1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tổng quan chung Phân tích tác phẩm Đoàn thuyền đánh cá

24 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 333,88 KB
File đính kèm ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ.pdf.zip (303 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ I. Tác giả Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng cho phong trào thơ mới, đồng thời là cây bút tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Ông dạt dào cảm hứng về thiên nhiên, đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới của cả dân tộc sau 1945. Nếu như trước CMT8 thơ Huy Cận là hồn thơ “sầu vũ trụ” thì sau 1945, đặc biệt là sau khi miền Bắc được hòa bình, bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, khiến cho hồn thơ Huy Cận nảy nở trở lại, đầy ắp niềm tin yêu. II. Tác phẩm a. Hoàn cảnh ra đời: Bài thơ được viết năm 1958, nhân chuyến đi thực tế dài ngày của tác giả về vùng mỏ Quảng Ninh, in trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng” b. Nghệ thuật Sử dụng bút pháp lãng mạn với các biện pháp nghệ thuật đối lập, so sánh, phóng đại, nhân hóa để khắc họa thành công những hình ảnh đẹp về mặt trời lúc hoàng hôn, khi bình minh. Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu gợi nhiều liên tưởng. Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa hai nguồn cảm hứng về thiên nhiên, vũ trụ và cảm hứng về con người, tình yêu đất nước. 1 CHỊ ĐẸP DẠY VĂN SĐT: 0975 243 107 ( Chị An) Chị Đẹp Dạy Văn đồng hành cùng bạn trên con đường văn chương. c. Nội dung chính Cả bài thơ gồm 7 khổ khắc họa thành công bức tranh đẹp về hình ảnh đoàn thuyền đánh cá theo trình tự một chuyến ra khơi: ra khơi trong chiều hoàng hôn tráng lệ; lao động hăng say trên biển đầy ắp ánh trăng và trở về trong một sớm bình minh rạng rỡ tinh khôi. III. PHÂN TÍCH TÁC PHẨM A. Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi trong chiều hoàng hôn tráng lệ: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa. Sóng đã cài then, đêm sập cửa. Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi.” Bức tranh hoàng hôn trên biển và hình ảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi “Mặt trời xuống biển như hòn lửa” Như: so sánh: khiến cảnh tượng trở nên Mặt trời trong mắt của thi nhân như một quả cầu lửa khổng lồ đang từ từ lặn xuống biển tàu mang theo sức nóng của nó như làm ấm mặt nước. “Sóng đã cài then, đêm sập cửa” Cài then: nhân hóa: khiến sóng như một con người, dễ dàng liên tưởng đến ngôi nhà, sóng là then cài, màn đêm là cánh cửa. Sóng vỗ dập dềnh vào cồn cát → Biển trong chiều hoàng hôn thật đẹp, tráng lệ, kì vĩ nhưng đầy bí hiểm và thách thức. “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi” Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi Khẳng định: nhịp sống của người dân chài đã đi vào ổn định, đi vào nếp sống khi đất nước đã hòa bình.

Trang 1

ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ

I Tác giả

- Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng cho phong trào thơ mới, đồng thời là cây bút tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam Ông dạt dào cảm hứng về thiên nhiên, đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới của cả dân tộc sau 1945

- Nếu như trước CMT8 thơ Huy Cận là hồn thơ “sầu vũ trụ” thì sau 1945, đặc biệt là sau khi miền Bắc được hòa bình, bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, khiến cho hồn thơ Huy Cận nảy nở trở lại, đầy ắp niềm tin yêu

- Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu gợi nhiều liên tưởng

- Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa hai nguồn cảm hứng về thiên nhiên, vũ trụ và cảm hứng về con người, tình yêu đất nước

Trang 2

c Nội dung chính

- Cả bài thơ gồm 7 khổ khắc họa thành công bức tranh đẹp về hình ảnh đoàn thuyền đánh

cá theo trình tự một chuyến ra khơi: ra khơi trong chiều hoàng hôn tráng lệ; lao động

hăng say trên biển đầy ắp ánh trăng và trở về trong một sớm bình minh rạng rỡ tinh khôi

III PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

A Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi trong chiều hoàng hôn tráng lệ:

“Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then, đêm sập cửa

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”

- Bức tranh hoàng hôn trên biển và hình ảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi

“Mặt trời xuống biển như hòn lửa”

- Như: so sánh: khiến cảnh tượng trở nên - Mặt trời trong mắt của thi nhân như một quả cầu lửa khổng lồ đang từ từ lặn xuống biển tàu mang theo sức nóng của nó như làm ấm mặt nước

“Sóng đã cài then, đêm sập cửa”

- Cài then: nhân hóa: khiến sóng như một con người, dễ dàng liên tưởng đến ngôi nhà, sóng là then cài, màn đêm là cánh cửa Sóng vỗ dập dềnh vào cồn cát

→ Biển trong chiều hoàng hôn thật đẹp, tráng lệ, kì vĩ nhưng đầy bí hiểm và thách thức

“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi”

- Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi

- Khẳng định: nhịp sống của người dân chài đã đi vào ổn định, đi vào nếp sống khi đất nước đã hòa bình

Trang 3

“Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về!”

(Đất nước - Nguyễn Đình Chi)

“Câu hát căng buồm cùng gió khơi”

- Ẩn dụ cùng lối nói khoa trương→ tâm trạng, tinh thần phấn khởi, vui tươi, hào hứng Hòa cùng gió biển đẩy nhanh đoàn thuyền rẽ sóng lướt ra khơi

→ Tâm trạng chung của người dân Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước ở miền Bắc

“Hát rằng: biển bạc cá Đông lặng

Cá thu biển Đông như đoàn thoi

Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng

Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”

- Khúc hát ca ngợi sự giàu đẹp của biển cả quê hương

Cá bạc: phép liệt kê: cá bạc, cá thu + so sánh diễn tả mặt biển bao la tựa như một khung cửi khổng lồ mà từng dân cá thu bội lượn dọc ngang tựa như đoàn thoi → Ca ngợi sự giàu có, phong phú của tài nguyên biển

“Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng”

- Dệt: mang biểu tượng hình ảnh nhân hóa + miêu tả một cách độc đáo (dệt biển muôn luồng sáng), từng đàn cá như mang trên mình những sợi chỉ dát bạc → làm nên bức tranh biển lung linh, huyền ảo

Trang 4

“Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi”

- Câu nói tựa như tiếng gọi thân thương của ngư dân với sản vật quê hương → Thể hiện

sự gắn bó mật thiết của biển khơi và tàu

B Sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động

“Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng,

Ra đậu dặm xa dò bụng biển,

Dàn đan thế trận lưới vây giăng.”

- Bút pháp lãng mạn với nhiều yếu tố tưởng tượng bất ngờ: đoàn thuyền ra khơi có gió làm bánh lái với trăng là cánh buồm → Sự hỗ trợ của thiên nhiên dành cho con người

“Lướt giữa mây cao với biển bằng”

- Nghệ thuật nói quá, lối nói khoa trương, phép nói quá: mở ra sự rộng lớn, mênh mông bát ngát của thiên nhiên Biển cả bao la mà êm ả, hiền hòa, con người bỗng chốc trở nên

kì vĩ

“Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang”

(“Quê hương” – Tế Hanh) “Ra đậu dặm xa dò bụng biển”

- Dò bụng biển: hình ảnh nhân hóa: lòng mẹ biển khơi dù bao la, sau thẳm nhưng đầy tình thương dành cho những đứa con vùng chài lưới → thể hiện mặc đêm tối, mặc gió khơi, người dân chài vẫn lao động, vẫn ra khơi cho hành trình của mình Bởi vì họ hiểu được rằng:

Trang 5

“Nếu là con chim, chiếc lá Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh”

(Tố Hữu)

“Dàn đan thế trận lưới vây giăng”

- Hình ảnh ẩn dụ cuộc sống đánh cá của người dân chài lưới như một trận đánh để dành lấy từ thiên nhiên những tài nguyên bằng tất cả sức lực, trí tuệ của con người

- Các hình ảnh “dò bụng biển”, “dàn đan thế trận” chứa đựng tất cả sự hiểm nguy, sự vất

vả của những người con suốt ngày gắn bó với ngư trường với biển khơi → Tư thế lao động, giữa cái gian lao ấy, vững vàng của những con người làm chủ biển cả đang chăm chỉ lao

động, nhiệt thành góp phần làm giàu cho đất nước mà mỗi người ý thức được rằng:

“Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng

Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương

Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm

Là người, tôi sẽ chết cho quê hương.”

(bài hát “Tự nguyện” - tác giả Trương Quốc Khánh) b2) Sự giàu đẹp của biển cả

“Cá nhụ cá chim cùng cá đé,

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,

Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe

Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.”

Trang 6

- Phép liệt kê: cá nhụ, cá chim, cá đé diễn tả sự đa dạng, phong phú, giàu có của biển cả quê hương Nghệ thuật phối sắc tài tình: màu đuốc đen, màu hồng của đàn ca song cùng màu vàng của ánh trăng trong làn nước xanh của trùng khơi khiến vần thơ hiện lên như một bức tranh sơn mài tuyệt đẹp, rực rỡ cảnh biển lung linh, lấp lánh

- So sánh “đuôi cá” với “ngọn đuốc” → Hình ảnh so sánh gợi nhiều liên tưởng

- Công việc đánh cá trong thực tế vốn nặng nhọc bỗng chốc lãng mạn hóa, thú vị hóa

“Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe”

- Dùng “em” để gọi cá: sự trân trọng, gần gũi đối với sản vật quê hương và sự gần gũi, gắn

bó, thân thiết của con người với biển khơi

Từ “quẫy” → miêu tả một cách sinh động và khiến cho những lời thơ đầy sức sống

“Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long”

- Thở: từ nhân hóa

- Trong trí tưởng tượng của nhà thơ, màn đêm in bóng xuống mặt biển, phả vào đây 1 làn gió kết hợp với hình ảnh ngàn ánh sao đang soi mình xuống mặt biển Sóng đẩy vào mạn thuyền tạo nên canh “sao lùa nước” Trong cái hơi thở ấy, không chỉ có âm thanh của sóng, gió mà còn có hơi thở từ lồng ngực căng khỏe của người dân chài lưới, đặc biệt là

“dân trai tráng lên thuyền đi đánh cá”

→ Bút pháp lãng mạn tạo nên một bức tranh đoàn thuyền đánh cá trong đêm trăng thể hiện 1 tình yêu sâu nặng của thi nhân với thiên nhiên, với lao động

→ Trong bài thơ nói chung và đoạn thơ nói riêng luôn có hai nguồn cảm hứng bao trùm

và hài hòa với nhau: cảm hứng về lao động và cảm hứng về thiên nhiên vũ trụ Sự thống nhất của hai nguồn cảm hứng ấy đã tạo nên 1 hệ thống hình ảnh đầy thú vị

b3) Cảnh đánh bắt cá trên biển

Trang 7

“Ta hát bài ca gọi cá vào,

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao

Biển cho ta cá như lòng mẹ

Nuôi lớn đời ta tự hào”

→ Phép nhân hóa giàu sức liên tưởng → diễn tả công việc đánh cá vốn nặng nhọc nhưng trở nên vui tươi, khỏe khoắn Dường như đoàn thuyền không cần đến kỹ thuật mà chỉ cần cất cao tiếng hát, giương căng cánh buồm đưa đoàn thuyền ra biển khơi Giờ đây, họ đã giã từ kiếp nô lệ lầm tan để trở thành một nước độc lập, tự do, một cuộc sống mới đang

mở ra trước mắt họ “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Chế Lan Viên) Bút pháp lãng mạn làm thú vị hóa cuộc đánh bắt cá

“Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao”

- Hàng ngàn ánh sao trên trời cách mặt biển nghìn dặm nhưng cũng muốn xuống cùng tham gia lao động với con người, hỗ trợ con người gõ vào mạn thuyền gọi cá

“Biển cho ta cá như lòng mẹ”

- So sánh sự bao la, bao dung của biển cả như người mẹ thiên nhiên trao cho những đứa con làng chài những tinh tế của đất trời Đúng như “Nước mắt chảy xuôi”, người mẹ biển khơi luôn rộng lòng cho đi những gì tốt đẹp nhất cho những đứa con của mình mà chính Huy Cận đã từng nói:

“Lòng ta tin biển, biển yêu ta

Sóng nở hoa nhài vương vấn bờ

Bát ngát tình yêu trong vũ trụ

Đúc nền xanh biển mượt mà thơ”

Trang 8

- Không chỉ là người con, thiên nhiên như góp một phần sức lực vào công cuôc xây dựng đất nước tiến lên xã hội chủ nghĩa vào những năm sau 1954

“Nuôi lớn đời ta từ buổi nào”

- Âm điệu thơ trầm lắng ngọt ngào thể hiện sự biết ơn, trân trọng của ngư dân đối với biển

cả hay cũng chính là của người con đối với thiên nhiên

b4) Cảnh ngư dân trở về đất liền

Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng đông,

Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.”

- Sự chuyển động của không gian, thời gian thể hiện sự đồng hành của thiên nhiên

- Trong hành trình ra khơi của con người, “kịp” dường như con người đang phải chạy đua với thời gian, cực tả nhịp độ làm việc của con người vội vã

“Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng”

- Thể hiện những đôi tay rắn chắc của người dân chài làn da ngăm rám nắng “Chùm cá nặng” là thành quả lao động của con người làm việc trong sự vui tười, hào hứng, lòng nhiệt thành

“Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe

Những con cá tươi ngon thân bạc trắng”

“Vẫy bạc đuôi vàng lóe rạng đông”

Trang 9

Nghệ thuật phối sắc tài tình với những hình ảnh “vẫy bạc, đuôi vàng” tạo nên một bức tranh bình minh tinh khôi, ấm áp, đầy sức sống

“Bình minh dâng lên từ phía chân trời

Vầng thái dương nhô dần trên mặt biển

Những tia nắng hồng xua đi màn tối

Hoa ban mai lấp lánh long lanh.”

(Biển lúc bình minh- Sinh Hoàng)

“Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng”

- Hình ảnh nắng hồn đang phủ trùm trên biển

→ Ẩn dụ cho một cuộc sống ấm no, hạnh phúc Là kết quả xứng đáng cho những con người yêu nghề, yêu biển, đang lao động nhiệt tình góp phần

“Sống mà vô dụng, sống làm chi

Sống chẳng lương tâm, sống ích gì”

(Sống - Nguyễn An Ninh)

C Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá trở về trong buổi sớm bình minh

"Câu hát căng buồm với gió khơi

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời

Mặt trời đội biển nhô màu mới

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi."

- Lặp lại hình ảnh ẩn dụ cùng lối nói khoa trương gợi nhiều liên tưởng

Trang 10

- Thay chữ “cùng” bằng chữ “với” (Câu hát xuất hiện trong toàn bài thơ cũng như đồng hành với ngư dân suốt đoạn đường ra khơi của họ từ lúc đoàn thuyền đánh cá ra khơi trong chiều hoàng hôn với tâm trạng náo nức của người đi biển đến lúc trở về trong buổi bình minh lên.)

- Tiếng hát được lặp lại bốn lần trong cả bài thơ đem lại âm điệu vui tươi cho một khúc hát lao động đầy mê say

“Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”

- Phép nhân hóa “chạy đua”

- Tư thế sôi nổi, khẩn trương và không khí rộn ràng tấp nập của những người dân chài trong cuộc sống là thường nhật

- Con người đo đặt ngang tầm cùng hệ quy chiếu với thiên nhiên làm con người bỗng chốc trở nên kì vĩ, lớn lao trước biển khơi vô tận

“Mặt trời đội biển nhô màu mới”

- Gợi cho con người cảm giác thần thoại, hư ảo, thể hiện sự mạnh mẽ tột độ của mặt trời Câu thơ làm cho thiên nhiên bừng sáng “Hào quang rạng rỡ ánh bình minh” (Bình minh

- Quốc Hưng Nguyên Cao)

- Màu mới ẩn dụ cuộc sống mới, con người mỗi khi đất nước giành độc lập, từng bước đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa miền Bắc

“Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”

- Phép miêu tả độc đáo Ánh mặt trời đang tô điểm cho thành quả lao động thêm rực rỡ, góp phần làm đẹp thêm trời biển quê hương hay đó là niềm vui chiến thắng, niềm vinh quang bình dị của những người lao động hết mình vì bản thân, vì gia đình, quê hương đất nước

Trang 11

- 4 câu thơ gieo cùng một vần: 3 vần bằng, 1 vần trắc tạo âm hưởng vừa sang trong, vừa chắc khỏe

- Nghệ thuật đầu cuối hô ứng diễn tả một vòng lặp tuần hoàn của thời gian, cũng như sự làm việc đều đặn trong lao động của con người

Dẫn chứng

“Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ chết

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về”

( Đất nước - Nguyễn Đình Chi)

“ Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang”

(“Quê hương” – Tế Hanh)

“ Nếu là con chim, chiếc lá

Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh”

( Tố Hữu)

“ Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng

Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương

Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm

Là người, tôi sẽ chết cho quê hương.”

( bài hát “Tự nguyện” - tác giả Trương Quốc Khánh)

Trang 12

Huy Cận từng viết:

“ Lòng ta tin biển, biển yêu ta

Sóng nở hoa nhài vương vấn bờ

Bát ngát tình yêu trong vũ trụ

Đúc nên xanh biển mượt mà thơ”

“ Bình minh dâng lên từ phía chân trời

Vầng thái dương nhô dần trên mặt biển

Những tia nắng hồn xua đi màn tối

Hoa ban mai lấp lánh, long lanh.”

( Biển lúc bình minh- Sinh Hoàng)

Bài đọc thêm

BIỂN - BIỂU TƯỢNG CỦA VŨ TRỤ TRONG THƠ HUY CẬN

ĐỖ KIỀU NGA Tóm tắt

Hồn thơ Huy Cận là một hồn thơ mang linh hồn trời đất và mang nặng tình người, tình đời, tình yêu sự sống Nhà thơ luôn tâm niệm “Cảm quan về vũ trụ và cảm quan về

xã hội là hai cánh của thơ, không thể bay bằng một cánh” Trên hành trình đi từ Lửa thiêng đến Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ, bên cạnh tấm lòng với cuộc đời thì tấm lòng với vũ trụ luôn là nỗi nhớ, nỗi ám ảnh thường trực trong hồn thơ Huy Cận Thường trực những xúc cảm vũ trụ trong hồn mình, Huy Cận không thể không tìm đến với cái rộng

xa, dạt dào của biển Bản thân biển chưa phải là vũ trụ nhưng nó được thi nhân nhìn

ngắm, cảm nhận bằng một cảm quan vũ trụ rộng lớn Và vì vậy, những hình ảnh về biển

Trang 13

vừa mang ý nghĩa tạo dựng không gian vô cùng vừa mang ý nghĩa vĩnh hằng của sự sống, thiên nhiên và vũ trụ Chúng vừa là những tín hiệu của vũ trụ, vừa là biểu tượng nghệ thuật thể hiện tư duy nghệ thuật độc đáo của nhà thơ

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Huy Cận là một tác gia lớn Với tập thơ đầu tay Lửa thiêng (1940), Huy Cận đã góp vào phong trào Thơ mới một tiếng thơ không thể thiếu, một hồn thơ luôn hướng tới vẻ đẹp hài hòa và một phong cách đặc sắc đã được định hình rõ nét Sau cách mạng, Huy Cận vẫn gieo hạt đều tay và cho ra đời nhiều tập thơ có giá trị cả về tư tưởng và nghệ thuật Hơn 60 năm cầm bút, từ Lửa thiêng đến Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ, ông đã để lại một gia tài thơ khá đồ sộ: hơn 20 tập thơ Đi cùng với những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc, Huy Cận luôn chứng tỏ được một bút lực dồi dào và tiềm năng sáng tạo to lớn của mình

1 Vũ trụ trong thơ Huy Cận

Trong tiểu luận Hai cực của thơ, Huy Cận viết “Con người sống trong vũ trụ và sống trong xã hội, sống với vũ trụ và sống với xã hội Một thành viên của vũ trụ và một thành viên của loài người Hai cực của cuộc sống, hai cực của tư tưởng, hai cực của nghệ thuật, hai cực của thơ” (2tr.352) Ông còn nhấn mạnh thêm: “Cảm quan về vũ trụ và cảm quan về xã hội là hai cánh của thơ, không thể bay bằng một cánh” Những suy nghĩ này

đã được thể hiện nhất quán trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác thơ Huy Cận Ngay từ Lửa thiêng, Xuân Diệu đã khẳng định: “Linh hồn Huy Cận là một linh hồn trời đất; nói thế không sai đâu! Xem suốt tập Lửa thiêng cái cảm giác trội nhất của ta là một cảm giác không gian” (5, tr.10) Và từ cảm giác không gian ấy, Huy Cận mở ra thành cảm quan vũ trụ, một nguồn mạch cảm hứng lớn song song với cảm hứng về cuộc đời trong suốt hành trình sáng tạo thơ ông Nếu như với nữ thi sĩ của tình yêu - Xuân Quỳnh: “Lòng em nhớ đến anh – Cả trong mơ còn thức” thì với Huy Cận, vũ trụ chính là nỗi nhớ thường trực ở trong ông

Chiếc võng thơ Huy Cận nếu một đầu mang nặng tình người, tình đời thì đầu kia mang nặng một tấm lòng vũ trụ Đây là quan niệm của nhà thơ, “Thơ như chiếc võng ta

Ngày đăng: 23/03/2022, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w