẩu có các chính sách nhằm hạn chế nhập khẩu cà phê nhằm bảo hộ cho các nhà sản xuất cà phê trong nước thì cũng làm hạn chế khả năng xuất khẩu cà phê của các nước xuất khẩu cà phê

2.1.3 Môi trường cạnh tranh

Môi trường cạnh tranh càng gay gắt thì dễ làm giảm xuất khẩu cà phê của chúng

ta nhất là khi cà phê của chúng ta là cà phê Robusta có giá trị thấp hơn cà phê Arabica Chất lượng cà phê của chúng ta lại thấp hơn các nước khác như Braxin, Colombia, Indonesia Làm cho việc xuất khẩu cà phê của chúng ta gặp nhiều khó khăn Ngược lại khi mà thị trường cà phê thế giới có sự cạnh tranh không cao như cầu quá cung thì sẽ làm cho xuất khẩu cà phê có nhiều thuận lợi

2.1.4 Các chính sách của Chính phủ

Với cà phê xuất khẩu trong những năm vừa qua được Chính phủ hỗ trợ rất nhiều thông qua các chương trình phát triển, thông qua các chính sách hỗ trợ về tài chính như

Trang 13

khoanh nợ, xoá nợ, cho vay ưu đãi, hỗ trợ xúc tiến thương mại vì vậy mà đã thúc đẩy xuất khẩu cà phê của Việt Nam phát triển trong những năm vừa qua Trong thời gian mà ngành cà phê gặp khủng hoảng do sự biến động giá cả phức tạp của cà phê trên thị trường thế giới, nhờ các chính sách này mà ngành cà phê Việt Nam vượt qua được cơn khủng hoảng và vẫn là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai trên thế giới sau Braxin và là nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới Có thể nói các chính sách hỗ trợ của Chính phủ đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho xuất khẩu cà phê Việt Nam Nếu không có các chính sách hỗ trợ này thì cà phê xuất khẩu Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn và Việt Nam không thể trở thành nước xuất khẩu cà phê lớn trên thế giới như hiện nay được Tuy nhiên, các chính sách này còn nhiều hạn chế và vướng mắc vì vậy nó chưa phát huy hết vai trò của mình trong việc thúc đẩy xuất khẩu cà phê

2.1.5 Yếu tố về sản xuất chế biến

Việc quy hoạch vùng trồng cà phê hợp lý sẽ giúp cho chúng ta khai thác được lợi thế vùng trong sản xuất cà phê Nâng cao được năng suất, chất lượng của cà phê, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho chế biến và xuất khẩu cà phê

Công nghệ chế biến cũng ảnh hưởng tới xuất khẩu cà phê Nếu chúng ta có được công nghệ chế biến cà phê hiện đại với công suất lớn thì chúng ta sẽ nâng cao được giá trị của cà phê xuất khẩu Tạo ra sức cạnh tranh mạnh cho cà phê xuất khẩu của chúng ta

so với các nước xuất khẩu cà phê khác

Việc phân bố các nhà máy chế biến, các cơ sở kinh doanh cà phê cũng như các vùng sản xuất cà phê hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình vận chuyển, chế biến và kinh doanh xuất khẩu cà phê Qua đó sẽ giảm được chi phí trong hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh của cà phê xuất khẩu trên thị trường cà phê thế giới

Ngoài ra các yếu tố cơ sở hạ tầng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới xuất khẩu cà phê Nếu có được cơ sở hạ tầng tốt thì giúp cho việc vận chuyển cà phê từ nơi sản xuất tới nơi chế biến và kinh doanh xuất khẩu cà phê thuận tiện Cơ sở hạ tầng tốt cũng tạo điều kiện giúp cho việc chế biến và kinh doanh xuất khẩu cà phê thuận lợi Góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của cà phê xuất khẩu, qua đó nâng cao được kết quả và hiệu quả của cà phê xuất khẩu

2.1.6 Các nhân tố thuộc về quản lý

Trang 14

Có thể nói con người có ý nghĩa quyết định trong mọi vấn đề, đặc biệt là trong kinh doanh Với kinh doanh xuất khẩu cà phê cũng vậy, cho dù có đầy đủ các nhân tố thuận lợi khác nhưng nếu như không có những công nhân lành nghề, có khả năng vận dụng khoa học kỹ thuật hay khả năng sử dụng máy móc trang thiết bị hiện đại trong sản xuất chế biến cà phê thì cũng làm cho hoạt động xuất khẩu cà phê không có hiệu quả

Ngoài ra, cho dù chúng ta có được mặt hàng cà phê có chất lượng và có sức cạnh tranh cao nhưng không có người am hiểu về kinh doanh xuất nhập khẩu để tham gia quản lý điều hành công việc kinh doanh xuất nhập khẩu thì xuất khẩu cà phê của chúng ta cũng không thể có được kết quả tốt

Những người làm công tác quản lý vĩ mô, hoạch định các chính sách liên quan đến hoạt động xuất khẩu cà phê cũng có ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất khẩu cà phê Những người này sẽ cố vấn cho Chính phủ điều tiết và quản lý hoạt động xuất khẩu cà phê Nếu những người này có khả năng chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức tốt thì

sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của xuất khẩu cà phê theo hướng bền vững và có hiệu quả cao

2.2 Các yếu tố thuộc vi mô

2.2.1 Kênh và dịch vụ kênh phân phối của doanh nghiệp xuất khẩu

Một kênh phân phối tốt không những giảm chi phí trong hoạt động nâng cao sức cạnh tranh của cà phê xuất khẩu của doanh nghiệp mà còn giúp cho quá trình xuất khẩu

cà phê của doanh nghiệp được nhanh chóng, dễ dàng và nắm bắt tốt thông tin từ nguồn cung ứng cũng như từ phía khách hàng

Dịch vụ phân phối tốt sẽ giúp khách hàng hài lòng hơn khi mua cà phê của doanh nghiệp Dịch vụ phân phối còn là vũ khí cạnh tranh hữu hiệu của các nhà xuất khẩu nhằm tăng sức cạnh tranh của cà phê xuất khẩu của doanh nghiệp qua đó góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu cà phê của cả nước

2.2.2 Giá cả và chất lượng

Bất kể hàng hoá nào cũng vậy, nếu chất lượng tốt thì có sức cạnh tranh cao và sẽ được tiêu thụ nhanh và mạnh hơn Nếu cà phê có chất lượng tốt và đồng đều được khách hàng đánh giá cao thì sẽ giúp cho các nhà xuất khẩu thúc đẩy hoạt đỗng xuất khẩu cà phê của mình Không những thế giá cà phê xuất khẩu còn cao hơn là cà phê của

Trang 15

2.2.3 Công nghệ chế biến của doanh nghiệp

Nếu doanh nghiệp có công nghệ chế biến hiện đại thì sản phẩm chế biến của doanh nghiệp sẽ có sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường xuất khẩu Năng suất lao động được nâng lên, chất lượng hàng hoá được tốt hơn, giá trị gia tăng trong mỗi đơn vị hàng hoá sẽ cao hơn Qua đó sẽ tạo cho doanh nghiệp được lợi thế cạnh tranh tiêu thụ tốt hàng hoá của mình trên thị trường thế giới, lợi nhuận sẽ tăng lên qua việc tăng năng suất lao động và giá trị gia tăng trong mỗi đơn vị sản phẩm Vì thế sẽ thúc đẩy doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm của mình Ngược lại nếu doanh nghiệp chế biến xuất khẩu

cà phê có máy móc, trang thiết bị và công nghệ lạc hậu thì các sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp sẽ không có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới, đặc biệt là trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt Sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp sẽ chỉ là sản phẩm thô, cà phê nhân có giá trị và chất lượng thấp nên sẽ bị ép giá Qua đó

sẽ kìm hãm xuất khẩu của doanh nghiệp và cũng làm ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê của cả ngành, đặc biệt với đơn vị lớn của ngành như Tổng công ty Cà Phê Việt Nam

2.2.4 Nguồn lực tài chính của công ty

Nguồn lực tài chính là yếu tố rất quan trọng đối với bất kỳ công ty nào đặc biệt là những công ty tham gia xuất khẩu cà phê Nếu không có đủ nguồn lực tài chính thì các công ty xuất khẩu cà phê sẽ không thể dự trữ cà phê lâu để chờ đợi thời cơ thuận lợi để xuất khẩu và như vậy sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh xuất khẩu

cà phê của các công ty Mặt khác khi không đủ nguồn lực tài chính thì các công ty không thể tiến hành các biện pháp liên quan đến xúc tiến bán hàng và tìm kiếm thị

Trang 16

trường xuất khẩu như thế sẽ làm giảm khả năng xuất khẩu cà phê của công ty và góp phần ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu cà phê của cả ngành

2.2.5 Nguồn nhân lực của công ty

Có thể nói trong các yếu tố thuộc vi mô thì yếu tố con người là yếu tố quan trọng nhất Nguồn nhân lực không chỉ ảnh hưởng tới khâu sản xuất, chế biến cà phê mà ngay

cả trong quản lý, kinh doanh thương mại quốc tế về cà phê Chính trình độ tay nghề của những công nhân, nhân viên sản xuất, chế biến của công ty sẽ ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của cà phê xuất khẩu Qua đó ảnh hưởng đến giá cả cà phê xuất khẩu và hiệu quả xuất khẩu cà phê của công ty và của cả ngành Ngoài ra, trình độ, kinh nghiệm quản

lý và kinh doanh thương mại thế giới liên quan đến cà phê cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng xuất khẩu cà phê của công ty

2.2.6 Các nhân tố khác

Thương hiệu của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có thương hiệu mạnh sẽ nâng cao được khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường, giá trị của sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp cũng được nâng cao do thương hiệu Có thương hiệu mạnh doanh nghiệp sẽ chủ động xuất khẩu trực tiếp sản phẩm của mình mà không phải qua các trung gian vì thế sẽ kích thích doanh nghiệp thúc đẩy xuất khẩu Ngược lại, nếu doanh nghiệp không có thương hiệu thì sản phẩm của doanh nghiệp rất khó tiêu thụ trên thị trường thế giới đặc biệt là thị trường đòi hỏi cao về nhãn mác như thị trường Hoa Kỳ, EU

3.Vai trò của xuất khẩu cà phê với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam

3.1 Tiềm năng các lợi thế về sản xuất và xuất khẩu cà phê của Việt Nam

* Tiềm năng lợi thế về sản xuất

- Việt Nam là nước nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, trải dài theo kinh tuyến 8030’ đến 23030’ vĩ độ Bắc Điều kiện khí hậu và tự nhiên rất thích hợp với cây cà phê Phía Bắc với điều kiện mùa đông lạnh thích hợp với phát triển cà phê chè(cà phê Arabica) Phía Nam có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thích hợp với việc phát triển cà phê vối(cà phê Robusta)

Trang 17

- Hiện nay Việt Nam có diện tích trồng cà phê rất lớn với khoảng 500.000 ha, với sản lượng hàng năm đạt khoảng 800.000-900.000 tấn Năng suất bình quân đạt gần 2 tấn/ha

- Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ Hơn nữa Việt Nam là nước nông nghiệp, người nông dân có kinh nghiệm trồng cây lâu năm, khả năng nắm bắt kỹ thuật và chăm sóc các loại cây công nghiệp dài ngày như cà phê là rất tốt

* Tiềm năng lợi thế về xuất khẩu

- Nhu cầu về cà phê trên thế giới không ngừng tăng lên, mà sản lượng cà phê của Việt Nam là khá lớn trong khi nhu cầu trong nước về cà phê là không cao Nên khả năng cung cấp cà phê của Việt Nam cho thị trường thế giới là cao

- Cùng với chính sách và đường lối mở cửa và chỉ đạo phát triển kinh tế sáng suốt của Đảng và Nhà nước thì thị trường cho cà phê Việt Nam cũng không ngừng được

mở rộng

- Cà phê xuất khẩu của Việt Nam được Nhà nước hỗ trợ về tài chính và các chính sách hỗ trợ gián tiếp khác nên các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam có đủ khả năng tài chính để tìm kiếm, xâm nhập các thị trường mới

3.2 Vai trò của xuất khẩu cà phê với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam

Trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam thì cà phê là mặt hàng

có nhiều lợi thế và cũng là mặt hàng xuất khẩu chiến lược của chúng ta Vì vậy khi nghiên cứu vai trò của xuất khẩu cà phê với kinh tế xã hội thì nó có vai trò sau:

a Vai trò đối với kinh tế

- Đối với nền kinh tế

+ Xuất khẩu cà phê mỗi năm đem về cho nền kinh tế chúng ta một lượng ngoại tệ lớn, khoảng 500 triệu USD Xuất khẩu cà phê góp phần không nhỏ vào việc thực hiện mục tiêu của chiến lược xuất nhập khẩu nói riêng và mục tiêu phát triển chiến lược kinh

tế xã hội nói chung của đất nước Mặt khác, xuất khẩu cà phê còn góp phần giúp tạo vốn cho đầu tư máy móc trang thiết bị cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh

tế

+ Xuất khẩu cà phê góp phần không nhỏ vào sự phát triên kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua Chính sự phát triển nhanh của xuất khẩu cà phê trong những năm

Trang 18

- Đối với các doanh nghiệp sản xuất, chế biến và xuất khẩu cà phê

+ Xuất khẩu cà phê giúp các doanh nghiệp có thêm lợi nhuận, thu được ngoại tệ

để đầu tư mua máy móc thiết bị mở rộng và nâng cao sản xuất từ đó tăng lợi nhuận và hiệu quả trong hoạt động của mình

+ Tham gia kinh doanh xuất khẩu cà phê giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp chuyên doanh về cà phê, nâng cao được uy tín hình ảnh của đơn vị trong con mắt bạn hàng và trên thị trường thế giới, từ đó tạo ra cho doanh nghiệp lợi thế canh tranh để nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng thị trường tăng thị phần và lợi nhuận

+ Với những doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp, việc tham gia kinh doanh xuất khẩu cà phê giúp doanh nghiệp có thêm mặt hàng để lựa chọn trong kinh doanh, từ đó

có thể lựa chọn được mặt hàng kinh doanh có hiệu quả tăng thêm lợi nhuận uy tín

- Với người sản xuất cà phê

+ Cà phê là sản phẩm trong nước có nhu cầu không cao do thói quen tiêu dùng của người Châu á nói chung và người Việt Nam nói riêng thích uống trà hơn cà phê Vì vậy xuất khẩu cà phê sẽ tìm được đầu ra cho sản phẩm của người nông dân trồng cà phê, giúp họ tiêu thụ được sản phẩm của mình và có thu nhập

+ Cà phê là một loại cây trồng rất thích hợp với điều kiện thời tiết và thổ nhưỡng của Việt Nam, đặc biệt là vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ Cà phê là một loại cây có giá trị kinh tế cao nên việc xuất khẩu cà phê sẽ giúp người nông dân trồng cà phê làm giàu trên chính mảnh đất của mình

+ Ngoài ra việc trồng cà phê xuất khẩu còn giúp họ giải quyết được việc làm cho người nhà trong thời buổi nông nhàn Bên cạnh đó việc xuất khẩu cà phê còn giúp cho người nông dân trồng cà phê được Nhà nước cũng như doanh nghiệp đầu tư vốn, giống

và kỹ thuật chăm sóc làm cho họ nâng cao năng suất lao động, cây trồng và chất lượng sản phẩm qua đó tăng thu nhập cho chính họ

b Vai trò đối với xã hội

Trang 19

Cà phê là một ngành sử dụng nhiều lao động cả trong sản xuất cũng như chế biến Theo Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (Vicofa) thì ngành sản xuất, xuất khẩu cà phê mỗi năm thu hút 600.000 đến 700.000 lao động, thậm chí vào vụ thu hoạch số lao động có thể lên tới 800.000 lao động Chính điều này đã giải quyết nhiều vấn đề xã hội, đặc biệt những vùng trồng cà phê lại là những vùng tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đồng bào khó khăn như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Vùng núi phía Bắc

Ngoài ra vụ thu hoạch cà phê thường vào tháng 9, tháng 10 khi mà vụ thu hoạch lúa chưa tới nên việc thu hoạch cà phê sẽ thu hút thêm nhiều lao động trong thời buổi nông nhàn, tạo cho người nông dân không những có việc làm, có thu nhập mà còn giúp

họ tránh mắc phải những tệ nạn xã hội vô ích khác như rượu chè, cờ bạc, gây gổ mất trật tự Như người ta vẫn thường nói “Nhàn cư vi bất thiện”

Như vậy, xuất khẩu cà phê giúp cho chúng ta giải quyết nhiều vấn đề xã hội như việc thực hiện kế hoạch xóa đói giảm nghèo, giảm các tệ nạn xã hội

c Vai trò đối với môi trường

Như chúng ta đã biết, cà phê là loại cây thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng của vùng đồi núi, vùng đất đỏ, những vùng mà có ít loại cây có thể thích ứng được với điều kiện thổ nhưỡng ở đó Chính vì vậy việc cây cà phê được trồng ở những vùng này sẽ giúp chúng ta phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ được môi trường sinh thái Tuy nhiên việc chế biến cà phê còn có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến môi trường, nhất là phương pháp chế biến ướt dùng nhiều nước sạch trong quá trình chế biến và thải ra nhiều chất thải không có lợi cho môi trường xung quanh Nhưng với sự tiến bộ ngày càng cao, công nghệ chế biến cà phê cũng ngày càng được hiện đại hoá thì vấn đề này

đã và đang được ngành cà phê Việt Nam quan tâm và thử nghiệm nhằm bảo vệ môi trường sinh thái

Trang 20

chương II: thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong thời gian qua

1 Thực trạng hoạt động xuất khẩu của cà phê việt nam trong thời gian qua

1.1 Tình hình sản xuất của cà phê Việt Nam trong thời gian qua

Kể từ khi cây cà phê được trồng ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1857 Đến nay diện tích cà phê của Việt Nam không ngừng được tăng lên qua các năm Nếu sau ngày giải phóng cả nước chỉ có khoảng 20.000 ha chủ yếu là ở hai tỉnh Gia Lai KonTom và Đăk Lăk với sản lượng chỉ khoảng 4.000 - 5.000 tấn Năm 1992, năm mà giá cà phê thế giới xuống thấp kỷ lục, sau đó giá cà phê được phục hồi mọi người đua nhau mua đất trồng cà phê làm cho diện tích trồng cà phê của Việt Nam tăng mạnh Năm 2000 diện tích trồng cà phê của cả nước là 500.000 ha với sản lượng lên tới 80 vạn tấn mỗi năm

Bảng 2 : Diễn biến diện tích và sản lượng cà phê của Việt Nam trong những niên vụ vừa qua

Trang 21

Nguồn: Tổng công ty cà phê Việt Nam

Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam

1.2 Thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam

Cùng với sự mở cửa phát triển kinh tế của đất nước, thị trường cà phê xuất khẩu Việt Nam cũng được mở rộng Tính đến năm 2003 cà phê Việt Nam đã xuất khẩu sang khoảng 60 nước và vùng lãnh thổ, gồm 65 hãng Trong đó có những công ty kinh doanh hàng đầu thế giới như Neumann Group (Đức), ED&FMan (Anh), Volcafe (Thuỵ Sỹ), Tardivat (Pháp), Itochu (Nhật Bản), Nestle', Đây cũng chính là những thị trường lớn của cà phê Việt Nam trong những năm trở lại đây

Bảng 3: 10 thị trường chính của Cà phê Việt Nam qua hai niên vụ

Niên vụ 2001/2002 Giá trị (triệu USD) Tỷ trọng (%)

Trang 22

Nguồn: Tổng công ty cà phê Việt Nam

Qua bảng biểu trên ta thấy rằng 70 - 80% cà phê Việt Nam được xuất sang 10 thị trường lớn này trong đó phải kể đến các thị trường Đức, Mỹ, Bỉ Nguyên nhân chủ yếu của việc cà phê Việt Nam tập trung vào các thị trường lớn này bởi vì cà phê của Việt Nam chủ yếu là được xuất khẩu gián tiếp qua các trung tâm giao dịch lớn như London hay NewYork, mà không trực tiếp xuất khẩu cho người tiêu dùng cuối cùng Mặt khác

cà phê xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là cà phê nhân nên khách hàng chủ yếu là cho các nhà nhập khẩu lớn và các nhà rang xay, mà các nhà nhập khẩu và rang xay lớn của thế giới lại nằm ở các nước như Đức, Mỹ, Bỉ, Pháp, Nhật Bản Nên đây là thị trường chính của cà phê Việt Nam trong thời gian dài nữa

Tuy nhiên, việc chỉ tập trung vào những thị trường này làm cho ngành cà phê Việt Nam phụ thuộc vào các thị trường lớn này, đặc biệt là thị trường EU và thị trường Hoa Kỳ Khi những thị trường này có biến động hay bị các nhà đầu cơ, hay các nhà nhập khẩu lớn ép giá thì chúng ta gặp rất nhiều khó khăn và thiệt thòi Chính vì vậy việc phải tìm kiếm thêm thị trường mới mà chúng ta có nhiều lợi thế như thị trường Trung Quốc, thị trường Nga và thị trường một số nước Châu á khác là một điều rất cần thiết đối với ngành cà phê xuất khẩu Việt Nam Tuy nhiên bên cạnh việc mở rộng tìm kiếm

Trang 23

thị trường mới thì chúng ta cũng cần phải giữ vững các thị trường cũ, những thị trường lớn mà cà phê Việt Nam đã có được chỗ đứng trong thời gian qua

1.3 Kết quả xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong thời gian qua

1.3.1 Kim ngạch xuất khẩu

Những năm trước đây cà phê là một ngành nhỏ có đóng góp khá khiêm tốn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, trong những năm gần đây cà phê

đã vươn lên trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch lên tới 500 triệu USD lần đầu tiên vào năm 1995 và cho đến nay hàng năm kim ngạch xuất khẩu cà phê trung bình hàng năm vẫn giữ vào khoảng 500 triệu USD/năm

Bảng 4: Tình hình xuất khẩu cà phê Việt Nam giai đoạn 2000 - 2005

(tấn)

Tốc độ tăng (%)

Giá cả trung bình (USD)

Nguồn: Báo cáo kinh doanh hàng năm của Vinacafe

Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (Vicofa)

Qua bảng 4 ta thấy xuất khẩu cà phê của Việt Nam tăng không ổn định cả về số lượng xuất khẩu và cả giá trị xuất khẩu Năm 2001 số lượng xuất khẩu cà phê tăng

Trang 24

mạnh, tăng 139.152 tấn nhưng kim ngạch lại giảm so với năm 2000, giảm khoảng 76,2 triệu USD tức là khoảng 16,43% so với năm trước Nguyên nhân chính là do giá cà phê trên thị trường thế giới giảm mạnh khiến cho giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam cũng giảm mạnh Năm 2001 giá trung bình 1 tấn cà phê của Việt Nam giảm xuống còn 459,46 USD/1tấn (giảm tới gần 200 USD so với năm 2000) Việc giá cà phê giảm mạnh trong niên vụ 1999 - 2000 và 2000 - 2001 đã làm cho các nhà xuất khẩu cà phê Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn và thách thức, còn người nông dân trồng cà phê cũng thua

lỗ nhiều và họ đồng loạt phá bỏ cây cà phê để chuyển sang trồng cây khác Có thể nói đây là một thách thức lớn cho ngành cà phê Việt Nam khi mà các doanh nghiệp cũng như người nông dân trồng cà phê không thật sự gắn bó lâu dài với cây cà phê Vào những năm trước đó khi giá cà phê lên cao thì họ đồng loạt trồng cà phê làm cho diện tích trồng cà phê tăng lên một cách nhanh chóng và góp phần tăng thêm sự mất cân đối cung cầu trên thị trường cà phê thế giới, làm cho giá cà phê bị giảm mạnh trong những năm tiếp theo sau đó Đến khi giá cà phê giảm thì họ lại đua nhau phá bỏ cây cà phê để chuyển sang trồng cây khác Đây là một điểm yếu của ngành cà phê Việt Nam, nó thể hiện chúng ta phát triển cây cà phê một cách tự phát không theo một quy hoạch và chiến lược hợp lý mà thiệt thòi cuối cùng thì người nông dân trồng cà phê phải gánh chịu

Trở lại bảng số liệu trên ta thấy, năm 2002 kim ngạch xuất khẩu giảm tới 22,62%

so với năm 2001 Trong năm này giá cà phê xuất khẩu vẫn tiếp tục giảm tới mức kỷ lục xuống chỉ còn 427,81 USD/1tấn, điều này không khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, cộng với vụ này cà phê Việt Nam bị mất mùa nên số lượng cà phê xuất khẩu trong năm này cũng giảm 16,87% xuống còn 702.017 tấn Chính hai nguyên nhân này đã khiến cho giá trị xuất khẩu năm 2002 giảm mạnh xuống chỉ còn hơn 300 triệu USD Tuy nhiên một năm sau đó giá cà phê thế giới bắt đầu tăng trở lại, điều này giúp cho giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam năm 2003 tăng hơn 50% so với giá năm 2002

Vì vậy mặc dù khối lượng xuất khẩu trong năm này có giảm nhẹ so với năm 2002 (giảm 1,7%), nhưng kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng mạnh, tăng 48,68% so với năm 2002, tương đương với khoảng hơn 146,2 triệu USD giúp cho các đơn vị kinh doanh cà phê trong nước cũng như người nông dân trồng cà phê lấy lại được niềm tin vào cây cà phê Tuy nhiên, giá cà phê trên thị trường thế giới vẫn biến động phức tạp, trong niên vụ 2002/2003 tại sàn giao dịch London có những ngày giá cà phê chênh lệch tới +/- 50

Trang 25

USD/tấn trong một phiên giao dịch Như vậy giá cà phê thế giới không chỉ chịu tác động của quy luật cung cầu mà nó còn bị chi phối bởi các nhà đầu cơ trên thị trường Một lần nữa chúng ta thấy được cà phê xuất khẩu của Việt Nam gặp không ít khó khăn, thách thức Hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam chịu tác động của rất nhiều yếu

tố Do đó để cho cà phê vẫn duy trì được là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam thì cần có các biện pháp và nỗ lực từ phía Nhà nước, doanh nghiệp và cả người nông dân

Năm 2005, sản lượng xuất khẩu của cả nước đạt 834.079 tấn giảm 6,26% so với năm 2004 Bên cạnh đó, do giá xuất khẩu tăng cho nên kim ngạch xuất khẩu đạt được 612.142.604 USD tăng 6,25% so với năm 2004 Nguyên nhân của sự tăng giá và giảm sản lượng cà phê xuất khẩu là do hạn hán kéo dài ở các nước Châu á và một số nước Nam Mỹ Chính điều này đã làm cho giá cà phê Robusta thế giới tăng mạnh vào những tháng đầu năm 2005, có khi giá cà phê Robusta thế giới lên tới trên 1000 USD/tấn, còn giá cà phê trong nước có khi lên tới trên 15.000 đồng/kg Có nhiều khi giá cà phê trong nước cao hơn giá cà phê xuất khẩu gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê

Theo dự báo thì năm 2006, sản lượng xuất khẩu của cả nước sẽ đạt khoảng 900.000 tấn, tăng 7,9% so với năm 2005 nhưng tạm tính giá xuất khẩu là 700 USD/tấn nên kim ngạch xuất khẩu sẽ đạt 630 triệu USD tăng 2,91% so với năm 2005

1.3.2 Giá cả

Giá cà phê trên thị trường thế giới diễn biến rất phức tạp, đặc biệt là cà phê vối,

cà phê chè có giá ổn định hơn rất nhiều Nếu như trước đây giá cà phê chè chỉ cao hơn

cà phê vối 0,5 lần thì hiện nay nó đã cao hơn 1,5 lần thậm chí là 2 lần Trong khi cà phê Robusta giá giảm mạnh thì giá cà phê Arabica lại tăng có khi lên tới 1800 - 2000 USD/tấn Nguyên nhân chính đó là các nước sản xuất cà phê Robusta chưa có được chiến lược phát triển bền vững, mà Việt Nam là một minh chứng Trước đây khi giá cà phê trên thị trường thế giới tăng thì chúng ta đồng loạt trồng cà phê mà hâụ quả là góp phần lớn vào việc cung cà phê tăng vọt quá cầu trên thị trường thế giới vào những năm sau đó Chính điều này là nguyên nhân chính làm cho giá cà phê giảm mạnh Đặc biệt là vào niên vụ 2001/2002 giá cà phê giảm xuống chỉ còn 427,57 USD/tấn Đây là năm mà giá cà phê thế giới xuống thấp nhất trong vòng 30 năm trở lại đây Đây cũng là vụ thứ 3

Trang 26

liên tiếp ngành cà phê Việt Nam gặp khủng hoảng về rớt giá, nhưng sau đó vụ 2002/2003 giá cà phê có những chuyển biến khá tích cực Nhưng đến vụ 2003/2004 giá lại có xu hướng giảm xuống, nhất là vào thời điểm cuối vụ Mặc dù vậy trong những năm gần đây, đặc biệt là ba năm trở lại đây ngành cà phê Việt Nam đã có được kế hoạch phát triển cà phê hướng tới phát triển bền vững

Bảng 5: Giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam (USD/tấn)

Nguồn: Tổng công ty cà phê Việt Nam

Bảng 6: Diễn biến giá cà phê Robusta trong vụ 2004/2005

Tháng 10/04

Tháng 11/04

Tháng 12/04

Tháng 1/05

Tháng 2/05

Tháng 3/05 Giá

8.000 - 9.000

9.500 - 10.000

9.600 - 10.300

11.000 - 11.700

12.000

- 14.200

Tháng 4/05

Tháng 5/05

Tháng 6/05

Tháng 7/05

Tháng 8/05

Tháng 9/05 Giá

LIFFE

(USD/tấn)

1001 1.135,4 1.232,8 1.189,7 1.082,4 923,47

Trang 27

Giá trong

nước(đ/kg)

14.000 - 15.000

15.000 - 17.000

17.000 - 18.500

16.000 - 17.000

14.000 - 15.000

12.000

- 13.500 Nguồn: Báo cáo kinh doanh hàng năm của Vinacafe

Qua bảng giá cả cà phê trên thị trường thế giới so sánh với giá FOB của Việt Nam thì ta thấy giá cà phê xuất khẩu của chúng ta có sự chênh lệch khá lớn Đặc biệt như năm 2002 chênh lệch tới hơn 100 USD/tấn Nguyên nhân của việc này ngoài chất lượng của chúng ta thấp, còn do sản lượng cà phê của chúng ta nhiều, nhất là vào vụ thu hoạch Điều này cũng khiến cho các nhà nhập khẩu ép giá đối với các nhà xuất khẩu trong nước Ngoài ra, hiện tượng tranh mua, tranh bán trong nước, nhất là vào vụ thu hoạch cũng góp phần không nhỏ khiến cho cà phê xuất khẩu Việt Nam thường bị các nhà nhập khẩu nước ngoài ép giá Người nông dân muốn bán nhanh để có tiền đầu tư cho vụ sau, còn các doanh nghiệp muốn bán nhanh để giảm chi phí dự trữ và thanh toán các khoản nợ vay để dự trữ cà phê, mà thời hạn vay của các nguồn vốn này là rất ngắn Mặt khác các doanh nghiệp cũng muốn bán nhanh để có nguồn tài chính cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo mà trước tiên là mua cà phê dự trữ cho vụ tiếp Vì vậy trong thời gian tới đây yêu cầu đặt ra cho ngành cà phê Việt Nam là phải tổ chức lại chặt chẽ các hoạt động kinh doanh của các công ty cũng như xây dựng một chiến lược dài hạn để phát triển bền vững cây cà phê, góp phần nâng cao hoạt động của ngành và tương xứng với vị trí của mình trong nền kinh tế Việt Nam

1.3.3 Cơ cấu và chủng loại

Như đã nêu ở trên, cà phê xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là cà phê vối, cà phê chè chỉ chiếm khoảng 10% trong cơ cấu xuất khẩu cà phê của Việt Nam và cà phê chè cũng chỉ mới xuất hiện trong cơ cấu cà phê xuất khẩu của Việt Nam trong ít năm trở lại đây (khoảng cuối những năm 1990 đầu những năm 2000) sau khi chúng ta có những dự

án phát triển diện tích cà phê chè ở các tỉnh phía Bắc Mặt khác cà phê xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là cà phê nhân, cà phê thành phẩm chỉ chiếm một phần không đáng

kể trong cơ cấu cà phê xuất khẩu của Việt Nam chỉ vào khoảng 0,5% trong tổng sản lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam Điều này được thể hiện thông qua bảng 7 dưới đây

Bảng 7: Cơ cấu chủng loại cà phê xuất khẩu của Việt Nam

Trang 28

Cơ cấu

Niên vụ 2002/2003 Niên vụ 2003/2004 Sản lượng

(tấn)

Tỷ trọng (%)

Sản lượng (tấn)

Tỷ trọng (%)

Nguồn: Tổng công ty cà phê Việt Nam 10/2004

Khối lượng xuất khẩu cà phê thành phẩm trong cơ cấu cà phê xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm chưa đến 0,5% Nhưng giá bán của loại cà phê này cao hơn nhiều so với

cà phê nhân nên giá trị xuất khẩu của nó chiếm gần 2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu

cà phê của Việt Nam Qua đây ta thấy rằng việc tăng tỷ trọng cà phê thành phẩm trong

cơ cấu cà phê xuất khẩu của Việt Nam là rất cần thiết Tuy nhiên, hiện nay trong cả nước chỉ có một số ít công ty sản xuất chế biến và xuất khẩu cà phê thành phẩm, trong

đó phải kể đến nhà máy chế biến cà phê Biên Hòa thuộc Tổng công ty cà phê Việt Nam, doanh nghiệp cà phê Trung Nguyên, Vinamilk thuộc Tổng công ty sữa Việt Nam, Nestle' (Thái Lan) Có thể nói hiện nay ở nước ta có rất ít công ty chế biến cà phê thành phẩm xuất khẩu, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam cũng chỉ để thu mua cà phê nhân xuất khẩu, trong các công ty đầu tư vào chế biến cà phê thành phẩm cà phê xuất khẩu chỉ có Nestle' (Thái Lan) Nhưng doanh nghiệp này xuất khẩu mỗi năm chỉ khoảng 1 triệu USD (năm 2003 giá trị xuất khẩu cà phê thành phẩm của Nestle' là 1,7 triệu USD)

Trong tổng diện tích cà phê Việt Nam thì đại đa số là cà phê vối, cà phê chè chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích Mặt khác, cà phê chè là loại cây khó tính, khó chăm sóc và có năng suất thấp nên cà phê xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là cà phê vối Hiện nay, Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê vối lớn nhất thế giới Số liệu ở bảng

8 cho ta thấy được cà phê chè chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng cơ cấu cà phê xuất khẩu Việt Nam, chỉ khoảng 4,6% Mặt khác cà phê chè chủ yếu lại được xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản Cà phê vối được xuất đi nhiều thị trường khác nhau, trong đó thị trường EU chủ yếu nhập khẩu cà phê vối Nguyên nhân của việc cà phê chè chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu cà phê xuất khẩu của Việt Nam là do loại cây cà phê chè rất khó trồng và chúng ta chỉ trồng khoảng được 20.000 ha (chỉ bằng 50% kế hoạch của dự án

Trang 29

phát triển cà phê chè của AFD) Lượng cà phê chè trong những năm trước chỉ để cung cấp cho các nhà chế biến trong nước chế biến cà phê thành phẩm làm trộn với cà phê vối

Bảng 8: Cơ cấu cà phê chè xuất khẩu của Việt Nam trong 2 niên vụ

Cơ cấu

Sản lượng (tấn)

Tỷ trọng (%)

Sản lượng (tấn)

Tỷ trọng (%)

Nguồn: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

Sự biến động phức tạp của thị trường cà phê trong thời gian vừa qua chủ yếu là diễn ra với cà phê vối Như chúng ta đã biết thì cung cà phê vối vượt quá cầu, do đó giá

cà phê vối trên thị trường cà phê thế giới giảm liên tục trong bốn niên vụ gần đây từ niên vụ 1999/2000 đến niên vụ 2002/2003 Trong khi đó thì cà phê chè vẫn luôn giữ được sự ổn định cần thiết thậm chí có khi giá cà phê chè lên tới gần 2000 USD/tấn và hiện nay giá cà phê chè cao gấp 1,5 lần so với cà phê vối Như vậy việc phải tăng nhanh

tỷ lệ cà phê chè trong cơ cấu cà phê xuất khẩu của Việt Nam là một nhiệm vụ cần thiết đối với ngành cà phê Việt Nam, có như thế chúng ta mới nâng dần giá trị cũng như hiệu quả xuất khẩu của cà phê Việt Nam

1.4 Những thuận lợi, khó khăn trong kinh doanh xuất khẩu cà phê

1.4.1 Thuận lợi:

- Trong thời gian qua, Chính phủ, các Bộ, Ngành đã có nhiều chính sách hỗ trợ ngành cà phê như: giãn nợ, thưởng xuất khẩu, hỗ trợ chi phí xúc tiến thương mại, giảm các thủ tục hành chính và chi phí liên quan đến xuất khẩu: phí kiểm dịch thực vật, phí C/O, phí hải quan

- Đội ngũ cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh xuất khẩu từ các vụ cà phê trước, quen dần với phương thức kinh

Trang 30

- Thị trường cà phê không ngừng được mở rộng, cà phê có thể được tiêu thụ dễ dàng ở mọi thời điểm trong năm Số khách hàng nước ngoài hỏi mua cà phê Việt Nam ngày càng nhiều Hiện tại, cà phê Việt Nam không gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ

- Bộ máy lãnh đạo của Tổng công ty từng bước được kiện toàn, tăng cường tinh thần đoàn kết trong Tổng công ty

- Thị trường cà phê trong nước gần như bị thả nổi, không có sự quản lý, điều tiết, định hướng Do kinh doanh cà phê quá dễ dàng nên ngày càng có nhiều đơn vị kể cả doanh nghiệp nhà nước, tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào kinh doanh xuất khẩu cà phê dẫn đến cạnh tranh gay gắt Hiện tượng tranh mua, tranh bán diễn ra thường xuyên làm giảm hiệu quả kinh doanh của các đơn vị nói riêng

và gây thua thiệt cho ngành cà phê Việt Nam nói chung Nếu mỗi tấn cà phê của Việt Nam bán thấp hơn so với cà phê cùng loại của các nước khác từ 30 - 50 USD thì với số

Trang 31

để tại kho ngoại quan, sau đó bán lại cho chính các đơn vị xuất khẩu của Việt Nam hoặc

bù trừ (wash-out) hợp đồng Để tiết kiệm chi phí, nhiều công ty nước ngoài còn thuê kho trong nước (nội địa) để nhận hàng tại kho theo hợp đồng ngoại và thủ tục xuất hàng

đi chỉ được thực hiện sau một thời hạn dài thậm chí hơn một năm gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu

- Các công ty nước ngoài cũng đã thu hút một số lượng đáng kể nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn khá, kinh nghiệm làm việc lâu năm của các đơn vị xuất nhập khẩu thuộc Tổng công ty về làm việc dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám, tiết lộ bí quyết kinh doanh và thiếu hụt nguồn cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu của Tổng công ty

- Tại Việt Nam, do tính chất tự phát và manh mún nên hầu như không hình thành được những kênh riêng biệt cho việc thu mua, xuất khẩu từ người sản xuất - đại lý thu mua - người xuất khẩu - người nhập khẩu Điều này làm cho thị trường cà phê trong nước bất ổn định và các nhà xuất khẩu cũng không thể trực tiếp ký được hợp đồng với các hãng rang xay nước ngoài để cung cấp cà phê với số lượng lớn, chất lượng ổn định trong thời hạn dài do không chắc chắn về nguồn nguyên liệu

- Vốn cho kinh doanh xuất khẩu cà phê là một vấn đề bức xúc của nhiều đơn vị Hầu hết các đơn vị kinh doanh cà phê phụ thuộc 100% vào nguồn vốn vay ngân hàng Cho nên khi gặp rủi ro bị thua lỗ vụ này thì vụ sau sẽ rất khó có thể vay được vốn hoặc vay được rất ít so với nhu cầu Do không đủ vốn nên nhiều đơn vị không tận dụng được

cơ hội kinh doanh khi thị trường diễn biến có lợi cho thu mua hàng xuất khẩu

- Hậu quả của tình trạng giật nợ, xù nợ từ những vụ trước chưa được giải quyết dứt điểm, các khoản nợ khó đòi, mất khả năng thanh toán, đang ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tài chính và kinh doanh của doanh nghiệp Nhiều đơn vị kinh doanh không đủ trả nợ, trả lãi vay ngân hàng nhưng vẫn phải duy trì để đảm bảo công ăn việc làm và trả lương cho người lao động

Trang 32

- Giá các loại vật tư, hàng hóa đều tăng, cước vận chuyển, tiền lương tối thiểu, giá nhân công tăng làm cho chi phí lưu thông tăng lên ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của tất cả các đơn vị cũng như của Tổng công ty

- Nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nên phải cam kết mở rộng thị trường, nới lỏng tiến tới loại bỏ các hàng rào thuế quan Việc giảm thuế này tuy không ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu mặt hàng cà phê nhân nhưng sẽ gây nhiều khó khăn cho mặt hàng cà phê chế biến

- Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, cam kết gia nhập WTO đòi hỏi chính phủ phải hạn chế tối đa việc hỗ trợ các doanh nghiệp nên các doanh nghiệp không còn cách nào khác phải tự mình khẳng định mình, không nên trông đợi nhiều ở Nhà nước, phải chủ động hội nhập, chủ động cạnh tranh

- Các nước nhập khẩu lớn như Mỹ, EU ngày càng tăng cường áp dụng các rào cản phi thuế quan: đạo luật chống khủng bố sinh học của Hoa Kỳ, áp dụng quy định về giới hạn Ochratoxin A trong cà phê, các quy định về tiêu chuẩn cà phê khi xuất vào thị trường Nhật, gây nhiều khó khăn cho xuất khẩu nói chung và xuất khẩu cà phê nói riêng Ngoài việc áp đặt hợp đồng cà phê Châu Âu với nhiều điều khoản bất lợi cho người xuất khẩu, hiện tại Châu Âu đang xây dựng Bộ nguyên tắc cho cộng đồng cà phê, trong đó có quy định các tiêu chuẩn về môi trường, kinh tế và xã hội cho cà phê được lưu thông trên thị trường

2 Tóm lược về tổng công ty cà phê việt nam

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Tổng công ty cà phê Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Chính phủ,

có trụ sở tại số 5 Ông ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội Tổng công ty có tên giao dịch quốc

tế là VINACAFE (Vietnam National Coffee Corporation) được thành lập theo quyết định 251/TTg ngày 29/04/1995 của Thủ tướng Chính phủ và hoạt động trên cơ sở Điều

lệ ban hành kèm theo Nghị định số : 44- CP ngày 15/7/1995 của Thủ tướng Chính phủ Tổng công ty cà phê Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ tháng 9/1995 mà tiền thân của nó là Liên hiệp các Xí nghiệp cà phê Việt Nam thành lập ngày 13/10/1982 theo quyết định 174/HĐBT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng(nay là Thủ tướng Chính phủ)

Trang 33

Hiện nay, Tổng công ty có 60 đơn vị thành viên gồm các nông trường sản xuất, các nhà máy chế biến, các công ty kinh doanh xuất nhập khẩu và các đơn vị sự nghiệp Các đơn vị sản xuất kinh doanh của Tổng công ty hoạt động trên cơ sở hạch toán độc lập, đồng thời có các quan hệ mật thiết với nhau và với các đơn vị sự nghiệp để hỗ trợ nhau trong tổ chức, nghiên cứu và phát triển với mục đích thực hiện sản xuất và kinh doanh cà phê có hiệu quả Tất cả các đơn vị thành viên hoạt động độc lập về hạch toán

và tuân thủ chấp hành điều lệ của Tổng công ty Được hưởng lợi ích và chia lợi nhuận theo phần đóng góp vào Tổng công ty và đều chịu sự điều tiết của Tổng công ty về giá

cả

Trong quá trình hình thành và phát triển, Tổng công ty không ngừng lớn mạnh và phát triển Hiện nay, Tổng công ty chiếm thị phần lớn của cà phê xuất khẩu Việt Nam Giá trị xuất khẩu cà phê của Tổng công ty chiếm hơn 25 - 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành Đóng góp đáng kể vào việc thực hiện nhiệm vụ của ngành cà phê Việt Nam và góp phần thực hiện mục tiêu của chiến lược phát triển xuất nhập khẩu cũng như chiến lược phát triển kinh tế xã hội đất nước

2.2 Chức năng và nhiệm vụ của Tổng công ty

2.2.1 Chức năng

Tổng công ty cà phê Việt Nam được thành lập để sản xuất chế biến và kinh doanh xuất khẩu cà phê Vì vậy, Tổng công ty có 3 chức năng chính là sản xuất chế biến, thương mại và dịch vụ

- Sản xuất và chế biến: Sản xuất chế biến cà phê, các mặt hàng nông sản, lâm sản, hải sản và hàng tiêu dùng

- Thương mại: Xuất khẩu cà phê, nông, lâm, thuỷ hải sản, các vật tư máy móc trang thiết bị và hàng hoá tiêu dùng

- Dịch vụ: Nghiên cứu khoa học kỹ thuật, đào tạo và mở rộng phát triển nông nghiệp, xây dựng và vận tải

2.2.2 Nhiệm vụ

- Tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả, bảo toàn, phát triển vốn Nhà nước giao, tổ chức phân bổ vốn cho các đơn vị thành viên

Trang 34

- Tổ chức, chỉ huy, phối hợp hoạt động sản xuất kinh doanh, tìm kiếm thị trường, nguồn hàng xuất nhập khẩu Nhằm đạt được mục đích chiến lược của Tổng công ty và các đơn vị thành viên là:

+ Tìm kiếm thị trường xuất khẩu cà phê, nông sản, nhập vật tư, thiết bị phục vụ cho ngành

+ Phân bổ thị trường cung ứng hay tiêu thụ cho các đơn vị thành viên trên cơ sở

có lợi nhất

+ Tổ chức cung cấp chính xác và kịp thời về thông tin, thị trường, giá cả trong nước và thế giới cho các đơn vị thành viên

+ Quản lý giá xuất nhập khẩu của Tổng công ty và công bố giá xuất khẩu cà phê

và giá nhập khẩu vật tư, thiết bị phục vụ cho ngành trong từng thời điểm để các đơn vị thành viên phối hợp thực hiện, khắc phục tình trạng tranh mua, tranh bán

+ Giúp đỡ cho các doanh nghiệp thành viên tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh

+ Tạo điều kiện giúp đỡ người nông dân phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm

2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất kỹ thuật và mạng lưới kinh doanh của Tổng công ty

2.3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Tổng công ty

Ban lãnh đạo của Tổng công ty cà phê Việt Nam gồm có hội đồng quản trị và ban Tổng giám đốc Tổng giám đốc là người điều hành Tổng công ty, còn Hội đồng quản trị có chức năng quản lý Tổng giám đốc của Vinacafe do chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật theo đề nghị của Hội đồng quản trị Tổng giám đốc là người đại diện pháp nhân của Tổng công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, Thủ tướng chính phủ và pháp luật về điều hành hoạt động của Tổng công ty

Hội đồng quản trị của Tổng công ty bao gồm 5 thành viên do Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn với nhiệm kỳ 5 năm và có trách nhiệm về sự phát triển của Tổng công ty theo nhiệm vụ mà Nhà nước giao

2.3.2 Cơ sở vật chất và mạng lưới kinh doanh của Tổng công ty

Hiện nay Tổng công ty có 60 đơn vị thành viên trong đó có 58 đơn vị hạch toán độc lập và 2 đơn vị hành chính sự nghiệp Các thành viên hạch toán độc lập gồm những

Trang 35

nông trường cà phê, các cơ sở chế biến và các công ty kinh doanh xuất khẩu cà phê và các loại hàng hoá khác, các trung tâm nghiên cứu được phân bổ rải rác trên khắp toàn quốc, nhưng tập trung chủ yếu là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Trong đó có 20 doanh nghiệp có chức năng xuất nhập khẩu Ngoài trụ sở chính tại số 5 Ông ích khiêm- Ba Đình- Hà Nội, Tổng công ty còn có 3 chi nhánh khác là:

- Chi nhánh tại Đăk Lăk: Xã Hoà Thắng, Thành phố Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đắk Lăk

- Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh: Số 28 Tôn Đức Thắng, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

- Chi nhánh Bắc Tây Nguyên: Thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai

Các chi nhánh này có chức năng và nhiệm vụ tham mưu, truyền đạt chỉ đạo của Tổng công ty và phản ánh hoạt động của các đơn vị thành viên trên địa bàn, thực hiện hợp đồng đã ký kết

Trang 36

ban kiểm soát

tổng giám đốc

Phó Tổng

Giám Đốc

Phó Tổng Giám Đốc

g

Ban

tổ chức

Ban tài chính

Ban

kế hoạch

Ban khoa học

Ngày đăng: 14/02/2014, 16:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính sách tài chính trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Vũ Thu Giang- NXB Chính trị quốc gia, 2000 Khác
2. Dự báo thị trường nông sản thế giới đến năm 2005 của FAO, Cục xúc tiến thương mại, 2002 Khác
4. Văn bản pháp luật về chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa - NXB Chính trị Quốc gia, 2003 Khác
5. Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa vấn đề và giải pháp - Vụ hợp tác kinh tế đa phương(Bộ ngoại giao) - NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2002 Khác
7. Báo cáo kinh doanh hàng năm của Tổng công ty cà phê Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: 10 thị trường chính của Càphê Việt Nam qua hai niên vụ. - Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay
Bảng 3 10 thị trường chính của Càphê Việt Nam qua hai niên vụ (Trang 21)
1.2. Thực trạng xuất khẩu càphê củaViệt Nam. - Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay
1.2. Thực trạng xuất khẩu càphê củaViệt Nam (Trang 21)
Bảng 4: Tình hình xuất khẩu càphê Việt Nam giai đoạn 2000- 2005 - Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay
Bảng 4 Tình hình xuất khẩu càphê Việt Nam giai đoạn 2000- 2005 (Trang 23)
Bảng 5: Giá càphê xuất khẩu củaViệt Nam (USD/tấn). - Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay
Bảng 5 Giá càphê xuất khẩu củaViệt Nam (USD/tấn) (Trang 26)
Qua bảng giá cả càphê trên thị trường thế giới so sánh với giá FOB củaViệt Nam thì ta thấy giá cà phê xuất  khẩu của chúng ta có sự chênh lệch khá lớn - Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay
ua bảng giá cả càphê trên thị trường thế giới so sánh với giá FOB củaViệt Nam thì ta thấy giá cà phê xuất khẩu của chúng ta có sự chênh lệch khá lớn (Trang 27)
Bảng DMDTNT (Danh mục đối tượng nộp thuế): Lưu thụng tin về cỏc đối tượng nộp thuế - Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay
ng DMDTNT (Danh mục đối tượng nộp thuế): Lưu thụng tin về cỏc đối tượng nộp thuế (Trang 34)
Bảng 9: Mười thị trường chính của Tổng công ty qua các niên vụ. TT  Thị - Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay
Bảng 9 Mười thị trường chính của Tổng công ty qua các niên vụ. TT Thị (Trang 38)
Qua bảng 9 ta thấy rằng mười thị trường chính của Tổng cơng ty chiếm từ 65 đến 90% tổng khối  lượng xuất khẩu cà phê của Tổng cơng ty - Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay
ua bảng 9 ta thấy rằng mười thị trường chính của Tổng cơng ty chiếm từ 65 đến 90% tổng khối lượng xuất khẩu cà phê của Tổng cơng ty (Trang 39)
Bảng 10: Kết quả xuất khẩu càphê của Tổng công ty càphê Việt Nam.         Chỉ tiêu - Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay
Bảng 10 Kết quả xuất khẩu càphê của Tổng công ty càphê Việt Nam. Chỉ tiêu (Trang 40)
Qua bảng số liệu 11 cho thấy giá càphê xuất khẩu của Tổng công ty tăng nhanh dần qua các tháng - Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay
ua bảng số liệu 11 cho thấy giá càphê xuất khẩu của Tổng công ty tăng nhanh dần qua các tháng (Trang 41)
3.3. Cơ cấu chủng loại mặt hàng xuất khẩu của Tổng công ty càphê Việt Nam. - Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay
3.3. Cơ cấu chủng loại mặt hàng xuất khẩu của Tổng công ty càphê Việt Nam (Trang 42)
Bảng 12: Cơ cấu cà phê xuất khẩu của Tổng công ty cà phê Việt Nam qua các - Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay
Bảng 12 Cơ cấu cà phê xuất khẩu của Tổng công ty cà phê Việt Nam qua các (Trang 42)
Như vậy qua bảng trên ta thấy giá càphê xuất khẩu của Tổng công ty so với giá cà phê thế giới cịn có một sự chênh lệch khá lớn - Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay
h ư vậy qua bảng trên ta thấy giá càphê xuất khẩu của Tổng công ty so với giá cà phê thế giới cịn có một sự chênh lệch khá lớn (Trang 44)
Bảng 14: Chất lượng càphê xuất khẩu củaViệt Nam. - Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay
Bảng 14 Chất lượng càphê xuất khẩu củaViệt Nam (Trang 45)
của những nhà đầu cơ lớn. Đứng trước tình hình đó và cũng đã trải qua thời kỳ khủng hoảng do sự biến động bất thường đó của thị trường cà phê thế giới nên ngành cà phê  Việt Nam đã có chiến lược phát triển diện tích cà phê theo hướng phát triển bền vững - Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay
c ủa những nhà đầu cơ lớn. Đứng trước tình hình đó và cũng đã trải qua thời kỳ khủng hoảng do sự biến động bất thường đó của thị trường cà phê thế giới nên ngành cà phê Việt Nam đã có chiến lược phát triển diện tích cà phê theo hướng phát triển bền vững (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w