1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích tác phẩm Bình ngô đại cáo

18 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 350,34 KB
File đính kèm 10. BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO.pdf.zip (327 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO Nguyễn Trãi I. MỞ BÀI: Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, là người toàn tài nhưng oan khuất số một trong lịch sử Việt Nam thời Trung đại. Ông được Unessco công nhận là danh nhân văn hóa thế giới và tổ chức kỉ niệm 600 năm ngày sinh vào năm 1980. Ông không chỉ có tài trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, lịch sử, địa lí… mà còn để lại một sự nghiệp văn học kiệt xuất, được vua Lê chế tặng câu: Long hổ phong vân chi hội, do tưởng tiền duyên Văn chương sự nghiệp chi truyền, vĩnh thùy hậu thế (Gặp gỡ long hổ phong vân, còn ghi duyên cũ Truyền tụng văn chương sự nghiệp, để mãi đời sau). Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo nhưng là một Nho giáo khoáng đạt, rộng rãi, không câu nệ và vì vậy không chỉ là gần gũi mà còn là phong phú hơn, cao hơn lối sống thuộc dân tộc trước đó (Trần Đình Hượu). Tài năng và tư tưởng tiến bộ của ông thể hiện rất rõ trong tác phẩm tác phẩm Bình Ngô đại cáo. II. THÂN BÀI 1. Khái quát Hoàn cảnh ra đời: Cuối năm 1427 khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết Bình Ngô đại cáo và công bố vào đầu năm 1428 để thông báo rộng rãi cho nhân dân được biết về việc đã dẹp yên giặc Minh. Bài cáo có vai trò như một bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra triều đại nhà Hậu Lê. Thể loại: Là loại văn cổ của Trung Quốc, trình bày một chủ trương, một sự nghiệp hoặc tuyên bố một sự kiện trọng đại. Cáo có hai loại là văn cáo thường ngày nhằm công bố một vấn đề trong cuộc sống hàng ngày và đại cáo nhằm thông báo sự kiện trọng đại, có tính quốc gia, dân tộc. Cáo có thể viết bằng văn xuôi hoặc văn vần nhưng phần nhiều là văn biền ngẫu, có vần hoặc không vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp hai vế đối nhau. Đây là thể văn hùng biện nên lời lẽ đanh thép, lí luận sắc bén, kết cấu chặt chẽ, mạch lạc. Ý nghĩa nhan đề: Cha ông ta gọi giặc Minh là Ngô để chỉ bọn giặc xâm lược tàn bạo, độc ác và thể hiện thái độ khinh bỉ, căm ghét. “Bình Ngô có thể hiểu là dẹp yên giặc Ngô. Đại cáo là tên thể loại nhằm thông báo sự kiện trọng đại, có tính quốc gia, dân tộc. Như vậy, nhan đề bài cáo cho biết là đây là một văn kiện pháp luật của Đại Việt, có ý nghĩa thông báo trọng đại, rộng khắp về việc dẹp yên giặc Ngô. Bố cục: 4 đoạn + Đoạn 1: Khẳng định lí tưởng nhân nghĩa + Đoạn 2: Tố cáo tội ác của giặc Minh + Đoạn 3: Thuật lại khởi nghĩa Lam Sơn + Đoạn 4: Tuyên bố độc lập 2. Đoạn 1: Khẳng định lí tưởng nhân nghĩa Mở đầu bài cáo Nguyễn Trãi đã nêu ra luận đề chính nghĩa và lấy đó làm cơ sở, căn cứ để triển khai toàn bộ nội dung bài cáo. “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo; Trong đó, Nhân là người, tình người (theo Khổng Tử), nghĩa là việc làm chính đáng vì lẽ phải (theo Mạnh Tử), nhân nghĩa” là chỉ mối quan hệ giữa người với người trên cơ sở tình thương và đạo lý. “Yên dân” là nhân dân được sống yên lành, ấm no, hạnh phúc trong một đất nước độc lập. “Trừ bạo” là diệt trừ bọn xâm lược tàn bạo và bọn tham tàn trong nước. “Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” vốn là một điển cố trong Kinh thư, ngụ ý muốn “yên dân” thì phải tiêu trừ tham tàn bạo ngược, những thế lực đã phá vỡ sự bình yên của nhân dân. Như vậy, luận đề quan trọng xuyên suốt trong bài cáo là tư tưởng nhân nghĩa. Nhân nghĩa là yên dân trừ bạo, tiêu diệt bọn tham tàn, bạo ngược để bảo vệ cuộc sống yên bình cho nhân dân. Cốt lõi của tư tưởng nhân nghĩa là lấy dân làm gốc, vì nước, vì dân mà thực thi việc làm nhân nghĩa. Ở thời phong kiến, lòng yêu nước được gắn với tư tưởng Trung quân, ái quốc tức là yêu nước gắn liền với yêu vua, trung với vua. Nhưng Nguyễn Trãi đã sớm nhận thấy yêu nước là phải yêu dân, vì dân. Ông cũng sớm nhận ra sức mạnh của nhân dân Chở thuyền và lật thuyền cũng là dân”. Ngày nay ở thế kỉ XXI, tư tưởng nhân nghĩa lấy dân làm gốc vẫn là tư tưởng tiến bộ, không những được tiếp tục khẳng định mà cần phát triển lên một tầm cao mới. Vì thế có thể khẳng định tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi ở thế kỉ XV là rất mới mẻ, tiến bộ vượt thời đại. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi xét cho cùng chính là lòng yêu nước thương dân, là tư tưởng lớn thể hiện trong suốt sự nghiệp sáng tác của ông: Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông Hoặc: Bui một tấc long trung lẫn hiếu Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen Luận đề thứ hai mà Nguyễn Trãi đề cập đó là sự tồn tại độc lập có chủ quyền của nước Đại Việt ta từ bao đời nay: Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác; Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương; Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, Song hào kiệt thời nào cũng có Nền độc lập, chủ quyền dân tộc được tác giả khẳng định như một chân lý không thể chối cãi bởi dân tộc ta có đủ các yếu tố để tạo thành một quốc gia độc lập, thống nhất. Các yếu tố ấy bao gồm: Tên nước là Đại Việt Như nước Đại Việt ta từ

Trang 1

1

BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO -Nguyễn Trãi-

I MỞ BÀI:

Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, là người toàn tài nhưng oan khuất số một trong lịch sử Việt Nam thời Trung đại Ông được Unessco công nhận là danh nhân văn hóa thế giới và tổ chức kỉ niệm 600 năm ngày sinh vào năm 1980 Ông không chỉ

có tài trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, lịch sử, địa lí… mà còn để lại một sự nghiệp văn học kiệt xuất, được vua Lê chế tặng câu:

Long hổ phong vân chi hội, do tưởng tiền duyên

Văn chương sự nghiệp chi truyền, vĩnh thùy hậu thế (Gặp gỡ long hổ phong vân, còn ghi duyên cũ - Truyền tụng văn chương sự nghiệp, để mãi đời sau)

Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo nhưng là "một Nho giáo

khoáng đạt, rộng rãi, không câu nệ và vì vậy không chỉ là gần gũi mà còn là phong phú hơn, cao hơn lối sống thuộc dân tộc trước đó" (Trần Đình Hượu) Tài năng và tư

tưởng tiến bộ của ông thể hiện rất rõ trong tác phẩm tác phẩm "Bình Ngô đại cáo"

II THÂN BÀI

1 Khái quát

- Hoàn cảnh ra đời: Cuối năm 1427 khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, Nguyễn

Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết "Bình Ngô đại cáo" và công bố vào đầu năm 1428 để thông báo rộng rãi cho nhân dân được biết về việc đã dẹp yên giặc Minh Bài cáo có vai trò như một bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra triều đại nhà Hậu Lê

- Thể loại: Là loại văn cổ của Trung Quốc, trình bày một chủ trương, một sự nghiệp hoặc tuyên bố một sự kiện trọng đại Cáo có hai loại là văn cáo thường ngày nhằm công bố một vấn đề trong cuộc sống hàng ngày và đại cáo nhằm thông báo sự kiện trọng đại, có tính quốc gia, dân tộc Cáo có thể viết bằng văn xuôi hoặc văn vần nhưng phần nhiều là văn biền ngẫu, có vần hoặc không vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp hai vế đối nhau Đây là thể văn hùng biện nên lời lẽ đanh thép, lí luận sắc bén, kết cấu chặt chẽ, mạch lạc

- Ý nghĩa nhan đề: Cha ông ta gọi giặc Minh là Ngô để chỉ bọn giặc xâm lược

tàn bạo, độc ác và thể hiện thái độ khinh bỉ, căm ghét “Bình Ngô" có thể hiểu là dẹp yên giặc Ngô "Đại cáo" là tên thể loại nhằm thông báo sự kiện trọng đại, có tính quốc gia, dân tộc Như vậy, nhan đề bài cáo cho biết là đây là một văn kiện pháp luật của Đại Việt, có ý nghĩa thông báo trọng đại, rộng khắp về việc dẹp yên giặc Ngô

- Bố cục: 4 đoạn

+ Đoạn 1: Khẳng định lí tưởng nhân nghĩa

+ Đoạn 2: Tố cáo tội ác của giặc Minh

+ Đoạn 3: Thuật lại khởi nghĩa Lam Sơn

+ Đoạn 4: Tuyên bố độc lập

2 Đoạn 1: Khẳng định lí tưởng nhân nghĩa

Trang 2

2

- Mở đầu bài cáo Nguyễn Trãi đã nêu ra luận đề chính nghĩa và lấy đó làm cơ

sở, căn cứ để triển khai toàn bộ nội dung bài cáo

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;

Trong đó, "Nhân" là người, tình người (theo Khổng Tử), nghĩa là việc làm chính đáng vì lẽ phải (theo Mạnh Tử), "nhân nghĩa” là chỉ mối quan hệ giữa người với người trên cơ sở tình thương và đạo lý “Yên dân” là nhân dân được sống yên lành, ấm no, hạnh phúc trong một đất nước độc lập “Trừ bạo” là diệt trừ bọn xâm lược tàn bạo và bọn tham tàn trong nước “Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” vốn là một điển cố trong Kinh thư, ngụ ý muốn “yên dân” thì phải tiêu trừ tham tàn bạo ngược, những thế lực đã phá vỡ sự bình yên của nhân dân Như vậy, luận đề quan trọng xuyên suốt trong bài cáo là tư tưởng nhân nghĩa Nhân nghĩa là yên dân trừ bạo, tiêu diệt bọn tham tàn, bạo ngược để bảo vệ cuộc sống yên bình cho nhân dân Cốt lõi của tư tưởng nhân nghĩa là lấy dân làm gốc, vì nước, vì dân mà thực thi việc làm nhân nghĩa

Ở thời phong kiến, lòng yêu nước được gắn với tư tưởng "Trung quân, ái quốc" tức là yêu nước gắn liền với yêu vua, trung với vua Nhưng Nguyễn Trãi đã sớm nhận thấy yêu nước là phải yêu dân, vì dân Ông cũng sớm nhận ra sức mạnh của nhân dân

"Chở thuyền và lật thuyền cũng là dân” Ngày nay ở thế kỉ XXI, tư tưởng nhân nghĩa lấy dân làm gốc vẫn là tư tưởng tiến bộ, không những được tiếp tục khẳng định mà cần phát triển lên một tầm cao mới Vì thế có thể khẳng định tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi ở thế kỉ XV là rất mới mẻ, tiến bộ vượt thời đại Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi xét cho cùng chính là lòng yêu nước thương dân, là tư tưởng lớn thể hiện trong suốt sự nghiệp sáng tác của ông:

Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông Hoặc:

Bui một tấc long trung lẫn hiếu Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen Luận đề thứ hai mà Nguyễn Trãi đề cập đó là sự tồn tại độc lập có chủ quyền của nước Đại Việt ta từ bao đời nay:

Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Núi sông bờ cõi đã chia,

Phong tục Bắc Nam cũng khác;

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương; Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,

Song hào kiệt thời nào cũng có

Nền độc lập, chủ quyền dân tộc được tác giả khẳng định như một chân lý không thể chối cãi bởi dân tộc ta có đủ các yếu tố để tạo thành một quốc gia độc lập, thống nhất Các yếu tố ấy bao gồm: Tên nước là Đại Việt "Như nước Đại Việt ta từ

Trang 3

3

trước"; nền văn hiến đã tồn tại từ lâu đời “vốn xưng nền văn hiến đã lâu”; có lãnh thổ

đã được phân định rõ ràng với “núi sông bờ cõi đã chia”; về văn hóa ta có phong tục tập quán riêng khác hẳn với phong kiến phương Bắc “phong tục Bắc Nam cũng khác”; về khía cạnh lịch sử, nếu như phương Bắc có các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên thì nước Đại Việt ta cũng cũng có các triều đại Triệu, Đinh, Lý, Trần "bao đời gây nền độc lập"; về nòi giống và truyền thống dân tộc thì đời nào cũng có anh hùng, hào kiệt “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau/Song hào kiệt thời nào cũng có” So với bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của dân tộc là "Nam quốc sơn hà" thì khái niệm quốc gia, dân tộc của Nguyễn Trãi đã được mở rộng hơn rất nhiều Nó không chỉ bao gồm hai yếu tố lãnh thổ và chủ quyền riêng mà còn được nhìn nhận trên các phương diện quốc hiệu, lịch sử, địa lí, văn hóa, thể hiện tài năng lý luận và tầm vóc tư tưởng của một danh nhân văn hóa thế giới

Trong đoạn cáo, Nguyễn Trãi đã khẳng định mạnh mẽ nền độc lập tự chủ dân tộc khi luôn thể hiện hình ảnh nước Nam tách biệt, khác hẳn với phong kiến phương Bắc trên mọi phương diện, khẳng định nước Nam hoàn toàn không lệ thuộc, thậm chí ngang hàng với phong kiến phương Bắc Sức thuyết phục của luận đề còn nằm ở cách

sử dụng ngôn ngữ như: Vế câu “mỗi bên xưng đế một phương” đã thể hiện ý thức tự cường và niềm tự hào dân tộc sâu sắc Vua nước Nam cũng xưng “đế” và ngang hàng với vua phương Bắc, chứ không đợi phong kiến phương Bắc phong “vương” như một nước chư hầu, phụ thuộc vào thiên triều của chúng Các từ ngữ "từ trước", "đã lâu",

"đã chia", "cũng khác" là các từ cùng một trường nghĩa khẳng định sự hiển nhiên, vốn có, lâu đời của nền độc lập dân tộc

Nhìn chung, ngay từ đoạn đầu bài cáo Nguyễn Trãi đã tạo được một hệ thống

lý luận, căn cứ vững chắc và đầy nhân văn khẳng định nền độc lập tự chủ và tư tưởng nhân nghĩa của đất nước Đại Việt Không chỉ là lí luận mà thực tiễn lịch sử đã chứng minh, những cơ sở chính nghĩa ấy đã tạo nên sức mạnh và bản lĩnh của dân tộc, khiến bao lần bọn giặc có dã tâm xâm lược đều bị trừng trị đích đáng Vậy nên mới có:

Cho nên:

Lưu Cung tham công nên thất bại;

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong;

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã Việc xưa xem xét, chứng cứ còn ghi”

Bằng biện pháp liệt kê, nhắc đến các tướng giặc đã phải "thất bại", "tiêu vong",

bị "bắt sống", "giết tươi", Nguyễn Trãi đã nhấn mạnh những thất bại thảm hại của phong kiến phương Bắc khi sang xâm lược nước Nam nhỏ bé Đó chính là những bằng chứng hùng hồn, đanh thép khẳng định không có kẻ thù nào có thể xâm phạm nền độc lập tự chủ của tổ quốc Đại Việt Đó cũng là lời cảnh cáo, răn đe những kẻ bất nhân, bất nghĩa nếu chúng có dã tâm xâm phạm lãnh thổ, chủ quyền dân tộc Đại Việt, chúng đều phải trá giá đắt

Tiểu kết: Với giọng điệu đĩnh đạc, hào hùng, lí lẽ sắc bén, đanh thép và lối diễn

đạt sóng đôi, cân xứng của thể văn biền ngẫu, cùng với các biện pháp nghệ thuật như

Trang 4

4

so sánh, liệt kê… đoạn đầu của bài cáo đã nêu được hai luận đề quan trọng, quán xuyến nội dung cả tác phẩm Đoạn cáo giúp ta khẳng định sâu sắc chủ quyền lãnh thổ của đất nước, thấy được truyền thống tốt đẹp và lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc "Đại cáo bình Ngô" xứng đáng là áng văn hào hùng muôn thuở, giúp ta bồi đắp lòng yêu nước, niềm tự hào tự tôn dân tộc, từ đó quyết tâm xây dựng, bảo vệ đất nước

3 Đoạn 2: Tố cáo tội ác của giặc Minh

Với những lí luận sắc sảo, đanh thép, chứng cứ xác thực, tác giả đã vạch mặt lũ ngoại xâm với mưu mô, thủ đoạn nhơ bẩn và sự tàn bạo, độc ác của chúng Biện pháp liệt kê được sử dụng liên tiếp đã nhấn mạnh thêm tội ác của lũ giặc ngạo mạn, không bằng cầm thú Lời văn cho thấy cái sục sôi căm phẫn của tác giả khi nhân dân bị chà

đạp, bị xâu xé dưới gót giày bọn giặc xâm lược

3.1 Tố cáo âm mưu cướp nước

Nguyễn Trãi đã đứng trên hai lập trường là lập trường của dân tộc và lập trường nhân nghĩa nhân bản để tố cáo tội ác của kẻ thù Trước hết là trên lập trường dân tộc, ông đã tố cáo, nhận diện rõ ràng âm mưu cướp nước của giặc Minh thông qua mấy câu thơ sau:

“Vừa rồi:

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà

Để trong nước lòng dân oán hận Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh”

Dùng các từ ngữ “nhân”, “thừa cơ” để vạch trần luận điệu bịp bợm của nhà Minh kéo quân sang nước ta với danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ”, nhưng thực tế là thừa dịp xâm lược Đại Việt Vin vào việc Hồ Quý Ly lên ngôi không danh chính ngôn thuận, không được lòng dân để lấy được sự ủng hộ của nhân dân Đại Việt nhằm thực hiện mưu hèn kế bẩn mà chúng đã ấp ủ bấy lâu nay

3.2 Tố cáo tội ác diệt chủng

Nguyễn Trãi đã đứng trên lập trường nhân bản, nhân nghĩa, đứng về phía quyền sống của nhân dân để tố cáo chủ trương cai trị phản nhân đạo của kẻ thù Giặc Minh đã hủy hoại cuộc sống của nhân dân bằng hành động diệt chủng vô cùng tàn bạo, man rợ làm bại cả nhân nghĩa, nát cả đất trời:

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ

"Dân đen" và "con đỏ" ở đây chỉ những người yếu thế, vô tội Vậy mà bọn giặc Minh đã giết chóc tàn bạo, đã "nướng trên ngọn lửa hung tàn”, "vùi con đỏ xuống hầm tai vạ" đến cả những sinh linh yếu thế, vô tội nhất

3.3 Tố cáo tội ác áp bức, bóc lột

Chúng còn vơ vét của cải, sản vật, biến người dân thành công cụ để phục vụ cho lòng tham vô đáy:

Bại nhân nghĩa nát cả đất trời

Nặng thuế khoá sạch không đầm núi

Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng

Trang 5

5

Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc

Vét sản vật, bắt dò chim trả, chốn chốn lưới chăng

Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt

Chúng đặt ra thuế khóa nặng nề, vơ vét các sản vật như ngọc trai, vàng, chim trả, hươu đen… Nhưng những thứ quý hiếm ấy có phải đâu dễ tìm, người dân bị ép xuống biển mò ngọc, vào núi đãi cát tìm vàng, phu phen tạp dịch xây nhà, đắp đất

"Nặng nề những nỗi phu phen", "Nay xây nhà mai đắp đất chân tay nào phục dịch cho vừa" Sự cai trị tàn bạo của giặc Minh xâm lược đã khiến cho người dân vô tội lâm vào bước đường cùng, bị triệt tiêu đường sống, đẩy đến chỗ nguy hiểm khi phải đối mặt với “rừng thiêng nước độc”, với “cá mập thuồng thuồng"… thậm chí có khi chết không tìm thấy xác

3.4 Tội ác hủy hoại môi trường sống

- Tội ác của chúng còn là hủy hoại môi trường sống của nhân dân Đại Việt, làm cho gia đình đang đầm ấm bỗng chốc mất đi người chồng, người cha, chỉ còn trẻ con, phụ nữ góa bụa nheo nhóc:

Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ

Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng

- Chúng vơ vét cạn kiệt tài nguyên đất nước, tàn phá nặng nề các giống loài tự nhiên, triệt đường sống của vạn vật, tàn hại đến cả giống côn trùng, cây cỏ và làm

“tan tác cả nghề canh cửi”

3.5 Hình ảnh quân giặc hiện lên xấu xa, bỉ ổi

- Đoạn cáo vừa thống thiết, đau đớn, xót xa khi nói về thảm cảnh của nhân dân, vừa đanh thép, hùng hồn khi kết tội kẻ thù Bọn giặc đã gây ra biết bao đớn đau cho dân tộc, giống nòi Căm thù giặc sâu sắc nên qua con mắt của tác giả và nhân dân, hình ảnh bọn giặc hiện lên đầy xấu xa, kinh tởm :

Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán

- Bằng biện pháp phóng đại, Nguyễn Trãi còn chỉ rõ sự bại hoại nhân nghĩa, luân lí của bọn giặc Minh:

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!

Lẽ nào trời đất dung tha? Ai bảo thần dân chịu được?

Tác giả đã sử dụng các hình ảnh rất giàu giá trị biểu cảm, gợi tả như “trúc Nam Sơn”, “nước Đông Hải”, dùng cái vô cùng, tột độ để diễn tả tội ác của kẻ thù Tội ác chúng gây ra nhiều không kể xiết, đến nỗi ghi lên thân trúc Nam Sơn cũng chẳng hết, tanh hôi đến mức nước biển Đông không rửa sạch được mùi

Nghệ thuật tương phản đối lập giữa nhân dân ta và giặc thù được sử dụng triệt

để đã nhấn mạnh, khắc sâu sự đau thương, tang tóc của nhân dân và tội ác man rợ của

kẻ thù Tội ác của chúng khiến trời không dung, đất không tha, khiến thần dân giận

dữ, căm phẫn, đau xót: "Lẽ nào trời đất dung tha? Ai bảo thần dân chịu được?"

Nguyễn Trãi tin vào thiên mệnh, tin rằng bọn giặc tàn ác nhất định sẽ bị trừng trị đích đáng cho những tội ác mà chúng gây ra trên đất Đại Việt

Trang 6

6

Tiểu kết: Bằng một giọng văn đau xót, bi thương tột cùng kết hợp với nghệ

thuật liệt kê, phóng đại, tương phản… Nguyễn Trãi vừa vạch trần âm mưu xâm lược vừa phản ánh được sự tàn ác, man rợ của giặc Minh đối với dân tộc và nhân dân Đại Việt Đồng thời ông cũng thể hiện được tư tưởng nhân nghĩa là lòng yêu nước thương dân khi đứng về phía nhân dân, lên án tội ác của giặc, thể hiện tình cảm xót thương sâu sắc khi quyền sống của nhân dân bị chà đạp Đoạn cáo vì vậy có ý nghĩa là lời buộc tội đanh thép tội ác của bọn giặc, từ đó lí giải nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

4 Đoạn 3: Thuật lại khởi nghĩa Lam Sơn

Tiếp tục soi chân lý vào thực tiễn, Nguyễn Trãi đã nói về tính chất chính nghĩa

và quá trình chinh phạt gian khổ để đi đến chiến thắng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

Trong đó trước hết, tác giả làm nổi bật hình tượng người lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa

4.1 Hình tượng Lê Lợi

Nhân tố quan trọng hàng đầu trong cuộc khởi nghĩa đó là chủ soái Lê Lợi Nguyễn Trãi miêu tả ông là người anh hùng có lòng yêu nước thương dân, lòng tự tôn dân tộc sâu sắc, thế nên ông căm ghét giặc Minh xâm lược "Ngẫm thù lớn há đội trời chung/Căm giặc nước thề không cùng sống Đó chính là nguyên nhân, là tiền đề đầu tiên để vị lãnh tụ Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa chốn Lam Sơn, lấy nơi hoang dã làm căn

cứ nương mình, chờ thời cơ diệt giặc Hơn thế nữa, Lê Lợi còn hội tụ rất nhiều yếu tố khác để trở thành vị lãnh tụ đáng kính bao gồm lòng kiên trì bền bỉ "Nếm mật nằm gai/chốc đà mười mấy năm trời" để xây dựng lực lượng, có khả năng thu phục quần hùng, biết coi trọng nhân tài "cỗ xe cầu hiền thường chăm chăm còn dành phía tả" và quan trọng nhất đó là lòng quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm dù có bao nhiêu gian khó "Tấm lòng cứu nước vẫn đăm đăm muốn tiến về phía đông", tiến về mặt trời, về một tương lai tươi sáng rực rỡ cho dân tộc

4.2 Những khó khăn trong buổi đầu

Trong giai đoạn đầu, “vạn sự khởi đầu nan” cuộc khởi nghĩa của chủ tướng Lê Lợi gặp rất nhiều khó khăn, đầu tiên Nguyễn Trãi đã tái hiện lại sự tương quan giữa

ta và địch Về phía địch, khi cờ khởi nghĩa của ta vừa dấy lên, thì cũng chính là lúc

“quân thù đang mạnh”, giặc Minh được thế giở thói “hung đồ ngang dọc” thả sức tác oai tác quái, phô trương thanh thế đàn áp nhân dân Trái lại về phía ta thì lại gặp vô vàn khó khăn trắc trở “tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá màu thu”, vốn đã thiếu người, thiếu lực lượng và thiếu nhất là những người tài chịu đứng ra giúp nước phò tá Lê Lợi, trong việc bôn tẩu, bàn bạc kế sách chống quân thù “Trông người người càng vắng bóng, mịt mù như chốn bể khơi” người thiếu, lực mỏng và con đường khởi nghĩa cũng còn quá mơ hồ, bởi so với địch thực sự thế lực của ta chẳng thể chống đỡ được quá lâu Một nỗi lo khác nữa ấy là ngoài thiếu nhân lực ta còn thiếu cả vật lực “Vận nước khó khăn/Linh Sơn lương hết mấy tuần/Khôi huyện quân không một đội”, thiếu thốn lương thực, vũ khí, không có nguồn tiếp tế khiến nghĩa quân nhiều lần lao đao, khốn khó trong việc duy trì tinh thần quân lính Có thể thấy

rõ rằng, tương quan lực lượng giữa ta và địch là hoàn toàn chênh lệch với cái thế yếu thuộc về nghĩa quân Lam Sơn

Trang 7

7

Nhưng bằng lòng quyết tâm cứu nước, bằng lòng căm thù giặc sâu sắc nghĩa quân ta bằng mọi cách để khắc phục khó khăn ban đầu Hội tụ nghĩa quân, nêu cao tấm lòng chính nghĩa, đoàn kết "nhân dân bốn bể một nhà", "tướng sĩ một lòng phụ tử" Vận dụng mưu lược trong chiến đấu "dùng quân mai phục", tinh thần anh dũng

hi sinh "lấy ít địch nhiều", "lấy yếu chống mạnh", khiến cho mỗi trận đánh của quân dân ta đều sĩ khí bừng bừng, thu được nhiều chiến công vang dội Nguyên nhân xuất phát bởi tấm lòng nhân nghĩa, chính nghĩa của nghĩa quân "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/Lấy chí nhân thay cường bạo", chứng minh một chân lý không thể dời đổi, chính nghĩa ắt phải thắng gian tà

4.3 Giai đoạn phản công và thắng lợi của cuộc khởi nghĩa:

Với ý chí khắc phục khó khăn và sức mạnh đại nghĩa, ta đã chiến thắng Nghĩa quân đã liên tiếp giành được những chiến thắng vang dội, còn kẻ thù thì phải nhận hàng loạt các chiến bại, vô cùng nhục nhã Sau các trận thắng Bồ Đằng, Trà Lân khí thế quân ta ngày càng mạnh: “Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật/Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay/Sĩ khí đã hăng/Quân thanh càng mạnh”, còn lũ địch nhát gan chỉ được nước “Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía/Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân” Quân ta liên tiếp giành lại những thành trì, vùng đất đã rơi vào tay giặc như Tây Kinh, Đông Đô, Tốt Động, Ninh Kiều, khiến quân giặc nghe hơi mà mất vía, trái lại về phía địch thì toàn nhận lại những trận thảm bại, “máu chảy thành sông”,

“thây chất đầy nội” Tướng lĩnh kẻ bêu đầu, đứa tử trận, Vương Thông, Mã Anh dù

cố cứu nguy nhưng kết quả cũng đành “Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt” Ta chiến thắng vang dội, giặc thất bại thảm hại

Với tinh thần nhân nghĩa, ta đáp lại sự xấu xa, nhơ bẩn của bọn giặc bằng đạo

lí, muốn chinh phục chúng bằng chữ "tâm công" Nghĩ rằng chúng đã chịu khuất phục mà đem quân về nước, nhưng bọn giặc vẫn không từ bỏ dã tâm xâm lược, vẫn

“Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian” Không những không chịu rút

về nước, trái lại bọn giặc còn đưa thêm quân tiếp viện do hai tướng Mộc Thạnh và Liễu Thăng chỉ huy chia làm hai đạo quân tiến vào nước ta hòng tiêu diệt nghĩa quân, lấy lại thế chủ động Lúc này nghĩa quân ta tiếp tục quá trình kháng chiến, tiếp nối "sĩ khí" của chặng đường thứ nhất để chặn đánh quân địch ở vùng biên giới, phá tan âm mưu hiểm độc của chúng Ta “chặt mũi tiên phong”, “tuyệt nguồn lương thực”,

“Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá Kết quả “trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế”,

“trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu”, Lương Minh tử vong, Bá Khánh cùng kế phải tự vẫn Lại thêm quân bốn mặt vây thành/Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc/Sĩ tốt kén người hùng hổ/Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh” Đạo quân của Mộc Thạnh cũng thất bại thảm hại, khiếp vía giẫm đạp lên nhau để mà thoát thân

Lí tưởng nhân nghĩa của dân tộc lại một lần nữa được khẳng định khi quân giặc thua trận ta không những không đuổi cùng diệt tận mà “Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh”, “Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền/ Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa” để chúng rút lui về nước trong sự tâm phục khẩu phục, vừa để quân dân nghỉ ngơi lấy sức khôi phục đất nước sau chiến tranh

Trang 8

8

Tiểu kết: Bằng bút pháp đậm chất anh hùng ca, hình ảnh thiên nhiên lớn lao kì

vĩ, ngôn ngữ đặc sắc, với các động từ mạnh liên tiếp, nghệ thuật phóng đại, liệt kê đã diễn tả những trận chiến rung chuyển Câu văn linh hoạt, chiến thắng của ta thì dùng câu văn ngắn thể hiện sự dồn dập, quyết đoán mạnh mẽ, oai hùng, còn thất bại của địch thì được diễn tả bằng những câu văn dài Nghệ thuật đối lập giữa hai hình tượng

ta – giặc Ta khí thế ngày càng mạnh, chiến thắng và luôn nêu cao tinh thần nhân nghĩa Bọn giặc độc ác nhưng hèn hạ, ham sống sợ chết và thất bại nhục nhã, ê chề BÌnh Ngô đại cáo xứng đáng là áng văn hùng muôn thuở

5 Đoạn 4: Tuyên bố độc lập

- Bằng giọng văn thư thái, trịnh trọng, trang nghiêm, Nguyễn Trãi đã tuyên bố chiến quả, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn “Xã tắc từ đây vững bền/Giang sơn từ đây đổi mới”, tuyên bố chiến thắng, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập cho dân tộc, xây dựng nhà nước Đại Việt tự chủ và thịnh vượng dưới triều vua mới Đoạn cáo cũng thể hiện rõ niềm tự hào về chiến thắng, về nền độc lập chủ quyền dân tộc, về chiến công oanh liệt ngàn năm, rửa sạch mối nhục mất nước

- Sau là rút ra những bài học lịch sử sâu sắc, từ quy luật của trời đất và tự nhiên, “Càn khôn bĩ rồi lại thái/Nhật nguyệt hối rồi lại minh” thể hiện sự tin tưởng vào vận mệnh mới của dân tộc, sau khi đã trải qua cơn bĩ cực của lịch sử Từ đây, tác giả cũng thể hiện khát vọng đất nước ngàn thu vững bền "Muôn thuở nền thái bình vững chắc"

- Chiến thắng của ta được tạo nên nhờ sự kết hợp của sức mạnh thời đại “Một

cỗ nhung y chiến thắng/Nên công oanh liệt ngàn năm” Nhưng ta chiến thắng cũng bởi được tổ tiên, cha ông đã ngầm giúp đỡ “Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ mới được như vậy” Ở đây, Nguyễn Trãi đã ca ngợi công lao của tổ tiên, cha ông, chính các thế hệ cha ông đã tạo nên sức mạnh truyền thống truyền lại

và dẫn dắt con cháu đi đến thắng lợi

- Khát vọng đất nước ngàn thu vững bền: Tham khảo “Bạch Đằng giang phú”

6 Đánh giá chung

5.1 Về nghệ thuật

a) Đặc trưng cơ bản của thể cáo: thể văn nghị luận, do vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng với mục đích tuyên bố một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện; được viết bằng văn xuôi hay văn vần nhưng phần nhiều được viết bằng văn biền ngẫu; có kết cấu chặt chẽ, lập luận đanh thép, lời văn trang trọng, hùng hồn

- Nguyễn Trãi đã vận dụng sáng tạo, thành công thể cáo : bài đại cáo (chứ không phải loại văn cáo thường ngày), được viết theo lối văn biên ngẫu, có vận dụng thể tứ lục, kết câu bốn phần (nêu luận đề chính nghĩa; vạch rõ tội ác kẻ thù; thuật lại quá trình cuộc khởi nghĩa Lam Sơn; tuyên bố độc lập, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa),

sử dụng nhiều hình tượng nghệ thuật; sinh động, gợi cảm

b) “Đại cáo binh Ngô” có sự kết hợp hài hoá giữa yếu tố chính luận và chất văn chương

Trang 9

9

- Kất cấu chặt chẽ, lập luận lôgic, sắc bén Bài cáo được kết cấu theo trình tự phần mở đầu nêu luận đề chính nghĩa; phẩn thứ hai soi sáng tiên đề vào thụt tiễn, lên

án hành động phi nghĩa của giặc Minh, khẳng định, ngợi ca sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Đại Việt; phần cuối rút ra kết luận trên cơ sở tiền đề và thực tiễn để khẳng định chiến thắng và tương lai dân tộc, cách lập luận của tác giả rất logic, sắc bén: thống nhất trên lập trường yêu nước và nhân nghĩa, có sự kết hợp giữa lí lẽ và thực tiễn

- Lời văn giàu cảm xúc : tác giả không tả hoặc thuật lại một cách khách quan mà thường thể hiện thái độ, cảm xúc của người viết (“Ngẫm thù lớn há đội trời chung - Căm giặc nước thế không cùng sống”, “Những trằn trọc trong cơn mộng mị-Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi” )

- Câu văn giàu hình tượng : tác giả diễn đạt tư tưởng bằng những hình tượng nghệ thuật sinh động, làm cho câu văn có sức mạnh gợi cảm, truyền cảm (“Độc ác thay trúc Nam Sơn không ghi hết tội - Dơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa sạch mùi”, “Gươm mài đá đá núi cũng mòn - Voi uống nước nước sông phải cạn”, )

5.2 Về nội dung

a) “Đại cáo bình Ngô”có ý nghĩa trọng đại của bản tuyên ngôn độc lập dân tộc Ngay ở phần đầu bài cáo, tác giả đã khẳng định chân lí khách quan về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt Chân lí đó có cơ sở chắc chắn từ thực tiễn lịch sử Nguyễn Trãi đã đưa ra những yếu tố căn bản đẻ xác định dân tộc ta có quyền độc lập, tự chủ : cương vực lãnh thổ riêng, phong tục tập quán riêng, nền văn hiến lâu đời, lịch sử riêng, chế độ riêng và “hào kiệt không bao giờ thiếu

b) “Đại cáo bình Ngô” là áng văn yêu nước chói ngời

Bài cáo khẳng định truyền thống yêu nước, truyền thống nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam, lên án tội ác kẻ thù xâm lược, ca ngợi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, thể hiện niềm tin vững chắc vào nền độc lập dân tộc

c) “Đại cáo bình Ngô” áng văn chứa đựng tư tưởng nhân văn sâu sắc

Bài cáo khẳng định tư tưởng nhân nghĩa (“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”), tố cáo tội ác kẻ thù trên lập trường nhân nghĩa,vì quyền sống con người và khẳng định truyền thống nhân đạo của người Việt Nam (“Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh”,…)

LUYỆN ĐỀ

Đề bài 1: Có ý kiến cho rằng, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là một

“thiên cổ hùng văn” Qua việc phân tích tác phẩm, hãy làm sáng tỏ nhận định trên

*Giải thích “Thiên cổ hùng văn”; áng văn hùng tráng cả nghìn đời còn lưu truyền Vì:

– Nội dung thể hiện một tinh thần yêu nước mãnh liệt, tinh thần chiến đấu hết sức mạnh mẽ quyết liệt, khí thế hào hùng, lòng căm thù giặc sôi sục

Trang 10

10

– Ghi lại một thời kì đau thương mà oanh liệt của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Minh với những chiến lược chiến thuật hết sức đúng đắn và sáng tạo đã đem lại những trận đánh long trời lở đất làm cho quân thù phải khiếp sợ, đẩy chúng đến sự thất bại toàn diện và nhục nhã

– Với nghệ thuật xuất sắc: lời văn biền ngẫu hùng tráng, hơi văn cuồn cuộn như bão giông, sóng lớn, từ ngữ sắc bén như những nhát dao chém vào quân xâm lược, phép đối kết hợp với cấu trúc câu của loại phú cận thể tạo nên tiết tấu mạnh mẽ thể hiện cảm xúc hào sảng bừng bừng trong huyết quản của tác giả ngay trong những ngày nghĩa quân Lam Sơn thắng trận giòn giã

 Bài cáo mãi là âm vang hào hùng trên non sông đất Việt và ghi lại được ý chí, khát vọng chiến thắng, hoà bình, độc lập của toàn dânvì:

– Vì đã khẳng định được quyền tự chủ và ý chí chiến đấu đến cùng để giành quyền tự chủ của dân tộc trước một tên xâm lược sừng sỏ nhất châu Á

– Bài cáo còn nêu cao tư tưởng nhân nghĩa để khẳng định đạo lí ngàn đời của nhân dân VN

– Sự bất hủ của bài cáo còn là do thiên tài nghệ thuật của NT

– Sự tồn tại vượt thời gian của bài cáo còn có sự góp phần của dịch giả -> bài dich chữ Nôm quả là một công trình dịch thuật xuất sắc

*Chứng minh:

– BNĐC là bản hùng ca xuất sắc về nội dung và nghệ thuật:

+ Ca ngợi đất nước và dân tộc với lối văn trong sáng tràn đầy sức mạnh của lòng

tự tin và tự hào : “Như nước ĐV… còn ghi”

+ Một bản cáo trạng đanh thép về tội ác của quân xâm lược “Nướng… chịu được” -> thể hiện lòng căm thù sôi sục của tác giả:

 Nỗi niềm trăn trở âu lo cho vận mệnh của đất nước thể hiện tình yêu nước thương dân sâu sắc “ Ngẫm thù lớn… đồ hồi”

 Cảm xúc dạt dào khi có cơ hội khởi nghĩa, khi tập hợp được lực lượng nhân dân, khi lực lượng nghĩa quân đã phát triển: “nhân dân bốn cõi…phới”

 Chiến lược, chiến thuật tài tình và chiến thắng vang dội là trọng tâm làm nên cảm xúc vừa mãnh liệt vừa trữ tình cho áng văn chương bất hủ: “Thế trận xuất kì lấy yếu chống mạnh…” , “Đem đại nghĩa…tàn”

+ Các câu tường thuật chiến thắng là những lời hào hùng nhất như có sức mạnh

xô núi, lấp biển “ Trận Bồ Đằng….ngàn năm”, “Ngày mươi tám…”, “ Gươm mài đá….”

+ Kết thúc bài cáo là những lời ca trang trọng và tươi vui nhất, là niềm hạnh phúc dạt dào

=> Tư tưởng nhân nghĩa là nguồn gốc của giá trị văn chương, là cái bệ phóng để đưa tác phẩm từ quá khứ vào tương lai và trường tồn mãi mãi

Đề số 2: Tinh thần nhân đạo thể hiện trong Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi

Gợi ý :

Ngày đăng: 23/03/2022, 16:59

w