1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản ở công ty xuất nhập khẩu tổng hợp I

73 322 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 671,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế, Công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp I cũng góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà, đồng thời cũng tìm ra cho mình một

Trang 1

http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn,

đồ án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cả mọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp của quý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý khách gửi về luanvanpro.com@gmail.com

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản ở công ty xuất nhập khẩu tổng hợp I

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới đang ra sức đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm sản xuất trong nước có hiệu quả

Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của công tác xuất khẩu và coi đó là 1 trong 3 chương trình kinh tế lớn phải tập trung thực hiện, có đẩy mạnh xuất khẩu, mở cửa ra thế giới bên ngoài Việt Nam mới có điều kiện thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, ổn định đời sống nhân dân, bắt kịp nền kinh tế thế giới

Với một nền kinh tế 70% dân số sống bằng nghề nông, Việt Nam xác định mặt hàng xuất khẩu chủ lực là các sản phẩm nông nghiệp, bất cứ nông sản nào cũng có thể xuất khẩu để đổi lấy ngoại tệ tạo vốn đầu tư nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà

Tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế, Công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp I cũng góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà, đồng thời cũng tìm ra cho mình một lĩnh vực kinh doanh đầy hấp dẫn, đó là xuất khẩu các mặt hàng nông sản Thành tích đạt được của Công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp I là tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản hàng năm của Công ty đạt từ 6-7 triệu USD

Hoạt động xuất khẩu nông sản của Công ty những năm qua có khá nhiều tiến bộ, song bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một vài khó khăn trong khâu tìm nguồn hàng, tìm thị trường xuất khẩu, dự trữ, bảo quản hàng hoá, ổn định tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản hàng năm

Xuất phát từ thực tiễn trên tôi quyết định chọn đề tài: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN Ở CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU TỔNG HỢP I ” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp cử nhân kinh tế

Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung Luận văn được chia làm 3 chương :

CHƯƠNG I: VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH XNK

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN Ở CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU TỔNG HỢP I

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN

Ở CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU TỔNG HỢP I

Trang 3

Dựa trên những lý luận và phân tích thực tế đã được học, tôi đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nói chung, xuất khẩu nông sản nói riêng nhằm mở rộng thị trường của Công ty trên toàn thế giới.

Được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn và tập thể cán bộ Công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp I tôi đã hoàn thành xong đề tài này Do nhận thức còn hạn hẹp cũng như chưa trải qua thực tế nên trong đề tài còn nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô, các cán bộ công ty và bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn

Trang 4

CHƯƠNG I

VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

Ở DOANH NGHIỆP KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU

I-/ VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN:

1-/ Sự ra đời của thương mại quốc tế:

Kinh doanh thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia thông qua hành vi mua bán Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội , phản ánh

sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia khác nhau

Các quốc gia cũng như cá nhân không thể sống một cách riêng rẽ mà có thể có đầy đủ mọi thứ được Buôn bán quốc tế có tính chất sống còn vì:

- Buôn bán quốc tế mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng của 1 nước

- Buôn bán quốc tế cho phép một nước tiêu dùng với số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với ranh giới của đường giới hạn khả năng sản xuất của nước đó, nếu thực hiện chế

độ tự cung tự cấp thì không có quan hệ buôn bán

Tiền đề của trao đổi hàng hoá là sự phân công lao động xã hội Với tiến bộ của khoa học

kỹ thuật thì phạm vi chuyên môn hoá ngày càng tăng, số sản phẩm- dịch vụ để thoả mãn cho nhu cầu của con người ngày một tăng Do đó mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước trên thế giới ngày một tăng, hay nói cách khác là chuyên môn hoá đã gắn chặt với thương mại

Trước hết, thương mại xuất hiện từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên của sản xuất giữa các khu vực và các nước Vì điều kiện sản xuát rất khác nhau giữa các nước nên mối quốc gia dựa vào điều kiện thuận lợi của mình chuyên môn hoá sản xuất một số mặt hàng

cụ thể và xuất khẩu những sản phẩm hàng hoá đó để đổi lấy hàng hoá nhập khẩu từ các nước khác

Sự khác nhau trình bày ở trên đã giải thích được việc buôn bán giữa các nước Song như chúng ta đã biết, phần lớn số lượng những mặt hàng đưa vào buôn bán không xuất phát

từ điều kiện tự nhiên vốn có của sản xuất Nước Mỹ sản xuất được ô tô, tại sao còn nhập

xe từ Nhật Bản? Một nước có trình độ sản xuất thấp kém như nước ta tại sao lại có thể hy vọng buôn bán với các nước có nền công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Anh, Pháp, Mỹ,

Lý thuyết "Lợi thế so sánh" của nhà kinh tế học người Anh-David Ricardo đã giải đáp câu hỏi hóc búa đó Lý thuyết "Lợi thế so sánh" nói rằng: Buôn bán quốc tế là 2 bên đều

có lợi ngay cả khi một trong 2 nước có thể sản xuất mọi thứ hàng hoá với giá cao hơn

Trang 5

nước kia.

Nhà kinh tế học David Ricardo, năm 1917 đã đưa ra bằng chứng tốt đẹp là chuyên môn hoá quốc tế có lợi cho một quốc gia và gọi kết quả đó là "Qui lợi thế tương đối" hay"Lý thuyết lợi thế so sánh"

Để đơn giản hoá David Ricardo đưa ra giả thuyết trên thế giới chỉ có 2 quốc gia, 2 loại hàng hoá và tính mọi chi phí bằng số giờ lao động

Lao động cần thiết cho 1 đơn vị sản phẩm (giờ lao động)

Ở bảng trên, ta thấy Mỹ có chi phí cho một đơn vị lương thực là 1 giờ công lao động và một đơn vị quần áo là 2 giờ lao động, còn ở Châu Âu chi phí cho một đơn vị lương thực

là 3 giờ lao động và một đơn vị quần áo là 4 giờ lao động Ricardo đã chứng minh một cách chắc chắn là cả Mỹ và Châu Âu đều có lợi nếu Mỹ chuyên môn hoá về lương thực

và Châu Âu chuyên môn hoá quần áo Mỹ xuất khẩu lương thực để trả tiền nhập khẩu quần áo từ Châu Âu và ngược lại Châu Âu xuất khẩu quần áo để trả tiền nhập khẩu lương thực từ Mỹ Nếu đem quy đổi số quần áo Mỹ nhập khẩu từ Châu Âu ra số giờ lao động ta

sẽ thấy thấp hơn nhiều nếu Mỹ tự sản xuất và ở Châu Âu cũng tương tự như Mỹ, số lương thực thu về sẽ lớn hơn tự sản xuất

Kết quả của mở rộng thương mại giữa 2 khu vực: Mỹ nói chung là có lợi vì mua quần áo qua đường thương mại rẻ hơn quần áo sản xuất trong nước, Châu Âu được lợi qua việc chuyên môn hoá sản xuất quần áo và mua lương thực rẻ hơn qua đường thương mại so với sản xuất trong nước Từ đó ta thấy, tiền lương thực tế sau khi có thương mại cao hơn trước khi có thương mại ở

cả Mỹ và Châu Âu Do chuyên môn hoá sản xuất và thương mại làm cho mức sản xuất mở rộng trên thế giới cả về lương thực và quần áo, từ đó tạo cho mọi người có cuộc sống khá hơn

Dựa trên cơ sở nguyên tắc lợi thế so sánh nói trên chúng ta khẳng định: Nếu mỗi nước chuyên môn hoá vào các sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh (hay có hiệu quả sản xuất cao nhất) thì thương mại sẽ có lợi cho cả 2 bên Tiền lương và thu nhập thực tế sẽ tăng lên ở cả 2 nước dù 1 trong 2 nước có hiệu quả tuyệt đối thấp hơn nước kia

Ngoài ra, sự khác nhau về sở thích và nhu cầu cũng là nguyên nhân để có thương mại

Trang 6

quốc tế, ngay cả trong trường hợp hiệu quả tuyệt đối trong hai nơi giống hệt nhau, buôn bán vẫn có thể diễn ra do sự khác nhau về sở thích.

Từ những lý luận trên ta thấy lý thuyết lợi thế so sánh có thể vận dụng đối với bất cứ mặt hàng nào, quốc gia nào chứ không phải chỉ riêng với Mỹ và Châu Âu

2-/ Vai trò của xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân:

Xuất khẩu được thừa nhận là hoạt động cơ bản của hoạt động thương mại quốc tế, là phương tiện thúc đẩy cho phát triển kinh tế, mở rộng xuất khẩu tăng thu ngoại tệ cho tài chính và cho nhu cầu nhập khẩu cũng như tạo cơ sở cho phát triển cơ sở hạ tầng là mục tiêu quan trọng nhất của chính sách thương mại Nhà nước ta đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu, khuyến khích khu vực tư nhân mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ cho đất nước

Đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vai trò của xuất khẩu thể hiện trên các mặt sau đây:

Một là, xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất nước và xuất khẩu cũng tạo nguồn vốn ngoại tệ góp phần cải thiện cán cân thương mại Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta Để công nghiệp hoá đất nước trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn rất lớn nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật công nghệ tiên tiến Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như: đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ, thu từ du, lịch dịch vụ thu ngoại tệ, xuất khẩu sức lao động, Các nguồn vốn từ đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ, tuy quan trọng nhưng vẫn phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau Nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hoá đất nước vẫn phải là xuất khẩu Xuất khẩu quyết định tốc độ, quy mô tăng của nhập khẩu

Hai là, xuất khẩu phát huy lợi thế so sánh của nước ta với các nước trên thế giới Nhiều chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước khi nói về tiềm năng kinh tế của Việt Nam đã nhấn mạnh về nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú, lực lượng lao động đông đảo, có trình độ đào tạo khá cao như một lợi thế so sánh quan trọng Hơn nữa các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh của Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ, rất dễ thay đổi mô hình kinh doanh và nhanh chóng tiếp thu kiến thức và kỹ năng quản lý cũng như nghiệp vụ Marketing của nước ngoài, nhất là từ các nước láng giềng Châu Á Ngoài những lợi thế

Trang 7

này, từ 1986 với chính sách đổi mới và mở cửa của nền kinh tế, chấp nhận quyền sở hữu

tư nhân và đảm bảo các điều kiện cần thiết cho kinh doanh tư nhân, nền kinh tế Việt Nam

đã đạt được những thành tựu đáng kể: tăng trưởng cao, lạm phát thấp, cán cân thanh toán hợp lý Những thành tựu này cũng là những lợi thế giúp cho hoạt động thương mại quốc

tế phát triển tốt Với hơn 75 triệu dân, Việt Nam được coi là bạn hàng tiềm năng quan trọng không chỉ trong khối ASEAN mà còn đối với cả thế giới Với những lợi thế so sánh, Việt Nam còn có điều kiện lựa chọn chiến lược xuất khẩu, Việt Nam sẽ tiến tới sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm công nghệ cao, cần nhiều vốn

Ba là, xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Hiện nay cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh

mẽ, đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta Có 2 cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đó là:

- Xuất khẩu là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu tiêu dùng nội địa Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ sự dư thừa của sản xuất thì xuất khẩu vẫn còn nhỏ bé, sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp

- Thị trường thế giới là mục tiêu hướng tới của tổ chức sản xuất Xuất phát từ nhu cầu của thế giới mà ta tổ chức sản xuất, điều này có tác động mạnh mẽ tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Sự tác động đối với sản xuất thể hiện ở:

+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển Chẳng hạn, khi phát triển sản xuất hàng may mặc xuất khẩu sẽ tạo cơ hội mở rộng các ngành có liên quan như: bông, vải, sợi, thuốc nhuộm,

+ Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần phát triển và ổn định sản xuất

+ Xuất khẩu tạo điều kiện nâng cao năng lực sản xuất trong nước

+ Xuất khẩu có vai trò thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả sản xuất của từng quốc gia

Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi với thị trường thế giới Các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện tổ chức sản xuất kinh doanh

- Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn, việc làm và cải thiện đời

Trang 8

sống nhân dân Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm nhiều mặt, trước hết sản xuất hàng hoá xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động vào làm việc, cải thiện thu nhâp Xuất khẩu tạo nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.

- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại Có thể hoạt động xuất khẩu xảy ra sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ đối ngoại phát triển Chẳng hạn như xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của tín dụng quốc tế, đầu tư quốc tế, vận tải quốc tế,

Mặt khác chính các quan hệ kinh tế đối ngoại này lại tạo tiền đề mở rộng xuất khẩu Sự phát triển của các hoạt động kinh tế, đối ngoại như dịch vụ thương mại quốc tế, bảo hiểm quốc tế, góp phần làm tăng GNP của nền kinh tế quốc dân Ngoài ra, xuất khẩu còn là tiền đề cho sự hợp tác và chuyên môn hoá quốc tế

Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh

tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nước

3-/ Mục tiêu nhiệm vụ của xuất khẩu:

Mục tiêu của xuất khẩu mà chúng ta muốn nói ở đây là mục tiêu nói chung của hoạt động xuất khẩu Mục tiêu này có thể không hoàn toàn giống với một mục tiêu của doanh nghiệp Một doanh nghiệp xuất khẩu là để hưởng lợi nhuận từ việc bán hàng hoá với giá cao hơn trong nước hay để được một khoản lợi nhuận từ việc chênh lệch tỷ giá khi chuyển đổi qua lại giữa các đồng tiền

Còn đối với một quốc gia, xuất khẩu được dùng để trả nợ, để chi cho các hoạt động ngoại giao, nhưng mục tiêu quan trọng nhất của xuất khẩu là để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Nhu cầu của nền kinh tế rất đa dạng: phục vụ cho công nghiệp hoá đất nước, cho tiêu dùng, tạo việc làm cho người lao động Xuất khẩu là để nhập khẩu, do đó thị trường xuất khẩu phải gắn với thị trường nhập khẩu, phải xuất phát từ yêu cầu của thị trường nhập khẩu để xác định phương hướng và tổ chức nguồn hàng thích hợp

Để thực hiện tốt mục tiêu trên hoạt động xuất khẩu cần hướng vào thực hiện các nhiệm

Trang 9

Ba: tạo ra những nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đáp ứng những đòi hỏi của thị trường thế giới và của khách hàng về số lượng, chất lượng, sản phẩm hàng hoá phải có sức hấp dẫn, năng lực cạnh tranh cao.

Bốn: không ngừng phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm mở rộng mối quan hệ của Việt Nam với các nước trên thế giới

II-/ NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU Ở DOANH NGHIỆP KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU:

Hoạt động xuất khẩu ra thị trường nước ngoài diễn ra khó khăn, phức tạp hơn rất nhiều

so với việc bán hàng ở trong nước Hoạt động xuất khẩu có liên quan tới những vấn đề như: ngôn ngữ, bản sắc văn hoá dân tộc, sự vận động của thị trường, đồng tiền thanh toán, vận chuyển hàng hoá, pháp luật, chính trị, tập quán, thông lệ quốc tế,

Hoạt động xuất khẩu được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp vụ, nhiều khâu từ điều tra nghiên cứu thị trường nước ngoài, lựa chọn hàng hoá xuất khẩu, lập phương án kinh doanh, đàm phán ký kết hợp đồng, điều kiện, phương thức thanh toán Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ phải được nghiên cứu thực hiện đầy đủ theo đúng bước, đúng thủ tục, phải tranh thủ nắm bắt những lợi thế đảm bảo cho hoạt động xuất khẩu đạt kết quả cao nhất.Một số nghiệp vụ của hoạt động xuất khẩu:

1-/ Nghiên cứu tiếp cận thị trường:

Nghiên cứu thị trường là việc làm cần thiết đầu tiên với bất cứ một doanh nghiệp nào muốn tham gia vào thị trường thế giới Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền sản xuất và lưu thông hàng hoá, ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hoá ở đó có thị trường Thị trường là tổng thể các quan hệ lưu thông hàng hoá - tiền tệ Nói cách khác thị trường là tổng lượng cầu có khả năng thanh toán và cung có khả năng đáp ứng Thị trường bao gồm người mua và người bán, các quan hệ mua bán, dung lượng thị trường.Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới còn bao gồm cả việc nghiên cứu toàn bộ quá trình tái sản xuất của một ngành sản xuất hàng hoá, tức là việc nghiên cứu không chỉ giới hạn ở lĩnh vực lưu thông mà cả lĩnh vực sản xuất hàng hoá, phân phối hàng hoá Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, nghiên cứu thị trường thế giới phải trả lời được câu hỏi:

Xuất khẩu cái gì? dung lượng thị trường đó là bao nhiêu? thương nhân trong giao dịch là ai? sử dụng phương thức nào? và chiến lược kinh doanh trong từng giai đoạn?

1.1 Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu:

Để lựa chọn mặt hàng xuất khẩu trước tiên cần dựa vào nhu cầu của sản xuất, tiêu dùng

về quy cách, chất lượng, chủng loại, giá cả, thời vụ và thị hiếu cũng như tập quán của từng vùng, từng lĩnh vực sản xuất Từ đó tiến hành xem xét các khía cạnh của hàng hoá thế giới Về khía cạnh thương phẩm phải hiểu rõ giá trị, công dụng đặc tính, quy cách,

Trang 10

phẩm chất, mẫu mã Nắm bắt đầy đủ giá cả hàng hoá ứng với từng điều kiện cơ sở giao hàng(CIF,CFR,FOB ) và phẩm chất hàng hoá, khả năng sản xuất và nguồn cung cấp chủ yếu của các công ty cạnh tranh, hoạt động dịch vụ bảo hành bảo dưỡng, hướng dẫn

sử dụng, Để lựa chọn được mặt hàng kinh doanh cũng cần phải nắm vững tỷ suất ngoại

tệ các mặt hàng Trong xuất khẩu, tỷ suất ngoại tệ là số lượng bản tệ chi ra để có thể thu được một đơn vị ngoại tệ Nếu tỷ suất ngoại tệ tính ra thấp hơn tỷ giá hối đoái trên thị trường thì việc xuất khẩu có hiệu quả Việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu không những chỉ dựa vào tính toán hay ước tính mà còn phải dựa vào cả kinh nghiệm của những người nghiên cứu thị trường để dự đoán các xu hướng biến động của giá cả thị trường trong nước cũng như ngoài nước, dự đoán được các khả năng có thể xảy ra

1.2 Nghiên cứu dung lượng thị trường và các nhân tố ảnh hưởng:

Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên phạm vi 1 thị trường nhất định, trong 1 thời kỳ nhất định (thường là 1 năm) Nghiên cứu về dung lượng thị trường cần xác định nhu cầu thực của khách hàng, kể cả lượng dự trữ, xu hướng biến động của nhu cầu trong từng thời điểm Cộng với việc nắm bắt nhu cầu là nắm bắt khả năng cung cấp của thị trường bao gồm việc xem xét đặc điểm tính chất khả năng của sản xuất hàng hoá thay thế, khả năng lựa chọn mua bán Một vấn đề nữa là tính chất thời vụ của sản xuất và tiêu dùng hàng hoá trên thị trường để có biện pháp thích hợp trong từng giai đoạn bảo đảm cho việc xuất khẩu có hiệu quả

Dung lượng thị trường không cố định, nó thay đổi tuỳ theo tác động của các nhân tố đó là:

- Nhân tố làm cho dung lượng thị trường biến động có tính chất chu kỳ

- Nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến sự biến động của thị trường bao gồm những tiến bộ khoa học kỹ thuật, các biện pháp chính sách của Nhà nước, thị hiếu tiêu dùng

- Nhân tố ảnh hưởng tạm thời tới dung lượng thị trường như hiện tượng đầu cơ gây nên những đột biến về cung - cầu, các yếu tố tự nhiên (thiên tai, lụt bão, ), yếu tố chính trị

xã hội,

1.3 Lựa chọn đối tác kinh doanh:

Trong xuất khẩu, khách hàng là những người hoặc những tổ chức có quan hệ giao dịch với ta nhằm thực hiện các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá hay các loại dịch vụ các hoạt động hợp tác kinh tế hay hợp tác khoa học kỹ thuật, liên quan đến việc cung cấp hàng hoá Có thể chia làm 3 loại khách hàng chính bao gồm: Các hãng (công ty), các nghiệp đoàn kinh doanh, các cơ quan Nhà nước Việc lựa chọn các đối tượng giao dịch

có căn cứ khoa học là điều kiện quan trọng để thực hiện thắng lợi các hoạt động xuất

Trang 11

khẩu Người ta thường phải dựa trên cơ sở nghiên cứu sau:

Một là: tình hình sản xuất, kinh doanh của đối tác trong lĩnh vực và phạm vi kinh doanh

để thấy được khả năng cung cấp lâu dài thường xuyên, để liên kết kinh doanh và đặt hàng sản xuất

Hai là: khả năng về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật cho phép ta thấy được những ưu thế trong thoả thuận về giá cả, điều kiện thanh toán

Ba là: thái độ và quan điểm kinh doanh là vươn tới chiếm lĩnh thị trường hay độc quyền kinh doanh, độc quyền giá cả, những quan điểm mua bán với bạn hàng

Tóm lại, công tác nghiên cứu tiếp cận thị trường là nhằm thực hiện phương châm hành động: chỉ bán cái thị trường cần chứ không phải là bán cái mình có sẵn

2-/ Tổ chức thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu:

Nguồn hàng xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá của 1 doanh nghiệp, một địa phương hay một vùng có khả năng xuất khẩu được Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu là một hệ thống nghiệp vụ trong kinh doanh mua bán trao đổi hàng hoá nhằm tạo ra nguồn hàng cho xuất khẩu, bao gồm các khâu từ nghiên cứu thị trường đến thu mua, vận chuyển, bảo quản, xuất kho Phần lớn các hoạt động nghiệp vụ này chỉ làm tăng chi phí thuộc chi phí lưu thông chứ không làm tăng giá trị sử dụng của hàng hoá Do vậy các doanh nghiệp cần nghiên cứu để đơn giản hoá các nghiệp vụ nhằm giảm chi phí lưu thông để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, thông qua hệ thống các đại lý thu mua hàng xuất khẩu chủ động được nguồn hàng, chủ động và ổn định trong kinh doanh buôn bán,

nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của hàng xuất khẩu, đến tiến độ giao hàng, thực hiện hợp đồng xuất khẩu, uy tín của doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh Kinh nghiệm cho thấy các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu mạnh không phải chỉ vì lắm tiền nhiều vốn mà phải có hệ thống chân hàng mạnh, hệ thống đại lý thu mua rộng khắp, hoạt động thường xuyên bám sát thị trường

Có nhiều tiêu thức để phân loại nguồn hàng xuất khẩu như: phân loại theo chế độ phân cấp quản lý (thuộc chỉ tiêu kế hoạch nhà nước, ngoài kế hoạch) phân loại theo đơn vị giao hàng, theo phạm vi doanh nghiệp được phân công khai thác, theo khối lượng hàng hoá thu mua, theo mối quan hệ kinh tế Tuỳ theo tình hình riêng của mỗi doanh nghiệp

mà có những hình thức thu mua, tạo nguồn hàng xuất khẩu khác nhau như: thu mua tạo nguồn theo đơn đặt hàng kết hợp với ký kết hợp đồng; thu mua tạo nguồn xuất khẩu theo hợp đồng, không theo hợp đồng; thông qua liên doanh liên kết với các đơn vị sản xuất; tự sản xuất; thông qua đại lý thu mua; thông qua hàng đổi hàng

Trang 12

Công tác thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu là hệ thống các công việc bao gồm:

2.1 Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu:

Đây là việc nghiên cứu khả năng cung cấp hàng xuất khẩu trên thị trường, được xác định bởi nguồn hàng thực tế và nguồn hàng tiềm năng Trong đó nguồn hàng thực tế là nguồn

đã có và đang sẵn sàng đưa vào lưu thông Nguồn hàng tiềm năng là nguồn hàng chưa xuất hiện, nó có thể có hoặc không xuất hiện trên thị trường, với nguồn hàng này đòi hỏi doanh nghiệp ngoại thương phải có đầu tư, có đơn hàng, có hợp đồng kinh tế thì người cung cấp mới tiến hành sản xuất.Trong công tác xuất khẩu đây là nguồn hàng cực kỳ quan trọng

Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu còn nhằm xác định chủng loại mặt hàng, kích cỡ, mẫu mã, công dụng, chất lượng, giá cả, thời vụ, những đặc điểm, tính năng riêng của từng mặt hàng Ngoài ra doanh nghiệp còn phải xác định được xem mặt hàng dự định kinh doanh xuất khẩu có phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của thị trường nước ngoài về những chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật hay không? Đồng thời nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu phải xác định được giá cả của hàng hoá trong nước so với giá cả quốc tế, lợi nhuận thu được sau khi trừ đi giá mua và chi phí khác là bao nhiêu Người làm công tác này cũng cần tìm hiểu chính sách quản lý của Nhà nước về mặt hàng đó như thế nào? Tất cả những công việc này nhằm giúp doanh nghiệp hạn chế được rủi ro của thị trường, tiến hành khai thác ổn định nguồn hàng trong khoảng thời gian hợp lý, làm cơ sở chắc chắn cho việc ký kết và thực hiện hợp đồng xuất khẩu

2.2 Tổ chức hệ thống thu mua hàng cho xuất khẩu:

Xây dựng một hệ thống thu mua thông qua đại lý và chi nhánh của mình, doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu sẽ tiết kiệm được chi phí thu mua, nâng cao năng suất và hiệu quả thu mua Hệ thống thu mua bao gồm mạng lưới các đại lý, hệ thống kho hàng ở các địa phương, các khu vực có loại hàng thu mua Chi phí này khá lớn, do vậy doanh nghiệp phải có sự lựa chọn cân nhắc trước khi chọn đại lý và xây dựng kho, nhất là những kho đòi hỏi phải trang bị nhiều phương tiện đắt tiền Hệ thống thu mua đòi hỏi phải gắn với các phương án vận chuyển hàng hoá, với điều kiện giao thông của các địa phương

Ngoài ra, đầu tư cho người sản xuất cũng là việc làm chắc chắn lâu dài để đảm bảo có nguồn hàng ổn định trước sự tranh mua trên thị trường nội địa Tuy vậy, do yêu cầu của đầu tư nên các doanh nghiệp phải có vốn lớn và cũng chứa đựng nhiều rủi ro do sự biến động của thị trường, nhất là khi giá cả trên thị trường hạ xuống dưới mức kinh doanh có lãi Trong việc này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có đội ngũ cán bộ có trình độ kỹ thuật

Trang 13

cao, có hiểu biết về sản phẩm, am hiểu tình hình thị trường, có khả năng dự đoán xu hướng biến động của thị trường Điều này không phải bao giờ doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cũng làm được, bởi vì ngày nay nhiều sản phẩm thuộc loại kỹ thuật cao, phức tạp và hết sức đa dạng.

2.3 Ký kết hợp đồng thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu:

Phần lớn khối lượng hàng hoá được mua bán giữa các doanh nghiệp ngoại thương với các nhà sản xuất hoặc các chân hàng đều thông qua hợp đồng thu mua, đổi hàng, gia công, Do vậy việc ký hợp đồng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu Dựa trên những thoả thuận và tự nguyện, các bên ký kết hợp đồng làm cơ sở vững chắc đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn

ra một cách bình thường Đây chính là một hợp đồng kinh tế, là cơ sở pháp lý cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người cung cấp hàng

Tuỳ theo tính chất loại hình thu mua nguồn hàng xuất khẩu mà 2 bên ký kết với nhau những loại hợp đồng khác nhau

2.4 Xúc tiến khai thác nguồn hàng xuất khẩu:

Sau khi đã ký kết hợp đồng với các chân hàng và các đơn vị sản xuất, doanh nghiệp ngoại thương phải lập được kế hoạch thu mua, tiến hành sắp xếp các phần việc phải làm

và chỉ đạo các bộ phận làm việc theo kế hoạch Cụ thể gồm những phần việc sau: đựa hệ thống kênh thu mua đã được thiết lập vào hoạt động, chuẩn bị đầy đủ các thủ tục giấy tờ giao nhận hàng theo hợp đồng đã ký, tổ chức hệ thống kho hàng tại điểm nút của các kênh, tổ chức vận chuyển hàng theo các địa điểm đã quy định, đưa các cơ sở sản xuất gia công chế biến đi vào hoạt động, chuẩn bị đầy đủ tiền thanh toán cho nhà sản xuất Trong quá trình hoạt động thu mua, doanh nghiệp ngoại thương phải ghi bảng biểu để theo dõi tiến độ thực hiện kế hoạch thu mua nhằm kịp thời phát hiện những ách tắc trì trệ để có những biện pháp xử lý kịp thời

2.5 Tiếp nhận, bảo quản và xuất kho hàng xuất khẩu:

Phần lớn hàng hoá trước khi xuất khẩu đều phải qua một hoặc một số kho để bảo quản, phân loại, đóng gói, nhờ làm thủ tục xuất khẩu Doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần chuẩn

bị tốt cho công tác tiếp nhận hàng xuất khẩu Công tác bảo quản hàng hoá trong kho là một trong những nhiệm vụ quan trọng của chủ kho hàng Chủ kho hàng phải có trách nhiệm không để hàng bị hư hỏng, đổ vỡ, mất mát, trừ khi hàng hoá bị hư hỏng, đổ vỡ, mất mát, là do hành động bất khả kháng gây ra

Cuối cùng là công việc xuất kho giao hàng, công đoạn này đòi hỏi phải đúng thủ tục quy định và phải có đầy đủ các giấy tờ hoá đơn hợp lệ

Trang 14

Đàm phán qua điện thoại: Đàm phán qua điện thoại nhanh chóng giúp cho nhà kinh doanh tiến hành đàm phán một cách khẩn trương, đúng thời cơ Tuy nhiên, phí tổn điện thoại quốc tế tương đối cao, các cuộc điện thoại trao đổi thường phải hạn chế về thời gian, cho nên các bên không thể trình bày chi tiết Trao đổi qua điện thoại là trao đổi miệng không có gì làm bằng chứng cho những thoả thuận, những quyết định trong trao đổi Vì thế điện thoại chỉ được dùng trong trường hợp thật cần thiết, khẩn trương hoặc những trường hợp chỉ còn chờ xác nhận một vài chi tiết Khi phải sử dụng điện thoại cần phải chuẩn bị thật chu đáo để có thể trả lời ngay mọi vấn đề được nêu lên Sau khi trao đổi bằng điện thoại cần có thư xác nhận nội dung đã đàm phán.

Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp: gặp gỡ trực tiếp giữa 2 bên để trao đổi về mọi điều kiện buôn bán, là một hình thức đặc biệt quan trọng Hình thức đàm phán này đẩy nhanh tốc độ giải quyết mọi vấn đề giữa 2 bên và nhiều khi là lối thoát cho những đàm phán bằng thư tín hoặc điện thoại đã kéo dài quá lâu mà không có kết quả Đàm phán bằng thư tín hoặc điện thoại không thể hiệu quả bằng đàm phán trực tiếp song đây cũng là hình thức đàm phán khó khăn nhất, đòi hỏi người tiến hành đàm phán phải giỏi nghiệp vụ, tự tin, phản ứng nhạy bén để có thể tỉnh táo, bình tĩnh dò xét ý đồ của đối phương

Với những hình thức đàm phán khác nhau như trên song nhìn chung các cuộc đàm phán đều phải thoả mãn các bước sau:

Chào giá (phát giá): là việc nhà kinh doanh thể hiện rõ ý định bán hàng của mình, là thời

cơ đề nghị ký kết hợp đồng Trong chào hàng, người xuất khẩu phải nêu rõ tên hàng, quy

Trang 15

cách, phẩm chất, số lượng, điều kiện cơ sở giao hàng giá cả, thời hạn giao hàng, điều kiện thanh toán, bao bì hàng hoá,

Hoàn giá (mặc cả): trong trường hợp người nhận được chào hàng không chấp nhận hoàn toàn chào hàng đó mà đưa ra đề nghị mới thì đề nghị mới gọi là hoàn giá Mỗi lần giao dịch thường phải trải qua nhiều lần hoàn giá mới đi đến kết thúc

Chấp nhận: là sự đồng ý tất cả các điều kiện của chào hàng hoặc sau khi đã hoàn giá, do

2 phía cùng chấp nhận Khi đó hợp đồng được thành lập

Xác nhận: sau khi hai bên mua bán đã thống nhất thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch, có khi cẩn thận ghi lại mọi điều khoản đã thoả thuận rồi gửi cho bên kia Đó là văn bản xác nhận Xác nhận thường được lập thành 2 bản, bên xác nhận ký trước rồi gửi cho bên kia Bên kia ký xong, giữ lại một bản và gửi trả lại 1 bản

Sau khi các bên mua và bán tiến hành giao dịch đàm phán có kết quả thì phải tiến hành

ký kết hợp đồng kinh tế Nội dung hợp đồng phải thể hiện đầy dủ quyền hạn và nghĩa vụ

cụ thể của các bên tham gia ký kết Hợp đồng thể hiện dưới hình thức văn bản là hình thức bắt buộc đối với các đơn vị xuất nhập khẩu ở nước ta, đây là hình thức tốt nhất được pháp lý công nhận trong việc bảo vệ quyền lợi của 2 bên Nó xác định rõ ràng trách nhiệm của bên mua, bên bán tránh được những biểu hiện không đồng nhất trong ngôn từ, quan niệm Ngoài ra, hợp đồng còn tạo điều kiện thuận lợi cho thống kê theo dõi, kiểm tra việc thực hiện hợp đồng theo quy định chung của quản lý Nhà nước Hợp đồng kinh

tế ngoại thương được coi là sự thoả thuận bằng văn bản của những đương sự có quốc tịch khác nhau, trong đó một bên gọi là bên bán (bên xuất khẩu) có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu của bên mua (bên nhập khẩu) một tài sản gọi là hàng hoá và bên mua có trách nhiệm trả tiền, nhận hàng

Một hợp đồng ngoại thương thông thường bao gồm những nội dung chính sau:

+/ Số hợp đồng

+/ Ngày, tháng, năm và nơi ký hợp đồng

+/ Các điều khoản bắt buộc phải có của hợp đồng:

- Điều khoản 1: Tên hàng, quy cách phẩm chất, số lượng, bao bì, ký mã hiệu

- Điều khoản 2: Giá cả (đơn giá), tổng giá trị

- Điều khoản 3: Thời gian, địa điểm và phương tiện giao hàng

- Điều khoản 4: Giám định hàng hoá

- Điều khoản 5: Điều kiện xếp hàng và thưởng phạt

- Điều khoản 6: Những chứng từ cần thiết cho lô hàng xuất khẩu

- Điều khoản 7: Thanh toán

- Điều khoản 8: Trách nhiệm của các bên khi vi phạm hợp đồng

- Điều khoản 9: Thủ tục giải quyết các tranh chấp hợp đồng

- Điều khoản 10: Hiệu lực hợp đồng

Trang 16

Những lưu ý khi ký kết hợp đồng xuất khẩu:

- Văn bản của hợp đồng thường do một bên soạn thảo, bên kia cần nghiên cứu kỹ lưỡng

và cho ý kiến Ngôn ngữ dùng trong hợp đồng phải là ngôn ngữ thông dụng

- Người ký hợp đồng phải có đủ thẩm quyền chịu trách nhiệm về nội dung ký kết

- Hợp đồng cần phải được trình bày rõ ràng, phải phản ánh đúng nội dung thoả thuận, không để tình trạng mập mờ, có thể suy luận được nhiều cách khác nhau

- Các điều khoản trong hợp đồng phải tuân thủ đúng luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của các bên tham gia ký kết

4-/ Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu:

Sau khi hợp đồng được ký kết cần phải xác định rõ trách nhiệm nội dung, trình tự công việc phải làm, cố gắng không để xảy ra sai sót sẽ gây thiệt hại

Trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu bao gồm các bước sau:

Trang 17

Sơ đồ Trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu

* Kiểm tra L/C:

Sau khi hợp đồng xuất khẩu đã được ký bởi 2 bên mua và bán (bên nhập khẩu và bên xuất khẩu), người xuất khẩu cần phải kiểm tra xem L/C do người nhập khẩu mở tại ngân hàng có đúng nội dung hợp đồng đã ký không Nếu có yêu cầu sửa đổi thì phải thông báo cho người mua sửa lại L/C tại ngân hàng mở L/C Mọi nội dung sửa đổi phải có sự xác nhận của ngân hàng mở L/C mới có hiệu lực, văn bản sửa đổi trở thành một bộ phận cấu thành không thể tách rời L/C cũ và nội dung cũ bị huỷ bỏ

* Xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá:

Đây là vấn đề đầu tiên về mặt pháp lý để tiến hành các khâu tiếp theo của quá trình xuất khẩu:

Đơn xin giấy phép xuất khẩu bao gồm:

Phiếu hạn ngạch (nếu là hàng có hạn ngạch), bản sao hợp đồng xuất khẩu, L/C và 1 số giấy tờ có liên quan khác Sau đó khi đã được chấp nhận thì nhận được 1 số giấy phép có nội dung về tên, địa chỉ của người bán, người mua, các chỉ tiêu về vận tải, chủng loại hàng hoá, giao nhận hàng hoá, thời hạn hiệu lực của giấy phép

Việc xin giấy phép xuất khẩu trước đây là 1 công việc bắt buộc đối với tất cả các doanh nghiệp Việt Nam khi muốn xuất khẩu hàng ra nước ngoài nhưng theo quy định số 55/1998/QĐ/TTg ban hành ngày 03/03/1998 của Thủ tướng Chính phủ, kể từ ngày 18/3/1998 (ngày quyết định có hiệu lực), tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều được quyền xuất khẩu hàng hoá phù hợp với nội dung đăng ký kinh doanh trong nước của doanh nghiệp, không cần phải xin giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu tại Bộ Thương mại nữa Quy định này không áp dụng với một số mặt hàng đang được quản lý theo cơ chế riêng, cụ thể là những mặt hàng gạo, chất nổ, sách báo, ngọc trai, đá quý, kim loại quý, tác phẩm nghệ thuật, đồ sưu tầm và đồ cổ

* Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu:

Người xuất khẩu phải tiến hành chuẩn bị hàng hoá để xuất khẩu Công việc chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu gồm 3 công đoạn sau:

- Thu gom tập trung thành lô hàng xuất khẩu: ở đây, doanh nghiệp xuất khẩu tổ chức thu

Xin gi y ấphép XK Chu n bẩ ị

h ng hoáà

U thác ỷthuê t uà

Ki m ểnghi m h ng ệ àhoá

L m th t c à ủ ụ

h i quanả

Giao h ngàlên t uà

Trang 18

gom hàng bằng nhiều biện pháp khác nhau như mua nguyên liệu về gia công, sản xuất thành hàng xuất khẩu, mua đứt bán đoạn với đơn vị sản xuất hàng hoá, tổ chức đại lý thu mua hoặc nhận xuất khẩu uỷ thác.

- Đóng gói bao bì hàng xuất khẩu: việc đóng gói bao bì là căn cứ theo yêu cầu trong hợp đồng đã ký kết, bên cạnh đó công việc này có ý nghĩa nhất định với quá trình kinh doanh bởi vì bao bì vừa phải đảm bảo được phẩm chất của hàng hoá vừa thuận tiện cho quá trình vận chuyển bốc xếp hàng hoá, tạo điều kiện cho việc nhận biết loại hàng hoá, gây

ấn tượng và làm cho người mua có cảm tình với hàng hoá, với doanh nghiệp Có nhiều loại bao bì khác nhau về chất liệu, hình dáng, kích cỡ, do vậy cần phải lựa chọn loại bao

bì phù hợp với mặt hàng và yêu cầu của hàng hoá xuất khẩu, đáp ứng đúng cam kết đã nêu ra trong hợp đồng, đồng thời cũng có hiệu quả kinh tế

- Kẻ ký mã hiệu hàng xuất khẩu: ký hiệu bằng số hay chữ, hình vẽ được ghi ở mặt ngoài bao bì để thông báo những thông tin cần thiết cho việc nhận biết, giao nhận, bốc dỡ và bảo quản hàng hoá Khi kẻ ký mã hiệu hàng hoá, phải đảm bảo nội dung cần thông báo cho người nhận hàng, cho việc tổ chức vận chuyển hàng hoá và bảo quản hàng hoá, đồng thời phải thoả mãn yêu cầu sáng sủa, rõ ràng, dễ hiểu không gây khó khăn cho việc nhận biết hàng hoá

* Thuê tàu:

Trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá, việc thuê tàu chở hàng dựa vào các căn cứ sau đây:

- Những điều khoản của hợp đồng xuất khẩu hàng hoá

- Đặc điểm của hàng hoá xuất khẩu

- Điều kiện vận tải

Chẳng hạn nếu điều kiện cơ sở giao hàng của hợp đồng xuất khẩu là CIF hoặc CFR thì đơn vị kinh doanh xuất khẩu phải thuê tàu biển để giao hàng Nếu điều kiện cơ sở giao hàng là FOB thì đơn vị nhập khẩu phải có trách nhiệm giao hàng lên tàu tại cảng bốc hàng quy định

Nếu hàng hoá xuất khẩu cần phải bảo quản tươi sống thì phải thuê tàu có thiết bị đông lạnh

Trên thực tế việc thuê tàu là dựa vào các điều khoản cụ thể được quy định trong hợp đồng Đơn vị xuất khẩu có phải đứng ra thuê tàu hay không còn tuỳ thuộc vào các điều khoản ghi trong hợp đồng

* Kiểm nghiệm hàng hoá:

Kiểm tra chất lượng hàng hoá xuất khẩu là công việc cần thiết và quan trọng vì nhờ công tác này mà quyền lợi của khách hàng được đảm bảo, ngăn chặn kịp thời những hậu quả

Trang 19

xấu, phân định trách nhiệm của các khâu trong sản xuất cũng như tạo nguồn hàng, bảo đảm uy tín nhà xuất khẩu cũng như nhà sản xuất trong quan hệ buôn bán.

Công tác kiểm tra hàng xuất khẩu được tiến hành ngay sau khi hàng chuẩn bị đóng gói xuất khẩu tại cơ sở sản xuất, còn hàng kiểm tra ở cửa khẩu là do khách hàng trực tiếp kiểm tra hoặc cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, phụ thuộc vào sự thoả thuận của 2 bên

- Xuất trình hàng hoá và nộp thuế: hàng hoá xuất khẩu phải được sắp xếp một cách trật

tự, thuận tiện cho việc kiểm soát

- Thực hiện các quyết định của hải quan: đây là công việc cuối cùng trong quá trình hoàn thành thủ tục hải quan Đơn vị xuất khẩu có nghĩa vụ thực hiện một cách nghiêm túc nhất các quyết định của Hải quan đối với lô hàng như cho phép xuất hoặc không cho phép xuất khẩu hàng hoá

* Giao hàng lên tàu:

Trong trường hợp nhà xuất khẩu chịu trách nhiệm chuyên chở thì công việc giao hàng lên tàu tiến hành theo trình tự sau:

- Căn cứ vào chi tiết hàng xuất khẩu lập bảng đăng ký hàng chuyên chở

- Xuất trình bảng đăng ký hàng hoá chuyển chở cho người chuyên chở để lấy hồ sơ xếp hàng

- Bố trí chuyên chở hàng vào cảng và bốc xếp hàng lên tàu

- Lấy biên lai thuyền phó sau khi xếp hàng lên tàu, đây là xác nhận của tàu vận chuyển

về số hàng đã bốc xếp lên tàu, sau đó lấy biên lai thuyền phó đổi lấy vận đơn đường biển Vận đơn này mang ý nghĩa có giá trị về mặt pháp lý vì đó là cơ sở để giải quyết các tranh chấp có thể xảy ra về hàng hoá được bảo hiểm

Còn nếu là hàng hoá vận chuyển bằng đường sắt hay bằng container thì phải làm đơn vận chuyển bằng đường sắt hay thuê container để chuyên chở hàng hoá

* Mua bảo hiểm:

Việc chuyên chở hàng hoá xuất khẩu bằng đường biển thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất Bởi vậy, trong kinh doanh thương mại quốc tế hàng hoá xuất khẩu thường được mua bảo hiểm để tránh những rủi ro quá lớn

Trang 20

Có 2 loại hợp đồng bảo hiểm đó là hợp đồng bảo hiểm bao (Open policy) và hợp đồng bảo hiểm chuyến (Voyage Policy) Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, cần nắm vững các điều kiện bảo hiểm:

- Điều kiện bảo hiểm A: Bảo hiểm mọi rủi ro

- Điều kiện bảo hiểm B: Bảo hiểm có bồi thường tổn thất riêng

- Điều kiện C: Bảo hiểm không bồi thường tổn thất riêng

Ngoài ra còn 1 số điều kiện bảo hiểm đặc biệt như: Bảo hiểm chiến tranh, đình công, bạo động

* Thanh toán hợp đồng:

Đây là khâu quan trọng và là khâu cuối cùng phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động xuất khẩu Hiệu quả kinh tế trong khu vực kinh doanh xuất khẩu một phần nhờ vào chất lượng của việc thanh toán Thanh toán là bước đảm bảo cho người xuất khẩu thu được tiền về và người nhập khẩu nhận được hàng hoá

Trong xuất khẩu phải chú ý đến các vấn đề sau:

- Tỷ giá hối đoái

- Tiền tệ trong thanh toán

- Thời hạn thanh toán

- Phương thức và hình thức thanh toán

- Điều kiện đảm bảo hối đoái

Có nhiều loại phương thức thanh toán được sử dụng trong thanh toán, doanh nghiệp cần phải biết cách lựa chọn các phương tiện thanh toán cũng như thời hạn, hình thức và điều kiện thanh toán một cách có lợi nhất

* Giải quyết tranh chấp:

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, khi hàng hoá có tổn thất hoặc mất mát, dẫn đến tranh chấp về kinh tế, 2 bên căn cứ vào điều khoản thứ 9 trong hợp đồng xuất nhập khẩu

để chọn trọng tài hay toà án kinh tế xét xử vụ tranh chấp Các bên nên tôn trọng sự phán quyết của cơ quan thụ lý vụ án, tránh khiếu nại nhiều lần gây tổn thất về kinh tế, thời gian và suy giảm mối quan hệ truyền thống

5-/ Đánh giá hiệu quả kết thúc một hợp đồng xuất khẩu:

Sau khi đã kết thúc một hợp đồng xuất khẩu, để đánh giá kết quả cụ thể của một hợp đồng, các nhà quản lý xuất khẩu phải trải qua khâu đánh giá, nghiệm thu kết quả của hợp đồng Qua bước này người ta sẽ xác định được chính xác kết quả thu được: lợi ích kinh

tế, lợi ích xã hội, từ việc tổng hợp chi phí và doanh thu xuất khẩu, người ta tính lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hợp đồng đó Ngoài việc hạch toán lỗ lãi của quá trình kinh doanh xuất khẩu, các nhà quản lý còn phải đánh giá về bạn hàng, về thị trường hàng hoá trên thế giới và đặc biệt là mối quan hệ tiếp theo giữa doanh nghiệp với người mua hàng Nhiệm vụ của người quản lý xuất khẩu là phải củng cố niềm tin với khách, biến họ

Trang 21

từ khách hàng mới trở thành khách hàng truyền thống Kết thúc một hợp đồng xuất khẩu cũng là dấu hiệu để các nhà kinh doanh xuất khẩu bước vào một hợp đồng mới Qua đánh giá lại hợp đồng vừa thực hiện, họ sẽ rút ra được nhiều kinh nghiệm bổ ích hơn nhằm đem lại hiệu quả cao hơn cho hợp đồng sắp tới.

Sau đây là một số chỉ tiêu thường được dùng trong đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp

5.1 Chỉ tiêu lợi nhuận:

Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế có tính tổng hợp, phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh Nó là tiền đề để duy trì và tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp để cải thiện và nâng cao mức sống của người lao động

Lợi nhuận là số dôi ra của doanh thu so với chi phí:

5.2 Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của xuất khẩu:

Hiệu quả của việc xuất khẩu được xác định bằng so sánh số ngoại tệ thu được do xuất khẩu (giá trị quốc tế của hàng hoá) với những chi phí bỏ ra cho việc sản xuất hàng hoá xuất khẩu đó (giá trị dân tộc của hàng hoá) Chỉ tiêu này cho ta biết số thu ngoại tệ đối với đơn vị chi phí trong nước Công thức này được vận dụng để tính hiệu quả xuất khẩu kinh doanh của từng mặt hàng hoặc hiệu quả xuất khẩu sang từng nước, từng khu vực thị trường

C

T H

x

x

Trong đó:

Hx: Hiệu quả tương đối của việc xuất khẩu

Tx: Doanh thu (bằng ngoại tệ) từ việc xuất khẩu đơn vị hàng hoá, dịch vụ (giá quốc tế).Cx: Tổng chi phí của việc sản xuất sản phẩm xuất khẩu, bao gồm cả vận tải đến cảng xuất hàng (giá trong nước)

5.3 Chỉ tiêu doanh lợi xuất khẩu:

Doanh lợi xuất khẩu phản ánh kết quả tài chính của hoạt động xuất khẩu, nghĩa là nó phản ánh những kết quả bằng tiền thực tế thu được và những chi phí thực tế bỏ ra cho những kết quả đó, giá tính doanh lợi được tính toán trên cơ sở giá hiện hành (giá tính toán của kế toán doanh nghiệp) Vì vậy, về mặt lượng nó không trùng hợp với các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế xuất khẩu đã xem xét:

Trang 22

Dx : là doanh lợi xuất khẩu.

Tx : là thu nhập về bán hàng xuất khẩu tính bằng ngoại tệ được chuyển đổi ra tiền Việt Nam theo tỷ giá công bố mua của Ngân hàng Ngoại thương (Sau khi trừ mọi chi phí bằng ngoại tệ)

Cx : tổng chi phí cho việc xuất khẩu

5.4 Chỉ tiêu doanh lợi xuất khẩu trong điều kiện tín dụng:

Để đẩy mạnh xuất khẩu, người xuất khẩu thường bán chịu hàng của mình cho người mua Và như vậy người bán sẽ nhận thêm được một khoản lợi do việc bán chịu đó Lãi suất để tính sẽ là mức lãi do 2 bên thoả thuận với nhau Tiền bán hàng thu được sẽ thay đổi do có lãi suất tín dụng, được tính theo công thức sau:

Dx = = Trong đó:

Dx : là doanh lợi xuất khẩu trong điều kiện tín dụng

Tx : là thu nhập ròng về xuất khẩu (sau khi đã trừ đi chi phí bằng ngoại tệ)

Cx : là tổng chi phí về xuất khẩu

R : là lãi suất tín dụng

Kv : là hệ số hiệu quả vốn kinh tế quốc dân

t : là thời gian bán chịu

III-/ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA MỘT DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU:

Trong quá trình hoạt động thương mại, bất kỳ một hình thức kinh doanh nào cũng đều chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của môi trường kinh doanh theo hai chiều tích cực và tiêu cực Đối với xuất khẩu, nội dung quan trọng của thương mại quốc tế thì ảnh hưởng của môi trường kinh doanh là mạnh mẽ hơn, bởi vì trong thương mại quốc tế, các yếu tố về môi tưrờng kinh doanh phong phú và phức tạp hơn hẳn so với thương mại trong nước Ở đây phải kể tới các nhân tố:

1-/ Các công cụ và chính sách kinh tế vĩ mô:

Các nước khác nhau có chính sách thương mại khác nhau, thể hiện ý chí và mục tiêu của Nhà nước trong việc can thiệp và điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế có liên quan tới nền kinh tế của đất nước mình Để nền kinh tế trong nước vận hành có hiệu quả thì những chính sách thương mại thích hợp là thực sự cần thiết Trong lĩnh vực xuất khẩu những công cụ chính sách chủ yếu thường được sử dụng để điều tiết quản lý hoạt động này

a-/ Thuế quan:

Trang 23

Trong hoạt động xuất khẩu thuế quan là loại thuế đánh vào từng đơn vị hàng xuất khẩu.Việc đánh thuế xuất khẩu được Chính phủ ban hành nhằm quản lý xuất khẩu theo chiều hướng có lợi nhất cho nền kinh tế trong nước và mở rộng các quan hệ đối ngoại Thuế quan cũng gây ra một khoản chi phí xã hội do sản xuất trong nước tăng lên không có hiệu quả và do mức tiêu dùng trong nước giảm Nhìn chung công cụ này chỉ được áp dụng đối với một số ít mặt hàng xuất khẩu bổ sung nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.

b-/ Các công cụ phi thuế quan:

- Công cụ Quota (hạn ngạch xuất khẩu) Hình thức này áp dụng như một công cụ chủ yếu trong hàng rào phi thuế quan và ngày càng có vai trò quan trọng trong xuất khẩu hàng hoá

Hạn ngạch được hiểu như quy định của Nhà nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng hay một nhóm hàng được phép xuất khẩu, nhập khẩu từ một thị trường nội địa trong một thời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép

Mục đích của Chính phủ khi sử dụng Quota xuất khẩu là nhằm quản lý kinh doanh hoạt động xuất khẩu có hiệu quả hơn và thông qua đó điều chỉnh loại hàng hoá xuất khẩu Hơn thế nữa có thể bảo vệ tài nguyên cũng như điều chỉnh cán cân thanh toán

Bên cạnh việc thi hành những biện pháp quản lý hàng xuất khẩu như kể trên, các quốc gia còn áp dụng một số biện pháp phi thuế quan khác như: Đặt ra các tiêu chuẩn về chất lượng hàng hoá, các thông số kỹ thuật quy định cho hàng xuất khẩu,

c-/ Tỷ giá và các chính sách đòn bẩy có liên quan nhằm khuyến khích xuất khẩu:

- Một chính sách tỷ giá hối đoái thuận lợi cho xuất khẩu là chính sách duy trì tỷ giá tương đối ổn định và ở mức thấp Kinh nghiệm của các nước đang thực hiện chiến lược hướng

về xuất khẩu là điều chỉnh tỷ giá hối đoái thường kỳ để đạt mức tỷ giá cân bằng trên thị trường và duy trì mức tỷ giá tương quan với chi phí và giá cả trong nước

- Trợ cấp xuất cũng là một trong những biện pháp có tác dụng thúc đẩy mở rộng xuất khẩu đối với mặt hàng được khuyến khích xuất khẩu Biện pháp này được áp dụng vì khi thâm nhập vào thị trường nước ngoài thì sự rủi ro cao hơn so với tiêu thụ trong nước Việc trợ cấp xuất khẩu cho các mặt hàng được khuyến khích xuất khẩu có thể dưới các hình thức, trợ giá, miễn, giảm thuế xuất khẩu, hạ lãi cho vay vốn sản xuất hàng xuất khẩu hoặc cho bạn hàng nước ngoài vay ưu đãi để có điều kiện sảnphẩm của nước mình d-/ Các chính sách đối với cán cân thanh toán thương mại:

Trong hoạt động thương mại nói chung bảo đảm cân bằng cán cân thanh toán và cán cân thương mại có ý nghĩa quan trọng góp phần vào việc củng cố lòng tin đối với các đối tác nước ngoài, nâng uy tín của mình trên thị trường quốc tế và tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế nhanh Đương nhiên biện pháp để giữ cân bằng không phải là hạn chế nhập khẩu,

Trang 24

cấm nhập khẩu hoặc vay vốn Sự cân bằng theo kiểu đó là cân bằng tiêu cực Vấn đề đặt

ra là cần khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu, trong đó chú trọng tới mặt hàng chủ lực, giảm bớt nhập siêu tiến tới cân bằng xuất nhập Như vậy, nhìn chung việc giữ cán cân thanh toán, cán cân thương mại đã chứa đựng trong đó những yếu tố thúc đẩy hoạt động xuất khẩu

2-/ Các quan hệ kinh tế quốc tế:

Trong hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế, các mối quan hệ quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp mạnh mẽ đối với hoạt động xuất khẩu cũng vậy, khi xuất khẩu hàng hoá từ quốc gia này sang quốc gia khác người xuất khẩu phải đối mặt với hàng rào thuế quan, hàng rào phi thuế quan, các hàng rào này chặt chẽ hay nới lỏng phụ thuộc chủ yếu vào quan hệ kinh tế song phương giữa nước nhập khẩu và nước xuất khẩu

Khi đó với xu hướng toàn cầu nền kinh tế hiện nay nhiều liên minh kinh tế ở mức độ khác nhau được hình thành, nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương giữa các quốc gia, các

tổ chức kinh tế cũng được ký kết với mục tiêu thúc đẩy hoạt động thương mại trong khu vực và toàn thế giới Nếu một quốc gia tham gia vào các liên minh kinh tế và các hiệp định thương mại

ấy sẽ là một tác nhân tích cực đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của một quốc gia Nếu không chính nó lại trở thành vật cản đối với việc thâm nhập vào thị trường trong khu vực đó

Tóm lại có được các mối quan hệ quốc tế mở rộng, bền vững và tốt đẹp sẽ tạo những tiền

đề thuận lợi cho việc đẩy mạnh xuất khẩu của một quốc gia

3-/ Các yếu tố chính trị, Chính phủ và pháp luật:

Các yếu tố chính trị, Chính phủ và pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động mua bán quốc tế Các Công ty kinh doanh xuất khẩu đều phải tuân thủ các quy định của Chính phủ liên quan, tập quán và luật pháp quốc gia, quốc tế hiện hành Khi hoạt động kinh tế quốc tế nói chung, kinh doanh xuất khẩu nói riêng các nhà kinh doanh luôn phải lưu ý:

- Các quy định của luật pháp Việt Nam đối với hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế (thủ tục và quy định về mặt hàng xuất nhập khẩu, quy định về quản lý ngoại tệ, )

- Các hiệp ước, hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia

- Các quy định nhập khẩu của các quốc gia mà doanh nghiệp có quan hệ làm ăn

- Các vấn đề pháp lý và tập quán quốc tế có liên quan tới việc xuất khẩu như: Công ước viên về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế năm 1590 hay luật bảo hiểm quốc tế, luật vận tải quốc tế, các quy định về giao nhận ngoại thương, INCOTERM

4-/ Các yếu tố khoa học công nghệ:

Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, nhiều công nghệ tiên tiến đã được ra đời tạo ra những cơ hội, nhưng cũng gây nên nguy cơ đối với các nghề nói chung và các đơn vị sản xuất, kinh doanh mặt hàng xuất khẩu nói riêng

Trang 25

Đối với lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu, việc nghiên cứu và đưa vào ứng dụng các công nghệ mới, các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật sẽ giúp cho các đơn vị sản xuất tạo ra những sản phẩm mới với chất lượng cao và mẫu mã đa dạng hơn Nhờ đó chu kỳ sống của sản phẩm được kéo dài và có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn.

Trong hoạt động xuất khẩu cũng vậy, việc áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ có tác động làm tăng hệ quả của công tác này Điều thấy rõ nhất, là nhờ sự phát triển của bưu chính viễn thông, tin học mà các đơn vị ngoại thương có thể đàm phán ký kết hợp đồng với đối tác qua điện thoại, điện tín, giảm được chi phí đi lại

Bên cạnh đó khoa học công nghệ còn có tác động vào các lĩnh vực như vận tải hàng hoá, bảo quản hàng hoá, kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng, Đó cũng là những nhân tố ảnh hưởng tích cực đến hoạt động xuất khẩu

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN

Ở CÔNG TY XUẤT NHẬP TỔNG HỢP I

I-/ KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU TỔNG HỢP I

1-/ Quá trình hình thành - phát triển Công ty:

Đầu những năm 1980, khi Nhà nước ban hành nhiều chủ trương chính sách nhằm đẩy mạnh công tác xuất nhập khẩu, trong đó có việc mở rộng quyền xuất nhập khẩu cho các ngành, các địa phương, quyền sử dụng ngoại tệ thu được do xuất khẩu các mặt hàng vượt chỉ tiêu hoặc ngoài chỉ tiêu phải giao nộp, thì công tác xuất nhập khẩu trở nên sôi động ở tất cả các ngành, các địa phương trong cả nước

Bên cạnh những kết quả thu được (thể hiện ở nhịp độ tăng kim ngạch) lại phát sinh nhiều hiện tượng tranh mua, tranh bán ở cả thị trường trong nước và nước ngoài gây ra các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, làm phá giá thị trường dẫn đến nguy cơ lạm phát bùng nổ

Vấn đề đặt ra là vừa khuyến khích phát triển công tác xuất nhập khẩu địa phương, vừa chấn chỉnh và từng bước lập lại trật tự, kỷ cương trong khu vực này, hạn chế tới mức thấp nhất hiện tượng tranh mua, tranh bán

Công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp I ra đời trong hoàn cảnh đó, nhận nhiệm vụ trước Bộ Ngoại thương góp phần giải quyết vấn đề trên bằng các biện pháp kinh tế để thu hút được các đầu mối đã bung ra nhằm tập trung về một mối

Công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp I được chính thức thành lập ngày 15/12/1981 theo Quyết định số 1356/TCCB của Bộ ngoại thương (nay là Bộ Thương mại) nhưng đến tháng 3/1982 mới thực tế đi vào hoạt động

Trang 26

Đặt trụ sở tại 46 Ngô Quyền - Hà Nội, lấy tên giao dịch là: Generalexim - Hà Nội.

Công ty trực thuộc Bộ Thương mại, hoạt động theo chế độ hạch toán kinh doanh, có tư cách pháp nhân, vốn và tài khoản riêng tại Ngân hàng Một đặc điểm cũng cần nói tới là ngày 01/08/1993 theo Quyết định số 858/TCCB của Bộ Thương mại đã quyết định hợp nhất Công ty Phát triển sản xuất và Xuất nhập khẩu vào Công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp I, giúp tạo thêm cho Công ty những thế và lực mới hết sức to lớn

Quá trình phát triển của Công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp I kể từ ngày thành lập tới nay

có thể chia làm 3 giai đoạn:

Giai đoạn I: Từ 15/12/1981 đến cuối 1983

Đây là giai đoạn đầu của Công ty với một biên chế gồm 50 cán bộ công nhân viên có trình độ nghiệp vụ còn thấp, tư tưởng nhận thức chưa được đổi mới, thiếu năng động, chờ văn bản, chờ cơ sở tự đến với mình Cơ sở vật chất nghèo nàn, vốn liếng ban đầu chỉ có 139.000 đồng, Nhà nước lại không cấp vốn

Lúc này mối quan hệ của Công ty với các đơn vị cơ sở chưa được xác lập, đối với nước ngoài tên tuổi Công ty còn quá mới mẻ

Thời kỳ này Công ty đang chập chững, dò bước đi sao cho đúng hướng Công ty nhận thức vấn đề cốt lõi là phải ổn định tổ chức, tự bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, bên cạnh đó gửi cán bộ đi đào tạo trong và ngoài nước Công ty đặt nhiệm vụ phải xây dựng một quỹ hàng hoá phong phú, đa dạng vì đó cũng là tiền, là vốn, có như vậy mới đủ sức lực cho Công ty phát triển

Giai đoạn II: Từ năm 1984 đến cuối 1989

Giai đoạn này Công ty đã đào tạo, bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ kinh doanh vững mạnh và một tổ chức tương đối hợp lý Năm 1989, số cán bộ công nhân viên của Công ty

là 200 người, trong đó có trên 60% đã qua đại học, cao đẳng Công ty tập trung xây dựng một số vấn đề được xem là trọng điểm, đó là vấn đề phương thức kinh doanh và xây dựng quỹ hàng hoá Công ty đã có quan hệ với 17 tỉnh và thành phố và hơn 40 đơn vị quận huyện Công ty cũng đã gây dựng được một mạng lưới thương nhân nước ngoài có

độ tin cậy cao, vấn đề đầu tư phát triển lâu dài được Công ty quan tâm

Giai đoạn này Công ty còn đẩy lên được về kim ngạch xuất nhập khẩu

Trang 27

BIỂU SỐ 1: TỔNG KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨUCỦA CÔNG TY GIAI ĐOẠN 1982 - 1989

Đơn vị tính: USD

Năm Kim ngạch xuất nhập khẩu thực hiện

(USD)

Mức tăng (%)

Tuy nhiên, trong thời kỳ này Công ty gặp nhiều khó khăn, Nhà nước nợ đọng vốn của Công ty từ 1986 - 1990 là tiền Công ty ứng trước để nhập nguyên liệu cho sản xuất 2,5 triệu USD, tiền hàng Công ty tham gia giao lạc, cà phê cho Liên Xô cũ, Đông Âu theo Nghị định thư trị giá 4,5 triệu Rúp, chênh lệch do điều chỉnh giá gần 1 tỷ đồng không

Trang 28

được giải quyết.

Trong 5 năm ở giai đoạn này Công ty được Bộ kinh tế đối ngoại, Bộ nội vụ tặng 5 bằng khen, 2 cờ đơn vị thi đua xuất sắc

Giai đoạn III: từ 1993 đến nay

Ngày thành lập Công ty vốn lưu động chỉ có 139.000 đồng, đến nay đã có gần 40 tỷ đồng Hàng năm, Công ty nộp cho Nhà nước thuế xuất nhập khẩu lên tới hàng chục tỷ đồng Công ty luôn đảm bảo được đời sống cho cán bộ công nhân viên, tiền lương không ngừng tăng lên Trong năm 2001, Công ty đã có quan hệ giao dịch với gần 30 thị trường nước ngoài, trong đó có quan hệ mua bán thực sự là 25 thị trường Có những thị trường lớn như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật, Singapore, Indonesia, Maylaysia, Thái Lan, Anh, Pháp, Hà Lan, Italia, Hungarie

BIỂU SỐ 3: TỔNG KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY GIAI ĐOẠN 90 - 98

Năm Kim ngạch XNK thực hiện (USD) Mức tăng

2-/ Chức năng nhiệm vụ của Công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp I:

Công ty được thành lập với nhiệm vụ là trực tiếp xuất nhập khẩu hoặc xuất nhập khẩu uỷ

Trang 29

thác mọi mặt hàng ngoài chỉ tiêu giao nộp của các địa phương, các ngành, các doanh nghiệp từ Quảng Bình trở ra, Công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp I còn được giao thêm một số nhiệm vụ khác theo từng giai đoạn, cụ thể là:

+ Thực hiện xuất khẩu hoặc nhập khẩu một số mặt hàng được giao theo chỉ tiêu pháp lệnh

+ Tiếp nhận và phân phối hàng viện trợ của CHDC Đức thông qua Hiệp định Chính phủ (khi nước Đức chưa thống nhất)

+ Kinh doanh về cung ứng hàng xuất khẩu tại chỗ cho các cơ sở có chức năng bán lẻ thu ngoại tệ mạnh

+ Ngoài ra còn được trao đổi hàng hoá ngoài Nghị định thư với các nước thuộc khu vực I

- Chức năng kinh doanh của Công ty:

+ Xuất khẩu: Được kinh doanh xuất khẩu mặt hàng nông-lâm-hải sản, khoáng sản, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng tạp phẩm, hàng công nghiệp, hàng gia công chế biến, và các sản phẩm dệt may

+ Nhập khẩu: nhập khẩu vật tư, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, phụ liệu sản xuất, vật liệu xây dựng, phương tiện vận tải, hoá chất và hàng tiêu dùng

+ Được sản xuất gia công chế biến hàng hoá xuất khẩu và hàng tiêu dùng trong nước, hàng may mặc, đồ chơi điện tử, lắp ráp xe máy, điện tử, điện lạnh, hàng nông-lâm sản chế biến và dược liệu

+ Được làm dịch vụ thương mại, nhập khẩu tái xuất, chuyển khẩu, quá cảnh và môi giới thương mại

+ Đưa đón khách, vận tải hàng hoá phục vụ cho việc kinh doanh xuất nhập khẩu

+ Được đại lý và mở cửa hàng bán lẻ hàng xuất nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước theo quy định hiện hành của Nhà nước

+ Được liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước ở các lĩnh vực sản xuất kinh doanh

3-/ Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty:

Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến, thể hiện:

Trang 30

* Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty bao gồm:

1 Ban giám đốc:

Gồm 1 Giám đốc và 3 phó giám đốc Giám đốc chịu trách nhiệm quản lý điều hành toàn

bộ các hoạt động kinh doanh của toàn Công ty

2 Khối quản lý:

- Phòng tổng hợp gồm các bộ phận: kế hoạch, thống kê thị trường, giá cả, pháp chế,

- Phòng tổ chức cán bộ: tổ chức bộ máy cán bộ, lao động tiền lương, quy hoạch, đào tạo điều hành bổ sung lao động theo yêu cầu kinh doanh Công việc khác như: Bảo vệ chính trị nội

bộ, thanh tra lao động tiền lương, bảo hiểm xã hội,

- Phòng kế toán, tài vụ: hạch toán kế toán, đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động công tác trong từng kỳ kế hoạch (quí, năm) Điều tiết vốn nhằm mục tiêu kinh doanh có hiệu quả nhất, quay vòng nhanh

3 Khối phục vụ:

- Phòng hành chính: phục vụ nhu cầu văn phòng phẩm của Công ty, bảo đảm công tác lễ tân, bảo quản quản lý tài sản của Công ty và của cán bộ công nhân viên trong giờ làm việc, sửa chữa lớn, sửa chữa thường xuyên tài sản

- Phòng kho vận: quản lý kho và phương tiện cho thuê, chuyên chở, đảm bảo kho hàng

và xuất nhập chính xác

4 Khối kinh doanh gồm các phòng nghiệp vụ:

- Phòng nghiệp vụ 1, 5, 6, 7 : Kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp

- Phòng nghiệp vụ 2 : Chuyên nhập khẩu

- Phòng nghiệp vụ 3 : Chuyên gia công hàng xuất khẩu

- Phòng nghiệp vụ 4 : Chuyên lắp ráp xe máy

- Các liên doanh:

+ Công ty TNHH Phát triển Đệ Nhất tại 53 Quang Trung - Hà Nội

+ Liên doanh chế biến gỗ Đà Nẵng

+ Xí nghiệp may Hải Phòng

+ Xưởng lắp ráp xe máy ở Tương Mai - Hà Nội

+ Xưởng sản xuất và chế biến gỗ thuộc phòng nghiệp vụ 6 tại Cầu Diễn - Từ Liêm - Hà Nội

Công ty đã có một bộ máy tổ chức khá hoàn chỉnh, có tương đối đầy đủ các phòng ban Tuy nhiên, phân công chuyên môn hoá chưa được quán triệt, nhất là các phòng nghiệp vụ 1,5,6,7 đều kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp dẫn đến cùng một mặt hàng, cùng một

Trang 31

thị trường mà các phòng đều tham gia thực hiện, không có sự chỉ đạo thống nhất dẫn tới hiệu quả không cao.

Hiện nay, Công ty chưa có một bộ phận chuyên sâu nghiên cứu thị trường mà nó được nhập trong phòng tổng hợp, chưa tổ chức được đội ngũ cán bộ có trình độ cao thu thập thông tin, xử lý và đưa ra các quyết định cho từng thời kỳ, các phòng nghiệp vụ vẫn phải

tự đi tìm thị trường

4-/ Các hoạt động kinh doanh cơ bản của Công ty:

4.1 Tiềm lực kinh doanh:

a-/

Mạng lưới vật chất kỹ thuật:

Trụ sở đặt tại 46 Ngô Quyền - Hà Nội với hệ thống trang thiết bị đầy đủ và cơ sở vật chất

kỹ thuật đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty một cách thuận lợi

Công ty có một văn phòng cho thuê ở số 7 Triệu Việt Vương và toà nhà liên doanh 53 Quang Trung - Hà Nội Mạng lưới cơ sở vật chất của các chi nhánh ở nhiều thành phố lớn từ Bắc vào Nam, các cửa hàng bán lẻ Cùng với nó là hệ thống thông tin gồm các máy điện thoại, telex, fax, computer, đến tất cả các phòng ban và chi nhánh, cửa hàng có thể liên tục liên lạc được với nước ngoài đã góp phần đưa lại các thông tin kinh tế một cách kịp thời

Ngoài ra, Công ty còn có một số cơ sở sản xuất, gia công, chế biến và những kho hàng sân bãi, phương tiện vận tải, cần cẩu, xe nâng hàng đáp ứng đầy đủ cho công việc kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty

b-/

Nguồn nhân lực:

Công ty hiện nay đang dần dần kiện toàn bộ máy lao động cho phù hợp với tình hình mới, đủ điều kiện gánh vác nhiệm vụ kinh doanh cả trong và ngoài nước, đi đôi với bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ cho toàn cán bộ, công nhân viên trong Công ty.Nếu xét trên 3 nhóm tổng thể điều hành, chuyên viên quản lý, nhóm nhân viên quản trị

và nhân viên tác nghiệp thì có thể phân ra:

BIỂU SỐ 4: CƠ CẤU LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU TỔNG HỢP I NĂM 2001

Chỉ tiêu phân bổ lao động Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

2 Phân theo cơ cấu:

- Tổng điều hành

- Chuyên viên quản lý

- Nhân viên tác nghiệp

3150311

0,6532,3367,03

Trang 32

c-/

Nguồn vốn của Công ty:

Từ khi mới thành lập, năm 1981 chỉ có số vốn là 139.000 đồng, đến nay Công ty đã có một số vốn rất lớn, duy trì và phát huy tốt khả năng sản xuất kinh doanh, hoàn thành các chỉ tiêu được giao, đồng thời thực hiện tốt nghĩa vụ với Nhà nước, góp phần nâng cao đời sống công nhân viên trong toàn Công ty

Trang 33

Năm Vốn cố định Vốn lưu động Vốn đầu tư xây dựng cơ bản

Trang 34

theo từng thời kỳ Tốc độ tăng của vốn cố định ngày càng chậm so với vốn lưu động chứng tỏ Công ty đang hết sức tranh thủ đồng vốn hiện có Tuy nhiên, phương châm vẫn

là lấy ngắn nuôi dài

4.2 Phạm vi hoạt động của Công ty:

- Xuất khẩu các hàng nông - lâm - hải sản, khoáng sản, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng tạp phẩm hàng công nghiệp, hàng gia công chế biến và các sản phẩm dệt may

- Nhập khẩu vật tư, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, vật liệu xây dựng, phương tiện vận tải, hoá chất và hàng tiêu dùng

- Sản xuất và gia công chế biến hàng xuất khẩu và hàng tiêu dùng trong nước, hàng may mặc, đồ chơi điện tử, lắp ráp xe máy, điện tử, điện lạnh, hàng nông - lâm - hải sản chế biến và dược liệu

- Làm dịch vụ thương mại, tái xuất, chuyển khẩu quá cảnh và môi giới thương mại

- Đưa đón khách, vận tải hàng hoá phục vụ cho việc kinh doanh xuất nhập khẩu

- Cho thuê văn phòng, kinh doanh khách sạn, cho thuê kho hàng, nhà xưởng và phương tiện nâng xếp dỡ

- Làm đại lý, mở cửa hàng bán buôn bán lẻ hàng xuất nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước theo quy định hiện hành của Nhà nước

- Làm liên doanh, liên kết đầu tư với nước ngoài trong sản xuất kinh doanh

Hiện nay, Công ty đang tìm cho mình một hướng đi mới, tập trung nhiều đến mặt hàng chủ lực có khả năng thu hút được lợi nhuận cao Trong đó mặt hàng nông sản cũng được Công ty xem xét, nghiên cứu, đây là mặt hàng xuất khẩu đang được Nhà nước khuyến khích, lại có thị trường thế giới rộng lớn, khả năng cung ứng dồi dào, nguồn vốn đầu tư lại không nhiều Vấn đề hiện nay của Công ty là nghiên cứu đầu vào, đầu ra hợp lý, đảm bảo hàng của Công ty được thị trường chấp nhận và tiếp nhận ngày càng nhiều, có khả năng cạnh tranh với các đơn vị khác, cũng như với các nước xuất khẩu nông sản khác trên thế giới

4.3 Thị trường kinh doanh tổng hợp của Công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp I:

Công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp I kinh doanh trên phạm vi cả nước và ở nước ngoài Trong nước, bạn hàng của Công ty là các đơn vị kinh tế sản xuất kinh doanh những mặt hàng Công ty kinh doanh, chủ yếu là các đơn vị thuộc Bộ thương mại, Bộ nông nghiệp - Công nghiệp thực phẩm, Bộ giao thông vận tải và nhiều Công ty thuộc các địa phương

Ở nước ngoài, Công ty có quan hệ lâu dài với các bạn hàng Đông Âu và Liên Xô cũ Thị trường nước ngoài nhìn chung là ổn định, có khả năng cung cấp nhiều mặt hàng cho một

số thị trường lớn như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật, Singapore, Maylaysia, Thái Lan, Anh,

Trang 35

với Trung Quốc và Mỹ là 2 thị trường đầy triển vọng, chi phí vận chuyển thấp, dung lượng thị trường lớn.

5-/ Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong những năm gần đây:

Từ năm 1998 trở lại đây, hoạt động kinh doanh của Công ty diễn ra tương đối thuận lợi Nền kinh tế mở đã tạo điều kiện cho Công ty mở rộng buôn bán Tuy nhiên, tình hình cạnh tranh gay gắt giữa các Công ty xuất nhập khẩu làm công tác xuất nhập khẩu đặt ra một thử thách lớn, buộc Công ty phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh hướng vào thị trường với đầu vào và đầu ra hợp lý, lại phải phù hợp với thế và lực của Công ty

Trên cơ sở đó, ban lãnh đạo Công ty Xuất nhập khẩu Tổng hợp I nhận định chiến lược kinh doanh của Công ty là đa dạng hoá mặt hàng và phương thức kinh doanh, không ngừng tận dụng và tìm hiểu thời cơ, xây dựng củng cố địa bàn kinh doanh cũ, chủ động tìm bạn hàng mới

Từ năm 1998, Công ty đã có những bước tiến đáng khích lệ thể hiện qua biểu sau:

Trang 36

KINH DOANH CỦA CÔNG TY GIAI ĐOẠN 1998 - 2001

Năm

1999/1998

2000/1999

2001/2000

Doanh thu từ h/đ SXKD triệu đồng 273.441 317.280 330.350 357.220 116,03 104,12 108,13

Các khoản nộp NS/bq người triệu đồng 91,53 97,75 107,04 115,99 106,79 109,50 108,36

Ngày đăng: 23/05/2017, 22:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ Trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu - Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản ở công ty xuất nhập khẩu tổng hợp I
r ình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w