BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH I. Tác giả Là gương mặt tiêu biểu cho thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ qua các hình tượng người lính và cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Thơ mang một giọng điệu riêng: sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, hóm hỉnh, tinh nghịch mà sâu sắc. II. Tác phẩm a) Xuất xứ: Sáng tác năm 1969, khi kháng chiến chống Mỹ đang quyết liệt. Nằm trong chùm thơ của Phạm Tiến Duật được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1969 1970. Sau này được in trong tập “Vầng trăng quầng lửa”. b) Nội dung: Bài thơ đã sáng tạo một hình ảnh độc đáo những chiếc xe không kính, qua đó làm nổi bật hình ảnh người lái xe ở tuyến đường Trường Sơn hiên ngang, dũng cảm, trẻ trung, sôi nổi. III. Nghệ thuật Lựa chọn chi tiết độc đáo, có tính chất phát hiện, hình ảnh đậm chất hiện thực Sử dụng ngôn ngữ đời sống, tạo nhịp điệu linh hoạt, thể hiện giọng điệu ngang tàng, trẻ trung, tinh nghịch. Lời thơ giàu suy tưởng. Bút pháp tả thực, không cường điệu hóa, không cách điệu hóa. IV. PHÂN TÍCH BÀI THƠ 1. Hình ảnh những chiếc xe không kính “Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi” Âm điệu thơ nhẹ nhàng, tự sự như một câu văn xuôi kết hợp điệp ngữ “không có” tạo nên câu thơ dễ thuộc dễ nhớ. Hình ảnh thơ hấp dẫn bởi: chân thật, độc đáo, mới lạ Mới lạ: khi làm thơ viết văn, người ta thường mỹ lệ hóa, cách điệu hóa các sự vật như trong truyện cổ tích thường là hình ảnh các cỗ xe song mã; thơ Tế Hanh “Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã”; hay thơ Huy Cận viết “Thuyền ta lái gió với buồm trăng” mà chưa một ai viết về một hình ảnh rất thật, bình dị. Chân thật: tác giả không sử dụng một bút pháp nào để tráng lệ hóa, hùng vĩ hóa mà chỉ tả thực một cách trần trụi. Độc đáo: Bởi dường như chỉ có Phạm Tiến Duật mới làm điều này. “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi” Nhịp thơ ngắn tạo nên sự khúc khuỷu, trúc trắc. Điệp từ “bom” nhấn mạnh sự hủy diệt tàn khốc 2 tầng nghĩa → người đọc có thể hiểu là nguyên nhân vì sao kính vỡ. Đồng thời người đọc còn có thể nhận ra những mất mát mà người Việt Nam nhận phải do chiến tranh. “Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:”
Trang 1BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH
I Tác giả
- Là gương mặt tiêu biểu cho thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống
Mỹ
- Thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ qua các hình tượng người lính
và cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn
- Thơ mang một giọng điệu riêng: sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, hóm hỉnh, tinh nghịch mà sâu sắc
II Tác phẩm
a) Xuất xứ:
- Sáng tác năm 1969, khi kháng chiến chống Mỹ đang quyết liệt
- Nằm trong chùm thơ của Phạm Tiến Duật được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ
III Nghệ thuật
- Lựa chọn chi tiết độc đáo, có tính chất phát hiện, hình ảnh đậm chất hiện thực
- Sử dụng ngôn ngữ đời sống, tạo nhịp điệu linh hoạt, thể hiện giọng điệu ngang tàng, trẻ trung, tinh nghịch
- Lời thơ giàu suy tưởng
- Bút pháp tả thực, không cường điệu hóa, không cách điệu hóa
Trang 2IV PHÂN TÍCH BÀI THƠ
1 Hình ảnh những chiếc xe không kính
“Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi”
- Âm điệu thơ nhẹ nhàng, tự sự như một câu văn xuôi kết hợp điệp ngữ “không có” tạo nên câu thơ dễ thuộc dễ nhớ
- Hình ảnh thơ hấp dẫn bởi: chân thật, độc đáo, mới lạ
- Mới lạ: khi làm thơ viết văn, người ta thường mỹ lệ hóa, cách điệu hóa các sự vật như trong truyện cổ tích thường là hình ảnh các cỗ xe song mã; thơ Tế Hanh “Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã”; hay thơ Huy Cận viết “Thuyền ta lái gió với buồm trăng”
mà chưa một ai viết về một hình ảnh rất thật, bình dị
- Chân thật: tác giả không sử dụng một bút pháp nào để tráng lệ hóa, hùng vĩ hóa mà chỉ
tả thực một cách trần trụi
- Độc đáo: Bởi dường như chỉ có Phạm Tiến Duật mới làm điều này
“Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”
- Nhịp thơ ngắn tạo nên sự khúc khuỷu, trúc trắc Điệp từ “bom” nhấn mạnh sự hủy diệt tàn khốc 2 tầng nghĩa → người đọc có thể hiểu là nguyên nhân vì sao kính vỡ Đồng thời người đọc còn có thể nhận ra những mất mát mà người Việt Nam nhận phải do chiến tranh
“Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:”
Trang 3- Điệp ngữ “không có” + phép liệt kê một loạt các hình ảnh tả thực “không kính, không đèn, không mui” mà trên những chiếc xe ấy chỉ chằng chịt những vết xước -> Miêu tả sự khốc liệt của bom đạn kẻ thù, sự khó khăn mà người chiến sĩ vận tải Trường Sơn đang phải trải qua Nhịp thơ khúc khuỷu càng thể hiện sự gian nan trên đoạn đường Trường Sơn Liệu rằng Trường Sơn còn đẹp như Phạm Tiến Duật đã từng khẳng định
“Đường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường sơn Đông nối trường sơn Tây”
(Trường sơn Đông, trường sơn Tây)
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước”
- Phụ từ “vẫn” + hình ảnh tả thực xe vẫn chạy mang ý nghĩa khẳng định tư thế tuyệt đẹp của toàn xe vượt qua những mưa bom bão đạn của kẻ thù để vững vàng tư thế
“Nhân danh ai?
- Và chính chiến tranh đã “ám sát” hòa bình và tự do dân tộc
- Luôn hướng về miền Nam và Tố Hữu đã từng khẳng định:
“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”
2 Chân dung người chiến sĩ vận tải Trường Sơn
“Ung dung buồng lái ta ngồi
Trang 4- Tinh thần lạc quan yêu đời
“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái.”
- Điệp ngữ “nhìn thấy” tạo ra nhịp thơ nhịp nhàng, đều đặn cho cả đoạn thơ Các hình ảnh
tả thực: gió, con đường, sao trời, cánh chim khiến cho thiên nhiên thật gần với con người
- Động từ “xoa” nhân hóa mang một ý nghĩa đặc biệt Liệu rằng thiên nhiên đang đồng hành hay cản trở cho những người lính vận tải Trường Sơn
“Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim.”
- Cực tả tốc độ của chiếc xe đi Xe vẫn cứ lao nhanh bởi những người lính vẫn mang lý tưởng cao đẹp của thời đại “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”
“Thấy sao trời và đột ngột cánh chim”
- “Đột ngột”: từ láy
Trang 5- Sự nguy hiểm không chỉ đến từ bom đạn mà còn đến từ thiên nhiên Người chiến sĩ như được trải nghiệm cảm giác mạnh
“Như sa như ùa vào buồng lái”
- Phép so sánh chuyển đổi cảm giác “như sa, như ùa” Không có kính chắn gió, người lính như phải đối diện trực tiếp với những hiểm nguy nhưng những người lính lại xem đó là những trải nghiệm
→ Tất cả những cảm xúc ấy đã khẳng định tuyệt vời trong trái tim người lính: bình tĩnh trước sự khốc liệt của chiến trường, chan chứa niềm yêu đời, yêu thiên nhiên nhưng vẫn kiên cường 1 ý chí ra đi vì sự nghiệp thống nhất đất nước mà Giang Nam đã từng viết:
“Cách mạng bùng lên
Rồi kháng chiến trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ tôi đi”
3 Thái độ coi thường gian khổ, bất chấp, hiên ngang của người lính
“Không có kính ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
Không có kính ừ thì ướt áo
Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi”
- Phép lặp cấu trúc cú pháp một lần nữa khẳng định tính cách ngang tàng, coi thường gian khổ, hiểm nguy của người lính Lời thơ như lời nói thường nhật giản dị khiến cho câu thơ như một câu chuyện Mọi thứ dường như rất nhẹ nhàng dối với những người lính, đây chỉ
Trang 6là cuộc sống hằng ngày rất đỗi bình thường Họ không coi đây là thử thách mà trái lại, đây là những cơ hội để họ thách thức chính mình
- “Bụi phun, mưa tuôn, mưa xối” là những thử thách mà thiên nhiên đặt ra cho những người lính
- “Phì phèo châm điếu thuốc, nhìn nhau cười ha ha, chưa cần thay, mưa ngừng gió lùa khô mau thôi” thể hiện cách đối diện trước những thách thức của người lính mang trong mình những lý tưởng cao đẹp “Để lại trong rừng những gì quý nhất/ Mất mọi thứ để nhân dân không mất” (“Đi trong bão” – Phạm Tiến Duật) Vì tư tưởng ấy luôn tồn tại nên thái
độ bất chấp hiểm nguy của người lính khiến họ “nhớ”
“Cái vết thương xoàng mà đưa viện
Hàng còn chờ đó tiếng xe reo ”
“Hai mươi năm
mưa, nắng, đêm, ngày
Hành quân không mỏi
Sung sướng bao nhiêu: tôi là đồng đội
Của những người đi vô tận, hôm nay ”
(“Đêm ra mặt trận” - Chính Hữu)
4 Niềm vui của những sinh hoạt đời lính
“Những chiếc xe từ trong bom rơi
Ðã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Trang 7Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.”
- Sử dụng phong cách ngôn ngữ sinh hoạt tạo nên sự gần gũi, gắn kết, ấm cúng giữa những người đồng chí, đồng đội Cơ sở gắn kết tình đồng chí: chung nhiệm vụ, chung lý tưởng, chung hoàn cảnh chiến đấu
“Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua của kính vỡ rồi”
→ Niềm vui khi gặp bạn bè và sẵn sàng trao cho nhau những gì mộc mạc nhất, bình dị nhất nhưng đầy yêu thương, đầy hơi ấm tình người bởi có lẽ họ
“Sờ lên ngực nghe trái tim thầm nhắc
Hai tiếng thiêng liêng, hai tiếng “miền Nam”
“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời”
- Bếp Hoàng Cầm là hình ảnh mang tính chất biểu tượng cho sự sáng tạo, thông minh, nhạy bén của người lính Việt Nam “Dựng giữa trời” nghĩa là dựng giữa thanh thiên bạch nhật
“Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”
- Bữa cơm dã chiến chỉ đơn giản là bát canh rau rừng, là lương khô nhưng ở đó lại là một tiểu đội chan chứa tình thương
“Võng mắc chông chênh đường xe chạy”
- Diễn tả cuộc sống chiến đấu đơn sơ, giản dị, xuềnh xoàng mà người lính đang phải trải qua
Trang 8• Trên cái nền là cuộc sống khó khăn nhưng người lính vẫn “lại đi trời xanh thêm”
“Lại đi lại đi trời xanh thêm.”
- Điệp từ “lại đi” đã khẳng định những người thanh niên cộng sản quyết chiến đấu, hy sinh
vì lý tưởng cách mạng cao đẹp
“Tôi chưa chết, nghĩa là chưa hết hận
Nghĩa là chưa hết nhục của muôn đời
Nghĩa là còn tranh đấu mãi không thôi
Còn diệt trừ cả một loài thú độc.”
(Tâm tư trong tù - Tố Hữu)
- “Trời xanh thêm” là hình ảnh ẩn dụ cho hòa bình, cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước hay có phải đâu là mục tiêu chiến đấu của người lính Có phải liệu rằng những tâm thế ấy đã góp phần vào chiến thắng vang dội của dân tộc vào ngày 30/4/1975
5 Niềm tin mạnh mẽ, ý chí của người lính
“Chỉ cần trong xe có một trái tim.”
- “Chỉ cần” thể hiện sự bất chấp khó khăn nguy hiểm từ thiên nhiên: cơn sốt rét rừng, sự khắc nghiệt thời tiết của núi rừng Trường Sơn, sự khúc khuỷu của đoạn đường Hồ Chí Minh huyền thoại và hơn nữa là những mưa bom, bão đạn của kẻ thù “Trong xe là trong những điều kiện khó khăn nhất bởi Đế quốc Mỹ đã “đốt những nhà thương, trường học”,
đã “giết con người chỉ biết yêu thương”, đã “giết trẻ em chỉ biết đến trường”, đã “giết những cánh đồng xanh bốn mùa hoa lá” và đã “giết cả những dòng sông của những thi ca nhạc họa”
* Một trái tim
- Sự kết hợp hoàn hảo của nghệ thuật ẩn dụ và hoán dụ
Trang 9+ Hoán dụ: chỉ hình ảnh những người lính vận tải Trường Sơn vẫn vững vàng tay lái + Ẩn dụ: lý tưởng của người lính Từ đó, hình tượng của người lính mang một vẻ đẹp bất tận mà Lê Anh Xuân đã từng khẳng định:
“Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ
Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường
Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ
Anh là chiến sĩ Giải phóng quân.”
(Dáng đứng Việt Nam)
- Bởi vì tất cả những người lính dù hiểu rằng sau lưng họ là làng quê, phố thi, là người mẹ,
là người vợ đợi chờ nhưng vì mục tiêu chung của thời đại, vì sự nghiệp lớn lao của dân tộc mà họ đành từ biệt vì họ hiểu rằng kẻ thù
“Chúng muốn xé bản đồ ta ra làm hai Tổ quốc
Xé thân thể ta thành máu thịt đôi miền
Xé nhân dân ta thành hai dòng trong đục
Để tâm hồn ta thành khi nhớ khi quên.”
(Đừng quên - Chế Lan Viên)
- Lý tưởng của thời đại lúc bấy giờ
“Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi
Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu”
(Đêm hành quân – Xuân Diệu)
Tài liệu tham khảo
Trang 101 VỀ MỘT CHỮ "XƯỚC"
"Bài thơ về Tiểu đội xe không kính" là một thi phẩm nổi tiếng của nhà thơ Phạm Tiến Duật viết vào những năm chống Mỹ ác liệt nhất của bộ đội ta ở tuyến đường Trường Sơn Bài thơ này đã được đưa vào giảng dạy chính thức trong chương trình Văn học THCS chỉnh lý (1995) Nhiều nhà soạn sách tham khảo cho GV và HS đã viết những bài phân tích, bình giảng công phu về nó Năm 2001, báo Giáo Dục - Thời Đại đã tổ chức một đợt bình thơ trong nhà trường và có hàng chục người tham gia bình bài thơ này Trong hàng chục bài phân tích bình giảng từ trước tới nay về bài thơ, bài viết của giáo sư Trần Đình
Sử đã gây cho chúng tôi những ấn tượng thú vị Giáo sư đã có những phát hiện đáng kể
về nội dung và nghệ thuật bài thơ Tuy nhiên, trong bài viết của mình, GS đã có một ý kiến làm cho chúng tôi băn khoăn Khi phân tích khổ thơ cuối, ông tỏ ý chê Phạm Tiến Duật non tay trong việc dùng chữ xước ở câu thơ "Không có mui xe thùng xe có xước"
Cụ thể, ông viết như sau: "Khổ thơ thứ bảy, kết bài, nêu lên hình ảnh về những thử thách ngày càng nhiều, càng ác liệt Chỉ tiếc chữ "xước" hơi nhẹ quá: " [1-tr 400; 2-tr 150] Qua câu này, chúng ta thấy rằng: nhà phê bình có sự ngập ngừng, lúng túng; tuy chê nhưng lại không dám thẳng thắn nên câu văn mới bị vi phạm lỗi diễn đạt như vậy (trước hoặc sau tính từ "nhẹ" chỉ có thể dùng một trong hai phó từ "hơi" hoặc "quá") Chúng tôi băn khoăn vì hai nhẽ: một là, chẳng nhẽ một người viết có học vấn ngữ văn ở trình độ đại học, một nhà thơ vốn được coi là "một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ trẻ những năm kháng chiến chống Mỹ " [3-Tiểu dẫn, tr 42] như anh Duật lại hớ hênh, cẩu thả đến thế sao? Hai là, chẳng nhẽ bộ GD-ĐT lại chọn vào chương trình Văn học phổ thông một sản phẩm văn chương có tỳ vết về câu chữ như vậy cho học sinh học hay sao? Nói thế, chắc có người sẽ bắt bẻ: ôi dào, ông chỉ hay vẽ chuyện, như con người là sản phẩm kỳ diệu của tạo hoá mà đến bậc vĩ nhân còn "nhân vô thập toàn" huống hồ văn chương là thứ "tự cổ vô bằng cứ "? Xin thưa: nếu là vấn đề nội dung tư tưởng, vấn đề các lớp nghĩa sâu xa, ẩn tàng, trừu tượng ở tầng siêu ngôn ngữ của văn bản thì có thể nói như vậy, nhưng đây lại là vấn đề chữ nghĩa, vấn đề ở tầng biểu đạt nội dung sự vật, sự kiện
mà theo như cách nói ở trên của GS-TS Trần Đình Sử, chuyên gia hàng đầu của ngành lý
Trang 11luận văn học nước nhà hiện nay, thì bài thơ này còn đâu là mẫu mực về sự chính xác, trong sáng, hay ho, đẹp đẽ của tiếng Việt để mà dạy cho học trò? Bởi tuy là tỳ vết đó nằm
ở một chữ, nhưng trong tính tương tác hệ thống của toàn bộ câu chữ bài thơ, trên mọi cấp
độ ngôn từ, thì hậu quả của nó là "con sâu làm rầu nồi canh" Trong lịch sử văn học nhân loại đã có nhiều giai thoại cho hay: có khi chỉ vì thay đổi một chữ mà quyết định cả vận mệnh một bài thơ Hẳn người đọc yêu văn học Trung Hoa, không mấy người là không biết câu chuyện nhà thơ Trịnh Cốc đời Đường đã sửa cho nhà sư Tề Kỷ chữ sổ thành chữ nhất, khiến bài thơ "Tảo mai" của Tề Kỷ trở nên nổi tiếng và Tề Kỷ đã cúi đầu bái tạ mà gọi Trịnh Cốc là "nhất tự sư" (thấy một chữ)
Kỳ thực, ban đầu, chúng tôi đã chia sẻ với ý kiến trên của GS Trần trong một tâm trạng bức xúc như thế Nhưng sau đọc kỹ bài thơ nhiều lần, lắng nghe thật rõ âm hao của nó, thì lại ngờ ngợ Chúng tôi bèn đọc lại tập "Vầng trăng và những quầng lửa" (Nxb Văn học 1983), tuyển những bài thơ anh Duật viết chủ yếu trong giai đoạn ở Trường Sơn thì biết chắc rằng mình nhầm Phong cách thơ Phạm Tiến Duật, như nhiều nhà nghiên cứu
đã xác nhận, là tinh nghịch, tếu táo mà lại rất có duyên Trong cấu tứ, anh chú ý nhiều đến các nghịch lý được phát hiện trong cuộc sống Cách nói tưng tửng cứ như không trước mọi sự kiện, vấn đề trọng đại kết hợp với tứ thơ được xây dựng bằng nghịch lý có sức ám người đọc ghê gớm Hẳn người đọc một thời chưa quên được những câu thơ thú
vị này của anh:
"Thế đấy, giữa chiến trường
Nghe tiếng bom rất nhỏ"
(Tiếng bom ở Seng Phan)
"Bao nhiêu người làm thơ Đèo Ngang
Mà không biết con đèo chạy dọc"
(Đèo Ngang) Như vậy, cần phải hiểu câu chữ của Phạm Tiến Duật trong cái trường phong cách nói trên của anh Phong cách là một yếu tố siêu ngôn ngữ, chi phối một cách có ý thức và
cả vô thức đối với mọi sự lựa chọn phương tiện và phương thức nghệ thuật của người
Trang 12viết Trong lịch sử văn học, có một thực tế sau đây: có những phương tiện ngôn từ, khi xét trong tổ chức ngôn ngữ bình thường của văn bản thì tầm thường, phi lý nhưng
nó lại phi thường, lại rất có lý khi xét trong trường phong cách, trong cấp độ siêu ngôn ngữ Với cái chữ xước "phiền hà" của anh Duật cũng vậy Trước hết, xét về ngữ cảnh câu thơ thì việc dùng chữ xước quả là khó chấp nhận Chiếc xe không kính, không đèn, không mui vì bom đạn kẻ thù đã bao lần băm xé thì chắc chắn cái thùng
xe khó bề nguyên vẹn đến mức chỉ có xước, tức là bị sây sát nhẹ, không đáng kể Và cũng trong ngữ cảnh này, nghĩa của chữ xước chỉ có thể hiểu như vậy cả về tiền giả định và nghĩa tường minh Vị chuyên gia thi pháp học đã dựa trên những căn cứ ấy để
"tiếc" cho nhà thơ của bộ đội Trường Sơn Với cách hiểu theo lô-gích cuộc sống như thế, thì cái chữ "xước" đó hoàn toàn phi lý Tuy nhiên, có ba lý do khiến chúng tôi tin rằng đây không phải là sự lỡ tay của một người thợ lành nghề Thứ nhất, Phạm Tiến Duật sáng tác bài thơ này khi anh đã thực sự trưởng thành về mọi mặt trong nghề thơ Thứ hai, bài thơ này đã được in đi in lại nhiều lần trong nhiều tuyển tập và cũng đã hơn một lần được nhiều người phân tích bình giảng Thứ ba, nó lại không có khả năng rơi vào trường hợp bị nhầm lẫn tai hại về chính tả nhiều năm như một chữ trong thơ của Tố Hữu "Người đi quần (quấn) áo chen chân"(Tiếng hát đi đày) Vậy có phải do tác giả bí vần mà dùng chữ xước hay không? Trong quá trình sáng tác, đúng là có nhiều trường hợp do bí vần, nhất là thơ luật, và tác giả lại là người quá câu nệ, nên dùng chữ rất ép Song Phạm Tiến Duật và bài thơ này thì lại không nằm trong tiền lệ trên Thơ anh chủ yếu viết theo thể tự do, nặng về điệu nói nhưng rất giàu nhạc điệu
Có điều nhạc điệu đó không phải chủ yếu là do vần mà là do anh triệt để vận dụng nguyên lý song hành trong việc tổ chức dòng thơ, câu thơ, khổ thơ kết hợp với việc ngắt nhịp theo lối điệp cấu trúc đặng tạo nên Vả chăng đây lại là khổ thơ kết nên việc tăng cường nhạc tính (trong đó có việc bắt vần) là rất cần thiết
Mặt khác, việc dùng chữ trước để kết thúc dòng thơ tiếp sau "Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước"là tất yếu, là yếu tố cố định hoá trước cho sự hình thành một bộ phận của một cấu trúc Đó chính là tiêu vận mà dòng thơ trước phải theo Cứ theo ý kiến
Trang 13của GS Trần Đình Sử mà giả định rằng việc dùng chữ xước là non tay thì Phạm Tiến Duật còn những khả năng lựa chọn nào nữa không? Còn! Còn một khả năng: đó là từ rách tướp, khả dĩ đáp ứng về yêu cầu âm vận và xét về khả năng biểu đạt theo hướng cấu trúc hoá thực tại khách quan thì cao hơn từ xước nhiều Đây là những từ dùng thường xuyên đầu cửa miệng của cánh lính lúc bấy giờ, nhà thơ lại là người trong cuộc nên chẳng cần phải vò đầu, bứt râu tìm kiếm Một con người thông minh, giàu vốn sống chiến trường, mẫn cảm và sắc nhọn ngôn từ như Phạm Tiến Duật thì khi lựa chọn câu chữ ắt phải nghĩ đến từ này (rách tướp) Vậy mà Phạm lang vẫn dùng chữ xước Chắc là phải có cơn cớ chi đây? Thực ra, bài thơ có tính hiện thực cao, nhưng không phải câu chữ nào cũng mang tính hướng ngoại Với chữ xước cũng vậy, Phạm Tiến Duật không nhằm mô tả tình trạng khách quan của cái thùng xe mà cái đích của chữ này là bày tỏ một thái độ Đó chính là thái độ bất chấp, ngang tàng của anh bộ đội
cụ Hồ thời chống Mỹ Về chức năng nghệ thuật, với chữ này tác giả đã bổ sung thêm một nét phục bút do chính anh đã kỳ công đặt vào dòng cuối ở khổ thơ thứ nhất: "Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng" Người lái xe nhìn thẳng, "con đường chạy thẳng vào tim" Chính cái nhìn ấy đã tạo nên không khí lạc quan, hội hè trong bài thơ này cũng như trong các bài thơ thời chống Mỹ khác của Phạm Tiến Duật Cái "nhìn
thẳng" đó đồng thời cũng là cái nhìn bất chấp mọi gian khổ, hiểm nguy
Bởi thế, chiếc xe trần trụi đến mức trông rất tiếu lâm đó "Lại đi, lại đi trời xanh
thêm" Thiển nghĩ, nếu tác giả dừng lại ở dòng thơ này thì cũng có thể dứt lời, đạt ý
để tạo thành một bài thơ hay Nhưng cuộc chiến vĩ đại chống Mỹ đã nâng dân tộc ta lên vị trí cao nhất trên tầm thời đại, cho nên bên cạnh cái phong cách ung dung, thích thản nhiên như đi trẩy hội của người ra trận, trong thơ kháng chiến đương thời, còn đậm một nét phong cách nữa là thích triết lý, hay khái quát hoá Và "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" có lẽ là sự thể hiện xuất sắc của quy luật trên Lẽ thường, khái quát hoá dễ dẫn đến khô khan, nặng nề Trong khi đó, qua sáu khổ thơ, ngòi bút của tác giả đã tung tẩy đưa tiểu đội xe không kính đi qua Trường Sơn gian khổ, ác liệt một cách hồn nhiên, nhẹ nhàng Nếu khổ kết lại chính luận, lại hô hào thì bài thơ
Trang 14hỏng mất! Và Phạm quân đã chọn được cách nói quá hay, rất hợp lý, hợp khí, khiến cho huyết mạch bài thơ lưu thông mạnh mẽ, nội lực thẩm mỹ-tư tưởng bài thơ càng phát sinh dồi dào Đó là lối nói bồi thần: nhắc lại, có thể bằng hình thức diễn đạt khác, để nhấn mạnh những ý cơ bản đã được triển khai trong phần trước của văn bản Tuy nhiên, nếu không có nét phục bút bổ sung nói trên, thì sẽ không thực hiện được lỗi kết bồi thân này Bởi sau chổ phục bút ở khổ thơ đầu thì năm khổ tiếp theo tác giả
đã tung hoành khởi bút triển khai tứ thơ một cách toàn diện, đầy đủ Bây giờ nếu chỉ
là sự tóm tắt ý tứ (dẫu rất hình ảnh) một cách đơn thuần thì thực là vô duyên Tác giả tiến hành giải quyết mâu thuẫn này trước hết bằng thao tác đối lập hoá, tương phản hoá giữa cái không và cái có
Để nhấn mạnh cái ác liệt của cuộc chiến, tác giả trương ra hình ảnh chiếc xe với ba cái không Dù tàn tạ đến đâu nhưng những chiếc xe ấy còn thực hiện được chức năng tải hàng của chúng thì dứt khoát chúng phải có thùng Thực tế, những chiếc xe tải thời chiến này không mấy chiếc thùng không bị rách nát Tác giả buộc phải nói giảm là có xước cho phù hợp với lối nói tưng tửng, tếu táo trong toàn bài Ngoài ra, cách nói khinh từ từ đó còn nhằm gây hiệu ứng thẩm mỹ trong sự tương tác với chính những cái không nói trên Ấy chính là hiệu ứng lạ hoá do sự phi lý, xét theo cách hiểu thông thường, tạo nên Cái làm nên hình ảnh trọn vẹn về chiếc xe ô tô quan trọng nhất là kính, đèn, mui nhưng nay nó chỉ còn mỗi cái ca-bin trống huếch, trống hoác trông như chiếc xe thổ mộ thì rõ ràng cái thùng có xước hay rách tướp, dập nát nào có đáng
để ý gì Chính từ cái ẩn ý này, nhà thơ đã khởi bút để nêu bật mục đích và động lực của chiếc xe:
"Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim."
Như vậy, cái nhìn thẳng ở khổ thơ đầu đến đây đã lộ hình tích: con đường chạy thẳng vào tim là bởi chiếc xe độc đáo này do trái tim cầm lái Kết cấu chung của bài thơ là đầu cuối tương ứng, suốt dọc từng câu thơ, khổ thơ luôn có sự hô ứng, phục khởi, luyến láy, hồi hoàn Riêng nét phục bút bổ sung và lối kết bồi thần ở khổ thơ cuối vừa