1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tổng quan chung Phân tích tác phẩm Chị Em Thuý Kiều

12 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 263,26 KB
File đính kèm CHỊ EM THÚY KIỀU.pdf.zip (243 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHỊ EM THÚY KIỀU I. Tác giả Vị trí: là thiên tài văn học, danh nhân văn hóa thế giới, tác giả đóng góp xuất sắc cho nền văn học Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX. Đề tài: Nguyễn Du viết nhiều đề tài, nhưng kiệt tác ông để lại cho đời viết về hình ảnh và số phận người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến. Phong cách: ông là nhà nhân đạo chủ nghĩa, ngòi bút hiện thực. II. Tác phẩm: Nguồn gốc: Là một truyện thơ, viết bằng chữ Nôm, gồm 3254 câu thơ lục bát, viết theo “Kim Vân Kiều Truyện” của Thanh Tâm tài nhân. Nội dung chính (đánh giá sơ bộ): là công trình nghệ thuật ngôn từ, vừa dân dã vừa bác học, lắng sâu qua những vần lục bát ngọt ngào. “Đoạn trường tân thanh” là bức tranh thực hiện về xã hội bất công tàn bạo, sẵn sàng chà đạp quyền sống của con người; đó cũng là lời thương cảm, là tiếng khóc đau đớn của số phận, bi kịch của người phụ nữ trong xã hội nam quyền. III. Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” Đoạn trích nằm ở phần mở đầu tác phẩm, giới thiệu gia cảnh của Kiều. Khi giới thiệu những người trong gia đình Kiều, tác giả tập trung tả tài sắc Thúy Vân và Thúy Kiều. Kết cấu (bố cục) đoạn trích: Đoạn Chị em Thúy Kiều có kết cấu: Bốn câu đầu: giới thiệu khái quát hai chị em Thúy Kiều. Bốn câu tiếp: gợi tả vẻ đẹp Thúy Vân. Mười hai câu tiếp: gợi tả vẻ đẹp Thúy Kiều Bốn câu cuối: khái quát chung về cuộc sống hai chị em Thúy Kiều. Kết cấu của đoạn trích cho thấy trình tự miêu tả nhân vật của tác giả: + Bốn câu thơ đầu khái quát được vẻ đẹp chung (mai cốt cách, tuyết tinh thần, mười phân vẹn mười) và vẻ đẹp riêng (mỗi người một vẻ) của từng người. Sau đó, tác giả mới đi sâu gợi tả vẻ đẹp của từng nhân vật. + Bốn câu thơ tiếp theo khắc họa rõ hơn vẻ đẹp của Thúy Vân, từ khuôn mặt, đôi mày, mái tóc, làn da, nụ cười, giọng nói, đều nhằm thể hiện vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu mà quý phái của người thiếu nữ. Bức chân dung Thúy Vân được gợi tả trước, có tác dụng làm nền để nổi bật lên vẻ đẹp của bức chân dung Thúy Kiều trong mười hai câu thơ tiếp theo. + Mười hai câu thơ tiếp theo khắc họa vẻ đẹp Thúy Kiều với cả sắc, tài, tình. Kiều là một tuyệt thế giai nhân nghiêng nước nghiêng thành. Kiều sắc sảo về trí tuệ và mặn mà về tâm hồn. Vẻ đẹp ấy thể hiện tập trung ở đôi mắt: Làn thu thủy nét xuân sơn. Tài năng của Kiều đạt tới mức lý tưởng, gồm cả cầm (đàn), kì (cờ), thi (thơ), họa (vẽ). + Bốn câu thơ cuối khái quát cuộc sống phong lưu, nền nếp, đức hạnh, trẻ trung của hai chị em Thúy Kiều. Một kết cấu như trên vừa chặt chẽ, hợp lý, vừa góp phần làm nổi bật vẻ đẹp chung và nhất là vẻ đẹp riêng của hai chị em Thúy Kiều. IV. PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH 1. Chân dung Thúy Vân, Thúy Kiều: a. Giới thiệu khái quát nhân vật: “Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân. Mai cốt cách tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.” Trước hết, Nguyễn Du giới thiệu chung về hai chị em trong gia đình, lời giới thiệu cổ điển, trang trọng rằng họ là “tố nga”, đẹp và trong sáng:

Trang 1

CHỊ EM THÚY KIỀU

I Tác giả:

- Vị trí: là thiên tài văn học, danh nhân văn hóa thế giới, tác giả đóng góp xuất sắc cho nền

văn học Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX

- Đề tài: Nguyễn Du viết nhiều đề tài, nhưng kiệt tác ông để lại cho đời viết về hình ảnh

và số phận người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến

- Phong cách: ông là nhà nhân đạo chủ nghĩa, ngòi bút hiện thực

II Tác phẩm:

- Nguồn gốc: Là một truyện thơ, viết bằng chữ Nôm, gồm 3254 câu thơ lục bát, viết theo

“Kim Vân Kiều Truyện” của Thanh Tâm tài nhân

- Nội dung chính (đánh giá sơ bộ): là công trình nghệ thuật ngôn từ, vừa dân dã vừa bác học, lắng sâu qua những vần lục bát ngọt ngào “Đoạn trường tân thanh” là bức tranh thực hiện về xã hội bất công tàn bạo, sẵn sàng chà đạp quyền sống của con người; đó cũng là lời thương cảm, là tiếng khóc đau đớn của số phận, bi kịch của người phụ nữ trong xã hội nam quyền

III Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”

- Đoạn trích nằm ở phần mở đầu tác phẩm, giới thiệu gia cảnh của Kiều Khi giới thiệu những người trong gia đình Kiều, tác giả tập trung tả tài sắc Thúy Vân và Thúy Kiều

Kết cấu (bố cục) đoạn trích:

* Đoạn "Chị em Thúy Kiều" có kết cấu:

- Bốn câu đầu: giới thiệu khái quát hai chị em Thúy Kiều

- Bốn câu tiếp: gợi tả vẻ đẹp Thúy Vân

- Mười hai câu tiếp: gợi tả vẻ đẹp Thúy Kiều

- Bốn câu cuối: khái quát chung về cuộc sống hai chị em Thúy Kiều

* Kết cấu của đoạn trích cho thấy trình tự miêu tả nhân vật của tác giả:

Trang 2

+ Bốn câu thơ đầu khái quát được vẻ đẹp chung (mai cốt cách, tuyết tinh thần, mười phân vẹn mười) và vẻ đẹp riêng (mỗi người một vẻ) của từng người Sau đó, tác giả mới đi sâu gợi tả vẻ đẹp của từng nhân vật

+ Bốn câu thơ tiếp theo khắc họa rõ hơn vẻ đẹp của Thúy Vân, từ khuôn mặt, đôi mày, mái tóc, làn da, nụ cười, giọng nói, đều nhằm thể hiện vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu mà quý phái của người thiếu nữ

* Bức chân dung Thúy Vân được gợi tả trước, có tác dụng làm nền để nổi bật lên vẻ đẹp của bức chân dung Thúy Kiều trong mười hai câu thơ tiếp theo

+ Mười hai câu thơ tiếp theo khắc họa vẻ đẹp Thúy Kiều với cả sắc, tài, tình Kiều là một tuyệt thế giai nhân "nghiêng nước nghiêng thành" Kiều "sắc sảo" về trí tuệ và "mặn mà"

về tâm hồn Vẻ đẹp ấy thể hiện tập trung ở đôi mắt: "Làn thu thủy nét xuân sơn" Tài năng của Kiều đạt tới mức lý tưởng, gồm cả cầm (đàn), kì (cờ), thi (thơ), họa (vẽ)

+ Bốn câu thơ cuối khái quát cuộc sống phong lưu, nền nếp, đức hạnh, trẻ trung của hai chị

em Thúy Kiều

* Một kết cấu như trên vừa chặt chẽ, hợp lý, vừa góp phần làm nổi bật vẻ đẹp chung và nhất là vẻ đẹp riêng của hai chị em Thúy Kiều

IV PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1 Chân dung Thúy Vân, Thúy Kiều:

a Giới thiệu khái quát nhân vật:

“Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân

Mai cốt cách tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.”

- Trước hết, Nguyễn Du giới thiệu chung về hai chị em trong gia đình, lời giới thiệu cổ điển, trang trọng rằng họ là “tố nga”, đẹp và trong sáng:

Trang 3

“Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.”

+ Phép liệt kê nêu rõ vị trí của hai chị em

- Tiếp đến, tác giả miêu tả chung vẻ đẹp của hai chị em trong một nhận xét mang tính chất

lí tưởng hóa, tuyệt đối hóa đẹp một cách hoàn thiện:

“Mai cốt cách tuyết tinh thần Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.”

+ Với bút pháp ước lệ tượng trưng, tác giả đã gợi tả vẻ đẹp duyên dáng, thanh tao, trong trắng của người thiếu nữ ở hai chị em Thúy Kiều: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” Vóc dáng mảnh mai, tao nhã như mai; tâm hồn trắng trong như tuyết

=> Đó là vẻ đẹp hài hòa đến độ hoàn mỹ cả hình thức lẫn tâm hồn, cả dung nhan và đức hạnh

+ Hai chị em đều tuyệt đẹp, không tì vết “mười phân vẹn mười”, song mỗi người lại mang nét đẹp riêng khác nhau “mỗi người một vẻ”

-> Bốn câu thơ đầu là bức tranh nền để từ đó tác giả dẫn người đọc lần lượt chiêm ngưỡng sắc đẹp của từng người

b Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Vân:

“Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.”

- Câu thơ mở đầu: “Vân xem trang trọng khác vời” đã giới thiệu khái quát vẻ đẹp của Thúy Vân: một vẻ đẹp cao sang, quý phái

Trang 4

- Bút pháp ước lệ tượng trưng, phép ẩn dụ, nhân hoá: “khuôn trăng”, “nét ngài”, “hoa cười ngọc thốt, “Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”

-> Vẻ đẹp của Thúy Vân là vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu; tính cách thì đoan trang, thùy mị: khuôn mặt đầy đặn, tươi sáng như trăng đêm rằm; lông mày sắc nét như mày ngài; miệng cười tươi thắm như hoa; giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngọc ngà là những lời đoan trang, thùy mị Mái tóc của nàng đen mượt hơn mây, da trắng mịn màng hơn tuyết -> Vân đẹp hơn những gì mỹ lệ của thiên nhiên – một vẻ đẹp tạo sự hòa hợp, êm đềm với xung quanh Cũng là hương sắc của tạo hóa, báu vật của nhân gian

-> Dự báo về một cuộc đời bình lặng, suôn sẻ

c Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Kiều:

“Kiều càng sắc sảo mặn mà,

So bề tài sắc lại là phần hơn:

Làn thu thủy nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh

Một hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc đành đòi một tài đành họa hai.”

* Sắc:

- Nguyễn Du đã miêu tả Thúy Vân trước để làm nổi bật Thúy Kiều theo thủ pháp nghệ thuật đòn bẩy Tả kĩ, tả đẹp để Vân trở thành tuyệt thế giai nhân, để rồi khẳng định Kiều còn hơn hẳn: “Kiều càng sắc sảo mặn mà” Từ “càng” đứng trước hai từ láy liên tiếp “sắc sảo”, “mặn mà” làm nổi bật vẻ đẹp của Kiều: sắc sảo về trí tuệ, mặn mà về tâm hồn

- Bút pháp ước lệ tượng trưng, phép ẩn dụ: “Làn thu thủy nét xuân sơn” gợi đôi mắt trong sáng, long lanh như làn nước mùa thu; hàng lông mày thanh tú như dáng núi mùa xuân

Vẻ đẹp của Kiều hội tụ ở đôi mắt – cửa sổ tâm hồn thể hiện phần tinh anh của tâm hồn và trí tuệ

Trang 5

- Vẻ đẹp của Kiều khiến “hoa ghen”, “liễu hờn”, nước phải nghiêng, thành phải đổ Thi nhân không tả trực tiếp vẻ đẹp mà tả sự đố kị, ghen ghét với vẻ đẹp ấy; tả sự ngưỡng mộ,

mê say trước vẻ đẹp ấy “Nghiêng nước nghiêng thành” là cách nói sáng tạo điển cố để cực

tả giai nhân Rõ ràng, cái đẹp của Kiều có chiều sâu, có sức quyến rũ làm mê mẩn lòng người Vẻ đẹp ấy như tiềm ẩn phẩm chất bên trong cao quý – tài và tình rất đặc biệt của nàng

* Tài:

“Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm

Cung thương làu bậc ngũ âm Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương

Khúc nhà tay lựa nên chương, Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân.”

- Trí tuệ thông minh tuyệt đối

- Kiều là người con gái đa tài mà tài nào cũng đạt đến độ hoàn thiện, xuất chúng: đủ cả cầm, kì, thi, họa

- Đặc biệt, tài đàn của nàng vượt trội hơn cả Nàng đã soạn riêng một khúc bạc mệnh mà

ai nghe cũng não lòng Khúc nhạc thể hiện tâm hồn, tài năng, trái tim đa sầu đa cảm

=> Chân dung Thúy Kiều mang tính cách số phận Ngòi bút Nguyễn Du nhuốm màu định mệnh Sắc đẹp và tài năng của Kiều nổi trội quá mà thiên nhiên, tạo hóa thì:

“Lạ gì bỉ sắc tư phong Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”

-> Cuộc đời của nàng sẽ gặp nhiều éo le, đau khổ

Trang 6

d Nhận xét chung về cuộc sống hai chị em Thúy Kiều

“Phong lưu rất mực hồng quần, Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê

Êm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặt ai”

- Thúy Vân, Thúy Kiều dưới ngòi bút của Nguyễn Du không chỉ nhan sắc tuyệt vời mà còn đức hạnh khuôn phép Dù đã đến tuổi “cài trâm, búi tóc” nhưng hai chị em vẫn giữ gìn nề nếp, gia phong:

“Êm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai.”

2 Cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du qua đoạn trích:

- Ngợi ca vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du đã trân trọng, đề cao giá trị, phẩm giá của con người như nhan sắc, tài hoa, phẩm hạnh; qua đó, dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh Sự ngưỡng mộ, ngợi ca người phụ nữ trong xã hội “trọng nam khinh nữ” chính là biểu hiện sâu sắc của cảm hứng nhân văn trong ngòi bút Nguyễn Du

A Dẫn chứng:

+ Đôi mắt Thúy Kiều (đa sầu đa cảm)

Những lần Kiều khóc trong Truyện Kiều:

1.Khóc cho nấm mộ Đạm Tiên:

“Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

2 Khóc cho thân phận của mình và gia đình mình

“Nỗi mình thêm tức nỗi nhà

Trang 7

Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng”

3 Khóc cho thân phận bẽ bàng của mình

“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh, Giật mình, mình lại thương mình xót xa

Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.”

4 Khóc cho vị hôn thê không thành Kim Trọng

“Ơi! Kim Lang! Hỡi Kim Lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.”

+ Tài năng đàn của Thúy Kiều:

1 Đàn cho chàng Kim trong lần đầu gặp gỡ:

“So dần dây Vũ, dây Văn Bốn dây to nhỏ theo vần Cung, Thương”

“Sóng tình dường đã xiêu xiêu Nghe trong âu yếm có chiều lả lơi”

2 Khi hầu đàn cho Hoạn Thư và Thúc Sinh tại nhà họ Hoạn:

“Bốn dây như khóc như than Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng Cùng trong một tiếng to đồng

Trang 8

Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm”

3 Khi đàn cho tên mặt sắt Hồ Tôn Hiến:

“ Này khúc ở đâu?

Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay

Ve ngâm vượn hót nào tày Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu”

4 Khi đàn cho Kim Trọng sau 15 năm xa cách

“Khi tựa gối khi cúi đầu Khi vò chín khúc khi chau đôi mày”

NHẬN ĐỊNH VỀ VẺ ĐẸP CHỊ EM THÚY KIỀU:

Nói về bút pháp tả người của Nguyễn Du, giáo sư Trần Đình Sử nhận xét

“Cả vẻ đẹp lẫn tài năng nhân vật tuy đều vẽ rất khéo léo, bút pháp đa dạng nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ nghệ thuật và tư tưởng thời trung đại, với những đường nét ước lệ cao quý, hoàn hảo, lí tưởng …làm hiện rõ 2 bức chân dung, dự báo số phận về sau của mỗi người”

B Bài đọc thêm

1 Vẻ đẹp chị em Thuý Kiều

+ PGS TS NGUYỄN HỮU SƠN

Đoạn trích Chị em Thuý Kiều (SGK Ngữ văn 9, tập một, trang 81) gồm 24 câu, thuộc phần mở đầu kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du Cả đoạn thơ tập trung miêu tả nhan

Trang 9

sắc, vóc dáng, hình thức bề ngoài cũng như năng khiếu nghệ thuật và vẻ đẹp tâm | hồn chị

em Thuý Kiều - Thuý Vân

- Trên thực tế, ai cũng biết rằng Truyện Kiều được Nguyễn Du sáng tác chính là dựa theo cốt truyện tiểu thuyết chương hồi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) Đoạn mở đầu Kim Vân Kiều truyện liên quan đến việc giới thiệu hai nhân vật Thuý Kiều - Thuý Vân chỉ kể vắn tắt: “Nói về ở Bắc Kinh, có một vị viên ngoại họ

Vương tên Lưỡng Tùng, tự Tử Trinh, tính tình thuần thục, trung hậu, gia kế thường thường bậc trung, không dồi dào cũng không túng kém Vợ họ Hà, cũng là người hiền năng, sinh được một con trai, tên Vương Quan, học tập nghiệp nho, và hai gái, chị tên Thuý Kiều, em tên Thuý Vân, tuổi đều đang độ thanh xuân Cả hai chị em đều thạo thơ phú Riêng Thuý Kiều vẻ người thướt tha, phong lưu, tính chuộng hào hoa, lại thích âm luật, rất thạo ngón hồ cầm Thuý Vân dáng yêu kiều, hiền dịu, thấy Thuý Kiều thạo hồ cầm, thường nhân lúc rảnh can ngăn chị: “ âm nhạc không phải là công việc khuê phòng,

e người ngoài nghe biết, không được nhã!”

Kiểu nghe em can ngăn nhưng không cho thế là phải thường soạn bài ca Bạc Mệnh, phả vào hồ cẩm, trăm vần thê lương, khiến người nghe đều chau mày

+ Qua mấy trang lại kể tiếp: “Kim Trọng chắp tay cúi lễ rồi lui ra thì thấy: Thuý Kiều, mày nhỏ mà dài, mắt trong mà sáng, mạo như trăng thu, sắc tựa hoa đào;

Thuý Vân thì tinh thần tĩnh chính, dung mạo đoan trang, có một phong thái riêng, khó mô tả

Đến kiệt tác Truyện Kiều, Nguyễn Du đã nối kết, sáng tạo lại, chuyển hoá đoạn văn giới thiệu Kiều - Vân trong những vần thơ lục bát tinh tế, sinh động, giàu hình ảnh Mở đầu đoạn thơ, Nguyễn Du xác định cả hai chị em đều là người duyên dáng, thanh cao, trong trắng, đẹp từ nhan sắc đến phẩm chất:

Mai cốt cách tuyết tinh thần,

Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười

Trang 10

Cốt cách, dáng vẻ của hai chị em được ví như cây mai thanh tao, mảnh dẻ, còn phẩm chất tâm hồn được ví như màu tuyết trắng trong Từ sự cảm nhận chung ấy, Nguyễn Du đi đến miêu tả chi tiết vẻ đẹp và phẩm chất của từng người Khác với lẽ thường và cũng khác với trình tự giới thiệu nhân vật trong Kim Vân Kiều truyện, Nguyễn Du lại nhắc đến người em trước Nhân vật Thuý Vân được dành cho bốn câu thơ:

Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da

| Vẻ đẹp của Thuý Vân được miêu tả theo bút pháp ước lệ, hiện hình ở gương mặt đầy đặn, nét mày ngài nở nang, miệng cười tươi thắm như hoa, lời nói ý tứ thanh cao như tiếng ngọc, mái tóc óng mượt như mây và da trắng như tuyết Đó là cái đẹp | bề ngoài của nhan sắc, khuôn mặt, hình thức, ai cũng trông thấy Khác biệt hơn, | Nguyên Du dành tới mười sáu câu thơ còn lại để giới thiệu Thuý Kiều Mở rộng hơn, Nguyễn Du không chỉ tả khuôn mặt và hướng tới khác hoạ loài diện cá vóc dáng Cả sắc và tài, cả sự thông minh

và phẩm chất tâm hồn, cả tư chia nghệ sĩ và đạo đức trong cuộc sống Thực hiện một sự

so sánh có thể thấy cái đẹp của Vân thuần tuý chỉ ngang bằng với "hoa cười ngọc thốt” còn vẻ đẹp của Thuý Kiều khiến cho: Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh, cái đẹp hơn người của Thuý Vân chỉ thiên về hình thức Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da còn vẻ đẹp của Thúy Kiêu trở nên toàn diện hơn, vượt qua hình thức, đạt đến phẩm chất tài năng:

Một hai nghiêng nước nghiêng thành,

Sắc đành đòi một tài đành hoạ hại

| Nguyễn Du đặc biệt nhấn mạnh tài đàn của Thuý Kiều, đi từ sự khẳng định tài năng thi,

ca, nhạc, hoạ nói chung đến riêng nghệ thuật dàn nhạc, rồi cụ thể hoá ở ngón đàn hồ cầm, rồi đến bản nhạc trữ tình bi thương mang chủ đề Bạc mệnh Bên cạnh vẻ đẹp trời phú,

Trang 11

những cung bậc tài dàn nhạc khác nhau đã hoà âm, tấu nên âm điệu sinh động, rộn ràng, sâu lắng, phù hợp với quãng đời thơ trẻ của Thuý Kiều:

Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm

Cung thương làu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương

Khúc nhà tay lựa nên chương, Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân

Là con người có nhan sắc, có tài, có tâm, Thuý Kiều lại được nuôi dưỡng trong gia đình gia giáo, được hưởng cuộc sống yên bình Người thiếu nữ ấy biết làm chủ cuộc sống, tự chủ và tự tin:

Êm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai Đặt trong tương quan chung của cả đoạn thơ, việc Nguyễn Du miêu tả vẻ đẹp Thuý Vân trước chính là đã vận dụng lối nói bắc cầu, so sánh, xác định Thuý Vân đã rất đẹp nhưng Thuý Kiều còn đẹp hơn nữa:

Kiều càng sắc sảo mặn mà,

So bề tài sắc lại là phần hơn

Điều này cho thấy chủ đích nghệ thuật của Nguyễn Du nhằm tập trung xây thành công nhân vật chính Thuý Kiều tài sắc vẹn toàn Bên cạnh Thuý Vân, bức chân dung Thuý Kiều càng trở nên ngời sáng, toàn diện, hoàn chỉnh, tạo được sự yêu mến, trân trọng của người đọc Có thể nói việc thi hào Nguyễn Du miêu tả đầy đủ cả vẻ đẹp nhan sắc, hình thể và tâm hồn chị em Thuý Kiều là biểu hiện thắng lợi của trào lưu nhân văn, xu thế tìm

Trang 12

về con người, quan tâm đến số phận con người và khẳng định vẻ đẹp, quyền sống của con người ngay giữa cõi trần gian

(VH&TT số 11 (295) năm 2013)

Ngày đăng: 23/03/2022, 15:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w