1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tổng quan chung Phân tích tác phẩm Cảnh Ngày Xuân

16 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 286,46 KB
File đính kèm CẢNH NGÀY XUÂN.pdf.zip (263 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CẢNH NGÀY XUÂN 1. Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần đầu “Truyện Kiều”. Sau khi giới thiệu gia cảnh và tài sắc chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du trình bày bối cảnh Thúy Kiều gặp nấm mồ Đạm Tiên và gặp Kim Trọng. Đó là cảnh ngày xuân trong tiết Thanh minh, chị em Kiều đi chơi xuân. Cảnh ngày xuân cứ hiện dần ra theo trình tự cuộc “bộ hành chơi xuân” của chị em Thúy Kiều. 2. Bố cục đoạn trích: Bốn câu đầu: Khung cảnh mùa xuân Tám câu tiếp: Khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh Sáu câu cuối: Cảnh chị em Kiều du xuân trở về. 3. PHÂN TÍCH TÁC PHẨM a. Khung cảnh mùa xuân: “Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi. Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.” Hai câu thơ đầu vừa gợi tả thời gian, vừa gợi tả không gian mùa xuân: + Câu thơ thứ nhất “Ngày xuân con én đưa thoi” vừa tả không gian: ngày xuân, chim én bay đi bay lại, chao liệng như thoi đưa; vừa gợi thời gian: ngày xuân trôi nhanh quá, tựa như những cánh én vụt bay trên bầu trời. + Câu thơ thứ hai “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” vừa gợi thời gian: chín chục ngày xuân mà nay đã ngoài sáu mươi ngày (tức là đã qua tháng giêng, tháng hai và đã bước sang tháng ba); vừa gợi không gian: ngày xuân với ánh sáng đẹp, trong lành (thiều quang). Hai câu thơ sau là một bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân với hai sắc màu xanh và trắng: + Chữ “tận” mở ra một không gian bát ngát, thảm cỏ non trải rộng đến tận chân trời làm nền cho bức tranh xuân. + Trên nền màu xanh non lấy điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng. Không gian như thoáng đạt hơn, trong trẻo, nhẹ nhàng và thanh khiết hơn. Chỉ bằng một từ điểm, nhà thơ đã tạo nên một bức tranh sinh động hơn, cảnh vật có hồn hơn, chứ không tĩnh tại, chết đứng. Cách thay đổi trật tự từ trong câu thơ làm cho màu trắng hoa lê càng thêm sống động và nổi bật trên cái nền màu xanh bất tận của đất trời cuối xuân. => Mùa xanh của cỏ non và sắc trắng của hoa lê làm cho màu sắc có sự hài hòa tới mức tuyệt diệu. Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: mới mẻ, tinh khôi, tràn đầy sức sống (cỏ non); khoáng đạt, trong trẻo (xanh tận chân trời); nhẹ nhàng, thanh khiết (trắng điểm một vài bông hoa). => Bằng một vài nét chấm phá, Nguyễn Du đã phác họa nên một bức tranh xuân sinh động, tươi tắn và hấp dẫn lòng người. b. Khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh: “Thanh minh trong tiết tháng ba Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh. Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm. Ngổn ngang gò đống kéo lên,

Trang 1

CẢNH NGÀY XUÂN

1 Vị trí đoạn trích:

- Đoạn trích nằm ở phần đầu “Truyện Kiều” Sau khi giới thiệu gia cảnh và tài sắc chị

em Thúy Kiều, Nguyễn Du trình bày bối cảnh Thúy Kiều gặp nấm mồ Đạm Tiên và gặp Kim Trọng Đó là cảnh ngày xuân trong tiết Thanh minh, chị em Kiều đi chơi xuân Cảnh ngày xuân cứ hiện dần ra theo trình tự cuộc “bộ hành chơi xuân” của chị em Thúy Kiều

2 Bố cục đoạn trích:

- Bốn câu đầu: Khung cảnh mùa xuân

- Tám câu tiếp: Khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh

- Sáu câu cuối: Cảnh chị em Kiều du xuân trở về

3 PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

a Khung cảnh mùa xuân:

“Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”

- Hai câu thơ đầu vừa gợi tả thời gian, vừa gợi tả không gian mùa xuân:

+ Câu thơ thứ nhất “Ngày xuân con én đưa thoi” vừa tả không gian: ngày xuân, chim én bay đi bay lại, chao liệng như thoi đưa; vừa gợi thời gian: ngày xuân trôi nhanh quá, tựa như những cánh én vụt bay trên bầu trời

+ Câu thơ thứ hai “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” vừa gợi thời gian: chín chục ngày xuân mà nay đã ngoài sáu mươi ngày (tức là đã qua tháng giêng, tháng hai và

Trang 2

đã bước sang tháng ba); vừa gợi không gian: ngày xuân với ánh sáng đẹp, trong lành (thiều quang)

- Hai câu thơ sau là một bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân với hai sắc màu xanh và trắng: + Chữ “tận” mở ra một không gian bát ngát, thảm cỏ non trải rộng đến tận chân trời làm nền cho bức tranh xuân

+ Trên nền màu xanh non lấy điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng Không gian như thoáng đạt hơn, trong trẻo, nhẹ nhàng và thanh khiết hơn Chỉ bằng một từ "điểm", nhà thơ đã tạo nên một bức tranh sinh động hơn, cảnh vật có hồn hơn, chứ không tĩnh tại, chết đứng Cách thay đổi trật tự từ trong câu thơ làm cho màu trắng hoa lê càng thêm sống động và nổi bật trên cái nền màu xanh bất tận của đất trời cuối xuân

=> Mùa xanh của cỏ non và sắc trắng của hoa lê làm cho màu sắc có sự hài hòa tới mức tuyệt diệu Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: mới mẻ, tinh khôi, tràn đầy sức sống (cỏ non); khoáng đạt, trong trẻo (xanh tận chân trời); nhẹ nhàng, thanh khiết (trắng điểm một vài bông hoa)

=> Bằng một vài nét chấm phá, Nguyễn Du đã phác họa nên một bức tranh xuân sinh động, tươi tắn và hấp dẫn lòng người

b Khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh:

“Thanh minh trong tiết tháng ba

Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh

Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm

Ngổn ngang gò đống kéo lên,

Trang 3

Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.”

- Trong tiết Thanh minh có hai hoạt động diễn ra cùng một lúc: đi tảo mộ ( lễ) và đi chơi xuân ở chốn đồng quê (hội)

- Tác giả sử dụng một loạt các từ hai âm tiết (cả từ ghép và từ láy) để gợi lên không khí lễ hội thật tưng bừng, rộn rã:

+ Các danh từ: “yến anh”, “chị em”, “tài tử”, “giai nhân”, “ngựa xe”, “áo quần” … -> Gợi tả sự đông vui, nhiều người cùng đến hội

+ Các động từ: “sắm sửa”, “dập dìu” …

-> Gợi tả sự rộng ràng, náo nhiệt của ngày hội

+ Các tính từ: “gần xa”, “nô nức” …

-> Tâm trạng của người đi hội

- Cách nói ẩn dụ: “Gần xa nô nức yến anh” gợi lên hình ảnh những nam thanh nữ tú, những tài tử giai nhân, từng đoàn người nhộn nhịp đi chơi xuân như chim én, chim oanh bay ríu rít

- Qua cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du đã gợi lên một tập tục, một nét đẹp truyền thống của văn hóa lễ hội xa xưa Các tài tử giai nhân vui xuân mở hội nhưng không quên những người đã mất:

“Ngổn ngang gò đống kéo lên Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.”

c Cảnh chị em Kiều du xuân trở về:

“Tà tà bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dan tay ra về

Bước dần theo ngọn tiểu khê,

Trang 4

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh

Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.”

- Cuộc vui nào rồi cũng đến hồi kết thúc Sáu câu thơ cuối là cảnh chị em Thúy Kiều ra về khi trời đã xế chiều và hội đã tan

- Cảnh vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân: nắng nhạt, khe nước nhỏ, một nhịp cầu nhỏ bắc ngang Mọi chuyển động đều nhẹ nhàng: mặt trời từ từ ngả bóng về tây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn quanh Tuy nhiên, không khí nhộn nhịp, rộn ràng của lễ hội không còn nữa, tất cả đang nhạt dần, lặng dần

- Những từ láy “tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao” … không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật

mà còn bộc lộ tâm trạng con người Cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui xuân đang còn mà sự linh cảm về điều sắp xảy ra đã xuất hiện “Nao nao dòng nước uốn quanh” báo trước ngay sau lúc này, Kiều sẽ gặp nấm mồ Đạm Tiên và chàng thư sinh Kim Trọng

*Tài liệu tham khảo

Đề bài: Phân tích, so sánh cảnh mùa xuân trong câu thơ cổ Trung Quốc: “Phương thảo

liên thiên bích – Lê chi sổ điểm hoa” (Cỏ thơm liền với trời xanh – Trên cành lê có mấy bông hoa) với cảnh mùa xuân trong câu thơ Kiều của Nguyễn Du: “Cỏ non xanh tận chân trời – Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Tham khảo câu trả lời sau:

xuân, có hương vị, màu sắc, đường nét Đó là hương thơm của cỏ non (phương thảo) Đó

là màu xanh mướt của cỏ, tiếp nối với màu xanh ngọc của cả chân trời, mặt đất đều “một màu xanh xanh” (liên thiên bích) Đó còn là đường nét của cành lê thanh nhẹ điểm vài bông hoa (sổ điểm hoa) Cảnh đẹp mà dường như tĩnh tại

Trang 5

Hai câu thơ trong “Truyện Kiều”: “Cỏ non xanh tận chân trời – Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” là bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân Gam màu làm nền cho bức tranh xuân là thảm cỏ non trải rộng tới chân trời Trên nền màu xanh non ấy điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng Câu thơ cổ Trung Quốc chỉ nói cành lê điểm một vài bông hoa mà không nói tới màu sắc của hoa lê Nguyễn Du chỉ thêm một chữ “trắng” cho cành lê mà bức tranh mùa xuân đã khác Trong câu thơ của Nguyễn Du, chữ “trắng” trở thành điểm nhấn, làm nổi bật thần sắc của hoa lê Mùa xuân của cỏ non và sắc trắng của hoa lê làm cho màu sắc có sự hài hòa tới mức tuyệt diệu Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống (cỏ non); khoáng đạt, trong trẻo (xanh tận chân trời); nhẹ nhàng, thanh khiết (trắng điểm một vài bông hoa)

Dẫn chứng:

+ Tài năng tả cảnh của cụ Nguyễn Du (với bốn mùa)

Mùa xuân:

“Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”

Mùa hạ:

“Dưới trăng quyên đã gọi hè Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông.”

Mùa thu:

“Long lanh đáy nước in trời Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng.”

Mùa đông:

“Sen tàn cúc lại nở hoa Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân.”

Trang 6

+ Mùa xuân trong thơ ca Việt:

“Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý Bóng xuân sang.”

_Mùa xuân chín_Hàn Mặc Tử_

“Ôi tiếng hót vui say con chim chiền chiện Trên đồng lúa chiêm xuân chao mình bay liệng

Xuân ơi xuân, vui tới mông mênh Biển vui dâng sóng trắng đầu ghềnh”

_Bài ca mùa xuân 1961_Tố Hữu_

Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

_Vội vàng_Xuân Diệu_

Luống đất thơm hương mùa mới dậy, Bên đường chân rộn bước trai tơ

Cây xanh cành đẹp xuoi tay với;

Trang 7

Sông mát tràn xuân nước đậm bờ

_Xuân_Huy Cận_

Bài đọc thêm

1.CẢM THỨC THỜI GIAN QUA NHỮNG VẦN THƠ XUÂN CỦA NGUYỄN DU

Có lẽ người Việt nào cũng từng quen thuộc với những câu lục bát tả cảnh mùa xuân trong Truyện Kiều:

“Cỏ non xanh rợn chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”

Đó là mùa xuân với thiên nhiên tươi đẹp, trong sáng tràn đầy sức sống, cõi người cũng rộn ràng chen chúc lễ hội:

“Dập dìu tài tử, giai nhân,

Ngựa xe như nước áo quần như nêm.”

Mùa xuân trong cái nhìn của Nguyễn Du cũng còn có những sắc điệu khác, với cái nhìn u hoài, hư tĩnh, với những cảm nhận tinh tế về nhịp điệu chuyển vần của thời gian và đất trời Dường như, mùa xuân đến với Nguyễn Du, trước hết chính là một biểu hiện cho vòng quay bất tận của thời gian:

“Sen tàn cúc lại nở hoa

Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân”

Người đọc Nguyễn Du đã quen với cách nói “ngày xuân, tình xuân, đêm xuân, cành xuân, …” để ám chỉ đời người trong Truyện Kiều Người đọc cũng chứng kiến tâm trạng ngậm ngùi và hoài cảm cùng với xuân trong thơ chữ Hán Tố Như Có những mùa xuân lưu lạc tha hương, những mùa xuân lữ thứ nơi đất khách Có những ngày đón xuân trong

Trang 8

thiếu thốn và bệnh tật Và có cả những tâm tư sâu thẳm trong lòng thi nhân khi chứng kiến bước chuyển mình của đất trời và những thiên di của đời người

“Hoạn khí kinh thời hộ bất khai, Thuân tuần hàn thử cố tương thôi

Tha hương nhân dữ khứ niên biệt, Quỳnh Hải xuân tòng hà xứ lai?

Nam Phố thương tâm khan lục thảo Đông hoàng sinh ý lậu hoàng mai…”

(Xuân nhật ngẫu hứng) Vẫn biết bước đi của tự nhiên là đông qua xuân tới, hạ về thu sang, nóng rồi lại lạnh, lạnh rồi đến nóng, thế mà tâm hồn nhạy cảm của thi nhân vẫn chợt hỏi một cách ngây thơ rằng không biết mùa xuân từ đâu đến Năm đã trôi qua tự lúc nào mà ý xuân đã bừng nở trên những cánh mai vàng:

“Quanh năm khép cửa tránh thời Xoay vần lạnh nóng tiết trời chuyển trao Một năm đất khách nhường bao Biết đâu Quỳnh Hải phương nào xuân sang?

Cỏ buồn Nam Phố xanh xanh Chúa xuân điểm ý trên cành hoàng mai…”

Rồi bất chợt, trong thoáng chốc mùa xuân chợt đến bất ngờ ấy, là hình ảnh ông lão hàng xóm say sưa đi mãi ra tận ngôi miếu đầu thôn, quên mất đường về, dường như quên lãng

cả thời gian:

“Lân ông bôn tẩu thôn tiền miếu

Trang 9

Đẩu tửu song cam túy bất hồi.”

“Quên về chuếnh choáng miệt mài

Cụ hàng xóm đã say ngoài đầu thôn.”

(Xuân nhật ngẫu hứng)

Cơn say của ông lão hàng xóm trong mùa xuân ấy là một hình ảnh bình dị mà Nguyễn Du

đã để lại trong bài thơ “ngẫu hứng ngày xuân” của mình Bởi lẽ nhắc đến mùa xuân

không thể không nhắc đến rượu Hơn nữa, trong những ngày xuân say tràn trề với nỗi đau đời và cô độc, thi nhân càng cảm nhận rõ rệt bước đi của thời gian:

“Phù tọa nhàn song túy nhãn khai, Lạc hoa vô số há thương đài

Sinh tiền bất tận tôn trung tửu,

Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi?

Xuân sắc niệm thiên hoàng điểu khứ, Niên quang ám trục bạch đầu lai…”

(Đối tửu) Thi nhân mở đôi mắt còn trong cơn say của mình nhìn lớp lớp hoa rơi trên thềm rêu xanh Thi nhân dường như mong rằng mình có thể cứ uống mãi và say mãi Nhưng cái say này

là cái say rất tỉnh Bằng đôi mắt say, nhà thơ nhìn thấy cuộc đời, nhìn thấy cả sự biến đổi của thời gian:

“Bên sông bừng mắt rượu say, Mang mang hoa rụng đã dày rêu xanh

Giữa đời quên rượu trong bình, Dưới mồ ai kẻ nhớ mình nâng ly

Trang 10

Xuân qua hoàng điểu bay đi, Tháng năm đưa đẩy đến thì tóc phai ”

Lúc này không uống cho say thì chết rồi biết có kẻ nào đến mà rưới rượu lên mồ Tuy là một cách nói ngông nghênh và bất cần nhưng cũng không khỏi gợi lên chút buồn dự cảm

về số phận cô độc Mà đó phải chăng là cách nhà thơ muốn nói, đời người ngắn ngủi, tháng năm trôi qua trong thoáng chốc, phải biết trân trọng và biết sống những ngày tháng của nhân gian

Cuộc đời trải qua những ngày lữ thứ nơi đất khách, nhìn thấy vẻ đẹp mùa xuân rạng rỡ qua ánh trăng Thượng nguyên đang tỏa sáng giữa trời, nhà thơ không khỏi chạnh lòng Vẫn biết là trời đất rất đẹp, trăng rất đẹp như muôn đời vẫn thế, vẫn biết rằng có những gia đình đang sống hạnh phúc, yên bình giữa tiết xuân mới mẻ

“Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên,

Y y bất cải cựu thiền quyên

Nhất thiên xuân hứng thùy gia lạc,

Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên.”

(Quỳnh Hải nguyên tiêu)

Cám cảnh mình là một người bơ vơ, lang thang góc bể chân trời, sống nơi đất khách, thi nhân tự hỏi ánh trăng xuân rạng ngời đẹp tươi khắp đất trời ấy sẽ soi chiếu vào vào nhà ai?

“Rằm xuân sân vắng nguyệt làu làu,

Nét cũ thiền quyên chẳng đổi màu

Xuân hứng nhà ai tràn đổ trút,

Đêm này tỏa rạng trọn Quỳnh Châu.”

Trang 11

Hỏi là hỏi vậy, nhưng trong tâm hồn nhà thơ, cái đẹp vẫn là điều trân quý Ánh trăng soi giữa trời kia cũng soi vào tâm hồn thi nhân Đối với thi nhân, vầng trăng là người bạn tri

âm, gặp gỡ nhau trong cảnh xa xôi luân lạc: “Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến.” (Ở bước đường cùng, ta và trăng thương cảm nhìn nhau)

Tuy vậy, cảnh nghèo, khổ sở và vất vả ở nơi đất khách, cũng không ngăn cản nhà thơ nhận ra rằng một mùa xuân mới lại vừa đến:

“Trì thảo vị lan thiên lý mộng,

Đình mai dĩ hoán nhất niên xuân

… Nhân tự tiêu điều xuân tự hảo,

Đoàn thành thành hạ nhất triêm cân.”

(Xuân tiêu lữ thứ)

Ở nơi đất khách, Nguyễn Du không nguôi nhớ thương về các anh em xa cách của mình, thời gian trôi qua, hoa mai trước sân đã báo tin xuân Giữa đất trời chuyển mình đầy mới

mẻ, nhà thơ không khỏi ngậm ngùi rơi lệ:

“Mộng ngàn dặm vẫn chưa tan, Trước sân mai thắm vô ngần tân xuân

… Người buồn xuân cứ đẹp tươi, Đẫm khăn ai thấm lệ rơi dưới thành.”

(Đêm xuân quán khách)

Rồi cũng có những mùa xuân không có giọt rượu nào để đón cảnh “Thanh minh trong tiết tháng ba”, thi nhân tự buồn thương cho chính mình:

“Đông phong trú dạ động giang thành,

Nhân tự bi thê thảo tự thanh

Trang 12

Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng,

Thiên nhai vô tửu đối thanh minh

(Thanh minh ngẫu hứng)

Đêm ngày gió thổi động giang thành,

Người tự buồn thương, cỏ tự xanh

Xuân tiết chiếc thân đâu trẻ tráng,

Chân trời không rượu đón thanh minh.”

(Ngẫu hứng ngày Thanh minh)

Những đêm xuân nằm bệnh nơi đất khách, cũng là nỗi đau mà nhà thơ từng trải qua:

“Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm Tiểu song khai xứ liễu âm âm

Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu, Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm.”

(Xuân dạ)

“Đêm đen ánh sáng tìm đâu, Ngỏ song bóng liễu thâm u phủ màu

Giang hồ mang bệnh đã lâu, Xuân nương mưa gió đêm sâu đằm đằm.”

(Đêm xuân)

Dù trải qua những ngày xuân như thế nào, đau buồn, bệnh tật, nghèo đói, luân lạc thì tâm hồn thi nhân vẫn không khỏi bị mùa xuân lôi cuốn Vẫn không khỏi có lúc thốt lên rằng: “Nhất niên xuân sắc cửu thập nhật,

Trang 13

Phao trịch xuân quang thù khả liên.”

(Mộ xuân mạn hứng)

“Xuân sắc một năm chín chục ngày,

Xuân quang phung phí đáng thương thay.”

(Cảm hứng lan man cuối xuân)

Đó là nỗi tiếc nuối thời gian, khi mỗi năm cũng chỉ có chín mươi ngày xuân mà thôi Phải chăng cảm thức về thời gian và sự tàn phai của đời người ngay trong những ngày xuân sắc chính là suy tư của chính tâm hồn thi nhân

Bởi thi nhân là những người nhạy cảm với thời gian, với biến thiên nhiều nhất, dù là xuân, hạ hay thu, đông

Nguồn: Khoa Văn Học

| Bức tranh mùa xuân | trong Cảnh ngày xuân

+ PGS TS NGUYỄN HỮU SƠN

Đoạn trích Cảnh ngày xuân có 18 câu thơ, thuộc phần đầu Truyện Kiều, nối tiếp ngay sau đoạn tả tài sắc chị em Thuý Kiều, tập trung tả cảnh ngày xuân trong tiết Thanh minh và cảnh du xuân của chị em nhà họ Vương Có thể nói cảnh xuân ở đoạn thơ nghiêng về cái nhìn “vị nghệ thuật”, hướng tới cảm nhận cái đẹp tự thân của thiên nhiên và sự sống, chỉ mới bước đầu bộc lộ tâm trạng các nhân vật

Trong tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, đoạn này được diễn tả với nhiều chi tiết, có thêm Vương Quan và những lời đối đáp kể về nấm mộ và cuộc đời Đạm Tiên, rồi sau mới đến lúc trở về qua suối, qua cầu: “Một hôm nhằm tiết Thanh minh, cả nhà họ Vương cùng đi tảo mộ, rồi luôn dịp dự hội Đạp thanh Thuý Kiều cùng hai em là Thuý Vân và Vương Quan thong thả dạo chơi đây đó, đi đến bờ suối, bỗng thấy

Ngày đăng: 23/03/2022, 15:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w