ÁNH TRĂNG I. Tác giả Nguyễn Duy thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Thơ Nguyễn Duy hướng tới cái đẹp của đời sống giản dị, lắng kết những giá trị vĩnh hằng. Hình thức thơ giàu chất dân gian vừa phảng phất phong vị cổ điển. II. Tác phẩm a) Xuất xứ: bài thơ viết vào năm 1978 tại TP.HCM, in trong tập “Ánh trăng”. b) Nội dung: bài thơ là tiếng lòng, là cảm xúc, là suy ngẫm của tác giả trước hiện thực cuộc sống nhưng không chỉ bó hẹp trong nỗi niềm riêng tư mà còn có những tác động gợi nhắc, thức tỉnh con người về lối sống ân nghĩa, thủy chung với quá khứ, về đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. c) Nghệ thuật Thể thơ ngũ ngôn với âm điệu thơ tâm tình, trầm lắng, thiết tha, có sự thay đổi linh hoạt dòng cảm xúc của tác giả. Sự sáng tạo hình ảnh ánh trăng với nhiều ý nghĩa biểu tượng khiến bài thơ mang tính triết lí sâu sắc. d) Mạch cảm xúc (đầu thân bài) Bài thơ ngũ ngôn có sự kết hợp chặt chẽ giữa tự sự và trữ tình khiến bài thơ tựa như một câu chuyện nhỏ, một tâm tình riêng tư được kể theo trình tự thời gian. Dòng cảm xúc của thi nhân cũng men theo dòng kể của câu chuyện: trăng là tri âm, tri kỷ của con người suốt những năm ấu thơ và khi chiến đấu bỗng trở thành “người dưng” khi con người có cuộc sống đầy đủ nơi thành phố. Trong diễn biến của câu chuyện nhỏ ấy có một sự việc được xem là tình huống tạo ra bước ngoặt để từ đó cảm xúc của nhân vật trữ tình được bộc lộ rõ nhất: Thành phố bị cúp điện, vầng trăng rất đỗi tự nhiên hiện ra đột ngột, bất ngờ trước sự ngỡ ngàng của con người.
Trang 1ÁNH TRĂNG
I Tác giả
- Nguyễn Duy thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ
- Thơ Nguyễn Duy hướng tới cái đẹp của đời sống giản dị, lắng kết những giá trị vĩnh hằng
- Hình thức thơ giàu chất dân gian vừa phảng phất phong vị cổ điển
II Tác phẩm
a) Xuất xứ: bài thơ viết vào năm 1978 tại TP.HCM, in trong tập “Ánh trăng”
b) Nội dung: bài thơ là tiếng lòng, là cảm xúc, là suy ngẫm của tác giả trước hiện thực cuộc sống nhưng không chỉ bó hẹp trong nỗi niềm riêng tư mà còn có những tác động gợi nhắc, thức tỉnh con người về lối sống ân nghĩa, thủy chung với quá khứ, về đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc
c) Nghệ thuật
- Thể thơ ngũ ngôn với âm điệu thơ tâm tình, trầm lắng, thiết tha, có sự thay đổi linh hoạt dòng cảm xúc của tác giả
- Sự sáng tạo hình ảnh ánh trăng với nhiều ý nghĩa biểu tượng khiến bài thơ mang tính triết
lí sâu sắc
d) Mạch cảm xúc (đầu thân bài)
- Bài thơ ngũ ngôn có sự kết hợp chặt chẽ giữa tự sự và trữ tình khiến bài thơ tựa như một câu chuyện nhỏ, một tâm tình riêng tư được kể theo trình tự thời gian Dòng cảm xúc của thi nhân cũng men theo dòng kể của câu chuyện: trăng là tri âm, tri kỷ của con người suốt
Trang 2những năm ấu thơ và khi chiến đấu bỗng trở thành “người dưng” khi con người có cuộc sống đầy đủ nơi thành phố
- Trong diễn biến của câu chuyện nhỏ ấy có một sự việc được xem là tình huống tạo ra bước ngoặt để từ đó cảm xúc của nhân vật trữ tình được bộc lộ rõ nhất: Thành phố bị cúp điện, vầng trăng rất đỗi tự nhiên hiện ra đột ngột, bất ngờ trước sự ngỡ ngàng của con
người
III PHÂN TÍCH TÁC PHẨM
1 Sự gắn bó của con người với ánh trăng
“Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ”
- Điệp ngữ “hồi”: liên tưởng về quá khứ
- Điệp ngữ “với”: khẳng định sự gắn bó khăng khít của con người và thiên nhiên
- Âm điệu thơ tự sự, cảm xúc chân thành, giọng kể tự nhiên khiến tâm trạng của nhân vật trữ tình được bộc lộ nhẹ nhàng nhất
- Cách gieo vần lưng (đồng, sông) + phép liệt kê những hình ảnh gần gũi làng quê Việt Nam → Gợi nhớ một tuổi thơ đầy ắp những kỉ niệm êm đềm
“Ông trăng tròn sáng tỏ
Soi rõ sân nhà em
Trăng khuya sáng hơn đèn
Ơi ông trăng sáng tỏ.”
Trang 3(Trăng sáng sân nhà em - Trần Đăng Khoa)
- Hơn thế nữa, Tết thiếu nhi còn gắn liền với ánh trăng vàng “Em rước đèn với ánh trăng rằm”
- Khi trưởng thành, khi hành quân trên tuyến đường Trường Sơn máu lửa, xa gia đình, quê hương → trở nên tri kỷ
* Giải thích tri kỷ
+ Tri kỷ là đôi bạn thân, không thể thiếu nhau, thật sự hiểu nhau, dành cho nhau những tình cảm chân thành nhất → Trăng là nơi chia ngọt sẻ bùi, giãi bày tâm sự, nơi tâm tình của những người lính
+ Đất nước đã trải qua bao bom đạn, chỉ có trăng cùng anh bộ đội vượt lên sự tàn phá của quân thù:
“Và vầng trăng, vầng trăng đất nước
Vút qua quầng lửa vụt trên cao.”
(Phạm Tiến Duật - Vầng trăng và quầng lửa)
- Cố nhân thường “đăng lâu vọng nguyệt”, còn anh bộ đội cụ Hồ một thời từng hành quân vượt núi, băng rừng khiến người lính đủ mệt mỏi mà ánh trăng kiến giấc ngủ say nồng của người lính
“Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm”
(Đối trăng- Hồ Chí Minh)
2 Vẻ đẹp của ánh trăng
“Trần trụi với thiên nhiên
Trang 4hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”
- Từ láy “trần trụi” giàu sức gợi hình diễn tả tình cảm tự nhiên với thiên nhiên
- “Như” phép so sánh sự chân thành trong cảm xúc Vẻ đẹp trong sáng, bình dị, tinh khiết, bình dị của ánh trăng
- Nguyễn Duy đã từng giới thiệu về bản thân mình:
“Tôi lớn lên với đồng với thóc
Nghe giao hưởng khác nào nghe thóc xay.”
- Tiếng “ngỡ” giàu giá trị gợi cảm: thể hiện chính xác cảm xúc của con người Cả câu khẳng định sự trường tồn mãi với thời gian của đôi tri kỉ này
- Phép nhân hóa vầng trăng tình nghĩa là tri âm tri kỷ, ân nghĩa sắt son mà Tố Hữu đã từng trăn trở về nghĩa tình, về ánh trăng
“Mình về thành thị xa xôi
Nhà cao còn nhớ núi đồi nữa chăng
Phố đông còn nhớ bản làng
Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng.”
(Việt Bắc)
- Vầng trăng xứng đáng là biểu tượng, minh chứng cho ân tình thủy chung
“Vầng trăng vằng vặc giữa trời Đinh ninh hai miệng một lời song song
Tóc tơ căn vặn tấc lòng
Trang 5Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.”
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
3 Sự thờ ơ, vô tình của con người (lại đến lúc nào không hay)
“Từ hồi về thành phố
quen ánh điện, cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường.”
- Hai tiếng “từ hồi” nói về một quãng thời gian kéo dài, làm cho ta thấy điều đó đã tồn tại
từ rất lâu Bắt đầu từ khi rời khỏi chiến trường, cuộc sống nơi thành thị làm cho lòng người đổi thay
- Phép liệt kê “thành phố, ánh điện, cửa gương” cho thấy cuộc sống giàu sang, phú quý, sung túc mà con người đang được hưởng thụ
- Động từ “quen” diễn tả một hành động lặp đi lặp lại hay nói về cuộc sống đầy đủ nhưng khép kín đã trở thành nếp sống, nếp nghĩ của nhân vật trữ tình hiện tại
→ Nguyên nhân dẫn đến sự lãng quên, vô tình mà con người dành cho ánh trăng hay đó cũng là sự dẫn dắt dắt để diễn ra câu chuyện bất ngờ giữa người và trăng
- Phép so sánh (vầng trăng đi qua ngõ) + nhân hóa (như người dưng qua đường): một sự thật xót xa, một sự thay đổi không toan tính, vầng trăng tình nghĩa ngày nào bỗng trở thành người dưng Người đọc dễ dàng cảm nhận được trăng không còn là một sự vật vô tri, vô giác mà là một con người có cảm xúc, có số phận Mà số phận đó là sự lãng quên,
bị lạnh nhạt
- Một điều nghịch lý: Không phải “xa mặt cách lòng”, không phải không còn gặp nhau, vẫn thay đổi, vẫn tồn tại cạnh nhau
“Có khi nào trên đường đời tấp nập
Trang 6Ta vô tình đã đi lướt qua nhau
Bước lơ đãng chẳng ngờ đang để mất.”
(“Có khi nào” - Bùi Minh Quốc)
→ Không nhìn thấy, gặp thì đỡ xót xa Đằng này, vẫn gặp, vẫn lướt qua nhau lại thờ ơ, bạc bẽo đến lạnh lùng
4 Sự xuất hiện đột ngột, bất ngờ của ánh trăng
“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”
- Cách ngắt nhịp nhanh, vần bằng trắc đan xen tạo nên âm điệu thì đột ngột diễn tả tính chất bất ngờ của tình huống gặp gỡ của người và trăng
- Diễn tả tình thái đầy biểu cảm của một tình huống bất ngờ
- Sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng không khiến cho căn phòng sáng hơn bởi căn phòng
ấy đã quen với ánh sáng của đèn điện, cửa gương mà đâu còn màng đến ánh sáng của vầng trăng Sự xuất hiện của vầng trăng khiến cho vầng trăng sáng hơn, đẹp hơn, tròn hơn
+ Tròn: miêu tả hình dáng của trăng (Trăng tròn như cái dĩa - Trần Đăng Khoa) Vầng trăng ngày xưa vẫn tròn đầy, vẫn vẹn nguyên, không hề sứt mẻ, chỉ có con người đổi thay
mà nguyên nhân bởi cuộc sống đầy đủ, tiện nghi
Trang 7- Nghệ thuật đối lập: phòng tối - trăng sáng: tô đẹp vẻ đẹp của ánh trăng hay tấm lòng thủy chung son sắt
- Vốn dĩ sự xuất hiện của trăng thường nhật không hề + việc trăng lên từ từ, không gấp, không nhanh “Trăng từ viễn xứ /Đi khoan thai đến Hải Vân đèo.”, chỉ có con người thấy
trăng đột ngột mà thôi
5 Ánh trăng gợi nhắc trong con người nhiều cảm xúc
“Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng”
- Phép nhân hóa: trăng trở thành một nhân vật một con người đang đối mặt trực tiếp với thi nhân
- “Rưng rưng”: bộc lộ cảm xúc của con người bỗng nghẹn ngào
- Trên bờ mặt câu chữ: mặt người đối diện với mặt trăng mà ở đó trăng vừa là bạn, thủy chung
“Chỉ có trăng sao là bất diệt.” (Hàn Mặc Tử)
- Tầng nghĩa thứ hai:
+ Nhân vật trữ tình đang đối diện với sự vô tình, bạc bẽo để rồi tự thú cho sự bội bạc hay
sự lạnh nhạt của con người đối diện với sự ân tình của ánh trăng hay còn là sự bao dung của ánh trăng dành cho con người
- Hình ảnh ánh trăng vốn rất đẹp trong thơ:
“Trăng nằm sõng soài trên cành liễu
Trang 8Đợi gió đông về để lả lơi”
(Hàn Mặc Tử)
“Cả trời say nhuộm một màu trắng
Và cả lòng tôi chẳng nói rằng
Không một tiếng gì nghe động chạm
Dẫu là tiếng vỡ của sao băng”
(Đà lạt trăng mờ - Hàn Mặc Tử)
- Cấu trúc thơ song hành + biện pháp so sánh + liệt kê + điệp ngữ đầy giai điệu
→ Câu thơ hiện lên đầy giai điệu
→ Quá khứ tuổi thơ cho tới khi trở thành người chiến sĩ được tái hiện 1 cách rất tự nhiên chỉ bằng 2 dòng thơ
“Phải phí tốn nghìn cân quặng chữ Mới thu về một chữ mà thôi Những chữ ấy làm cho rung động Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài”
( )
6 Ánh trăng đánh thức bao suy ngẫm trong con người
“Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắt
đủ cho ta giật mình”
Trang 9- “cứ”: hình ảnh ẩn dụ ánh trăng:
+ Vẻ đẹp bình dị, mộc mạc, vĩnh hằng của thiên nhiên
+ Quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ
- Từ “cứ” khẳng định sự trường tồn mãi mãi, sáng trông tròn đầy của ánh trăng
- “kể chi” nhân hóa: vầng trăng hiện lên đầy đủ với chiều sâu tâm trạng bao dung, độ lượng, biết đó mà không trách cứ, đó là điều đáng trân trọng
- Giong điệu thơ trầm xuống + từ ngữ: kể chi, im phăng phắc tạo ra một khoảng lặng
- Gợi ra một sự phi lý: sự phi lý giữa trạng thái im phăng phắc của ánh trăng và cái giật mình của nhân vật trữ tình:
“Người nhàn hoa quế nhẹ rơi,
Đêm xuân lạnh ngắt trái đồi vắng tanh
Trăng lên, chim núi giật mình
Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi.”
(Vương Duy)
→ Miêu tả chân thật sự im ắng của ánh trăng để nói để nói đến cái giật mình của con người
→ Đó là sự giật mình của một người đầy tội lỗi, mang cảm giác ăn năn, giật mình để tỉnh
ra, để không chìm vào quên lãng, giật mình để biết phải trân trọng quá khứ của mình
“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Trang 10Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói bụng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.”
(Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)
A Dẫn chứng
“Ông trăng tròn sáng tỏ
Soi rõ sân nhà em Trăng khuya sáng hơn đèn
Ơi ông trăng sáng tỏ.”
( Trăng sáng sân nhà em- Trần Đăng Khoa)
“Và vầng trăng, vầng trăng Đất nước vút qua quầng lửa, mọc trên cao.”
( Phạm Tiến Duật - Vầng trăng và quầng lửa)
Ánh trăng tình nghĩa, ánh trăng thiên liêng:
“ Mình về thành thị xa xôi Nhà cao còn nhớ núi đồi nữa chăng Phố đông còn nhớ bản làng Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng.”
_ “Việt Bắc”_
“Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Trang 11Đinh ninh hai miệng một lời song song
Tóc tơ căn vặn tấc lòng Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.”
( Truyện Kiều - Nguyễn Du)
“ Có khi nào trên đường đời tấp nập
Ta vô tình đã đi lướt qua nhau Bước lơ đãng chẳng ngờ đang để mất.”
( “Có khi nào” - Bùi Minh Quốc)
B Bài đọc thêm
Vầng trăng trong thi ca (Ths Lê Tấn Thích)
1 Không biết tự bao giờ, ánh trăng đã là nguồn cảm hứng bất tận muôn đời của các thi sĩ
văn nhân Có thể gọi đấy là mối lương duyên suốt đời mà ông tơ bà nguyệt đã dành cho
họ Trong cảm quan của người nghệ sĩ, trăng không đơn thuần là nguồn sáng trong đêm
mà đã trở thành một hình tượng nghệ thuật độc đáo Ở đó, nó đã trở thành một âm hưởng
đa thanh xoáy sâu vào tâm hồn có sức ám ảnh, khơi gợi cho người đọc nhiều xúc cảm về chiến tranh và hòa bình, hạnh phúc và khổ đau, quê hương và gia đình, tình yêu và thân phận con người
2.Theo quan niệm của người xưa trong văn học trung đại, con người là một "tiểu vũ trụ"
trong lòng "đại vũ trụ", con người và đất trời có thể hòa hợp với nhau trong mối tương cảm,
tương thông (thiên - nhân tương dữ, thiên - nhân tương cảm) Theo đó, trăng trong văn học trung đại không huyền bí xa lạ như trong truyện cổ dân gian (nữ thần Mặt trăng), cũng không bất biến như trong ca dao dân ca (trăng bao nhiêu tuổi trăng già, núi bao nhiêu tuổi
gọi là núi non) của văn học dân gian mà gần gũi, thân thiết với con người Mặt khác, trăng
- với lí tính khách quan của nó - là mang đến ánh sáng mát mẻ huyền diệu cho con người
và cuộc đời trong đêm đen, khi bước vào địa hạt thơ ca đã trở thành một hình tượng nghệ
Trang 12thuật thực sự, được miêu tả khá độc đáo và sắc nét Ở đây, nó đã được các nhà thơ vận dụng trong trường liên tưởng một cách tinh tế, sáng tạo Có thể đấy là tuổi xuân, hạnh phúc,
là vẻ đẹp, niềm vui, là nỗi buồn cô đơn tuyệt vọng, đôi khi là một người bạn, người tình yêu dấu
2.1 Đọc thơ các nhà thơ trung đại, ta thường chứng kiến cảnh những người chinh phụ,
cung nữ, thục nữ hay ngồi một mình vọng trăng, thưởng nguyệt trong đêm dài Trăng ở đây không phải là "trăng viên mãn" tròn đầy, "trăng vàng trăng ngọc" mà là "trăng tàn",
"trăng khuyết", "trăng xẻ làm đôi" Trăng ở đây cũng chính là cuộc đời nhiều dở dang bất hạnh của họ Đó là cảnh nữ sĩ Hồ Xuân Hương trong đêm khuya thanh vắng, một mình
uống rượu mong giải buồn nhưng say rồi lại tỉnh, tỉnh ra lại càng buồn hơn "Vầng trăng
bóng xế khuyết chưa tròn" (Tự tình II) cứ như nhắc nhớ thi nhân rằng tuổi trẻ, tình yêu
đang trôi qua mà nhân duyên chưa trọn vẹn Đó là cảnh nàng Kiều khắc khoải cô đơn trong đêm trường lạnh giá khi chia tay với Thúc Sinh - cũng là vĩnh viễn chia li với hạnh phúc
"chỉ ấm trôn kim" mà nàng vừa có được : "Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc nửa
soi dặm trường" (Truyện Kiều - Nguyễn Du) Đó cũng là cảnh những người cung nữ,
chinh phụ trong những đêm dài xa vắng người thương, nhìn trăng hoa giao hòa quấn quýt
: "Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm/ Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông/ Nguyệt hoa
hoa nguyệt trùng trùng" (Chinh phụ ngâm khúc - Đoàn Thị Điểm dịch) mà thức dậy
những khát khao mãnh liệt về hạnh phúc ái ân chồng vợ - khát vọng đầy tính nhân bản, nhân văn
Có thể nói, trăng hiện lên qua cái nhìn của những người phụ nữ đa tài, đa tình và cũng lắm
đa truân này không có cái lãng mạn, thơ thới, ấm áp giao hòa mà lúc nào cũng vàng rười rượi, cũng "lạnh lẽo buốt xương da", cũng u ám hắt hiu và lắng đượm vẻ buồn - bởi ngoại cảnh đã là tâm cảnh Trăng gợi nhớ hạnh phúc, niềm vui ở họ dẫu có cũng chỉ thảng hoặc thoáng qua trong giây lát, không làm vơi đi vết thương lòng mà càng khắc sâu thêm nỗi tủi
hổ bẽ bàng của phận hẩm duyên ôi Nó như hơi cháo hành của Thị Nở thoang thoảng hiện
ra trong lúc Chí Phèo rơi vào cơn tuyệt vọng cùng cực của tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền
Trang 13làm người Nó như chiếc lá Diêu bông của Hoàng Cầm hiển hiện đấy mà xa vời đấy Nó
hiện ra như để trêu ngươi họ, chọc tức họ, đẩy họ vào nỗi đau đớn tột cùng Nhìn "nguyệt
hoa hoa nguyệt trùng trùng" quấn quýt mà lòng ngổn ngang những khát vọng, bộn bề
những nỗi đau Ngẫm lại thấy mình "loay hoay trong cảnh cô độc giữa đất trời vô tình" mà
cảm thương cho thân phận mình" : "Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng/ Trước hoa dưới
nguyệt trong lòng xiết đau" (Chinh phụ ngâm khúc - Đoàn Thị Điểm dịch) Ánh trăng
Khát vọng và tuyệt vọng Cái chập chờn không biên giới giữa thực và mộng, giữa hạnh phúc và khổ đau, niềm vui và nỗi buồn, đoàn viên và li biệt Càng kiếm tìm càng lẩn trốn Càng đến gần càng lùi xa để cho nỗi lòng khát khao hạnh phúc, tình yêu của những người phụ nữ đa tài, đa tình, đa truân này lâm vào vĩnh viễn đau thương
Có thể thấy, trong các tác phẩm văn học thời kì này, ánh trăng có một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc thể hiện tâm trạng của các nhân vật trữ tình Nó đã trở thành một thứ không
gian nghệ thuật "gắn liền với ý niệm về sự cảm nhận về giá trị của con người , là một
hiện tượng tâm linh nội cảm chứ không còn là hiện tượng địa lí, vật lí " (1) Nó đã được
nội tâm hóa rõ rệt, mang đậm màu sắc tâm trạng và thấm đượm tình cảm con người
2.2 "Có những ngày tuyệt vọng cùng cực", các thi nhân - Nho sĩ, chí sĩ yêu nước - trở về
làng quê với nỗi lòng giông bão mang theo tấn bi kịch của thời đại in dấu trong từng sáng tác của mình Ta thường bắt gặp cảnh các thi nhân hay ngồi một mình trong cô tịch của đêm dài Ẩn tình của những ẩn sĩ bất đắc dĩ Một tấc lòng ưu ái với dân, tận trung với nước
đã không còn hợp thời thế "Đời loạn đi về như hạc độc, tuổi già hình bóng tựa mây
côi" (Nguyễn Khuyến) Tuổi già, sợ cô độc, trốn tránh cô độc, càng cô độc Duy chỉ có
vầng trăng kia như người bạn cố tri đã không dửng dưng trước sự cô quạnh đơn chiếc của thi nhân trong lúc lao lung này Trăng đã chủ động đến với thi nhân để làm dịu đi cái tối tăm trong "năm gian nhà cỏ", "ngõ tối đêm sâu " để tô điểm cho nét thu thêm huyền ảo :
"Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt/ Làn ao lóng lánh bóng trăng loe" (Thu ẩm- Nguyễn
Khuyến) và cũng là để xoa dịu nỗi cô đơn trầm mặc của một nỗi lòng lắm những ưu tư
thời thế : "Nước biếc trông như từng khói phủ/ Song thưa để mặc bóng trăng vào" (Thu