1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BSCKII. Nguyễn Thị Dung - BM Sản 24.4.2017

20 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 126,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ít dạy tổ chức/quản lý/quy chế/luật lệ/lề lối làm việc; ít kết hợp dạy các kỹ năng y học cộng đồng, kỹ năng giao tiếp/tư vấn giáo dục sức khỏe, cách giải quyết các vấn đề sức khỏe cộng đ

Trang 1

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC LÂM SÀNG

BSCKII Nguyễn Thị Dung

Bộ môn Sản

1 Đặt vấn đề

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đã từng được khẳng định trong các văn kiện Đảng trước đây, đặc biệt là trong Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, khẳng định đây không chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước,

mà còn là “mệnh lệnh” của cuộc sống Trong Văn kiện đại hội XII lần này, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳ trước, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”

Giải pháp then chốt và khâu đột phá để thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo gồm 3 vấn đề: đổi mới tư duy giáo dục; đổi mới quản lý giáo dục và phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu, đổi mới kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục là khâu đột phá Đổi mới về phương pháp dạy học không chỉ làm cho người học phát triển tư duy độc lập, sáng tạo mà còn giúp người thầy thêm tiến bộ, trưởng thành Cùng với đó, cần đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan, công bằng Cần gắn chặt giáo dục và đào tạo với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, với sản xuất, kinh doanh; gắn nhà trường, viện nghiên cứu với các cơ sở sản xuất, nhà máy, xí nghiệp; gắn lý luận với thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đó là những phương cách tốt nhất, hiệu quả nhất để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nước nhà, như văn kiện trình Đại hội XII của Đảng đã đề ra

Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ở nước ta được nêu trong văn kiện Đại hội XII, về thực chất, là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực này, hiệu ứng của nó sẽ làm biến đổi tích cực nhiều mặt của đời sống

xã hội Việt Nam, là sự vun trồng “nguyên khí quốc gia”, làm cho nền học vấn nước nhà hưng thịnh, đất nước phát triển bền vững

Trang 2

Là Bí thư chi bộ hệ ngoại, một người thầy thuốc, một người thầy giáo, tham gia trực tiếp vào công tác quản lý, giảng dạy cho học sinh và sinh viên tại trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa Tôi thiết nghĩ việc dạy học lâm sàng là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng, đây là một trong những nhiệm vụ chính trị then chốt của nhà trường không thể thiếu được trong đào tạo nguồn nhân lực cán bộ

y tế phục vụ cho sự nghiệp BV và CSSKND Mặt khác dạy học lâm sàng nó mang tính đặc thù trong đào tạo nghề y, nó đòi hỏi phải luôn cập nhật, đổi mới phù hợp văn hóa truyền thống song cũng cải tiến theo chiều hướng phát triển của công nghệ thông tin, công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2 Nội dung chủ yếu

2.1 Thực trạng công tác giảng dạy lâm sàng hiện nay

Những vấn đề hiện nay của dạy học lâm sàng đã có nhiều thay đổi:

Một là: Quan hệ người bệnh – CBYT – HV đang thay đổi, bệnh nhân và

người nhà yêu cầu cao hơn, quyền của khách hàng được đề cao CBYT phải có trách nhiệm trực tiếp hơn, điều kiện thực hành khó hơn nên việc thực tập lâm sàng ngày càng khó khăn hơn, các giải pháp để tháo gỡ chưa đủ mạnh

Hai là: Sự phân tuyến và chuyên khoa quá sâu không thuận lợi cho việc thực hành đa khoa ở diện phổ cập Các bênh viện tuyến cao, các buồng bệnh chuyên sâu

và các GV/ cán bộ bệnh viện hoạt động theo chuyên ngành hẹp không phù hợp với việc đào tạo CBYT đa khoa diện rộng, hướng về chăm sóc sức khỏe ban đầu của người thầy thuốc gia đình làm việc tại cộng đồng Nhiều cơ sở đào tạo chưa có bệnh viện dạy học hoặc quan hệ trường - viện không tốt

Ba là: Sự xao lãng nhiều mục tiêu quan trọng, ít dạy thái độ, y đức, giảm

quan tâm giáo dục nhân cách Việc học tập cách ứng xử nhân văn và cá biệt hóa chăm sóc bị coi nhẹ Giảng dạy thực hành tay nghề thiết thực mà hướng về “ tiềm năng “ mất cân đối giữa lý thuyết và thực hành Ít dạy tổ chức/quản lý/quy chế/luật lệ/lề lối làm việc; ít kết hợp dạy các kỹ năng y học cộng đồng, kỹ năng giao tiếp/tư vấn giáo dục sức khỏe, cách giải quyết các vấn đề sức khỏe cộng đồng.…

Bốn là: Các phương pháp dạy học lâm sàng không có hiệu quả cao, xu

hướng lẫn lộn dạy thực hành lâm sàng với dạy lý thuyết khá phổ biến; HS/SV không biết cách thực tập lâm sàng Các phương pháp giải quyết vấn đề, dạy học dựa trên năng lực…chưa được phổ biến Y học đang phát triển rất nhanh, nhu cầu

Trang 3

của người bệnh đòi hỏi cách chữa trị và chăm sóc khác trước, nhưng chúng ta chưa dạy cho HS/SV thay đổi tư duy và hành vi kịp thời; việc tổ chức và hỗ trợ để quá trình thực tập lâm sàng trở nên tích cực chủ động và có hiệu quả chưa được quan tâm, xu hướng thả nổi lãng phí rất phổ biến và trầm trọng

Trong dạy học lâm sàng, các bạn đã từng gặp các vấn đề trên không? Biểu hiện cụ thể thế nào? Các bạn đã làm gì để nâng cao chất lượng dạy học lâm sàng?

Và trong chuyên đề này tôi xin được tiếp cận vấn đề dạy học lâm sàng với các nội dung sau

2.2 Vai trò và mục tiêu của dạy học lâm sàng

Vai trò của dạy học lâm sàng là môi trường giáo dục, là cái nôi/cái khuôn để hình thành người cán bộ y tế (CBYT) cả về “đức” và “tài”, đây là cách dạy học đặc thù của Ngành Y, dạy học lâm sàng thường chiếm tỷ lệ lớn trong các chương trình đào tạo CBYT

Khi học tập tại lâm sàng, HS/SV phải đạt được 3 mục tiêu chung đó là:

Một là: Học các thái độ, tác phong, cách ứng xử, qua đó mà rèn luyện y đức và

định hình nhân cách người CBYT;

Hai là: Học tập các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và ứng dụng các kiến thức,

kỹ năng từ qua đó mà học nghề chăm sóc sức khỏe con người

Ba là: Rèn luyện nếp tư duy lâm sàng, học tập cách làm việc kiểu CBYT, học

phương pháp luận, hình thành tiềm năng tự học/nghiên cứu và nâng cao năng lực

2.3 Đặc điểm của dạy học lâm sàng

- Môi trường đặc biệt: dạy học ở bệnh viện/phòng khám: Nhiệm vụ chính ở

đây là chăm sóc sức khỏe cho người bệnh Giữa thầy và trò xuất hiện thêm người bệnh, khách hàng, gia đình, CB quản lý, các loại CBYT khác…thêm nhiều mối quan hệ như vậy sẽ thúc đẩy học viên phỉa ứng xử linh hoạt hơn để tạo thuận lợi cho việc học tập

- Tổ chức học tập linh hoạt: HS/SV làm việc cá biệt hoặc theo nhóm nhỏ

với các nội dung và hình thức học tập khác nhau các tổ chức của học viên/nhà trường (lớp, tổ, đoàn thể…) bị phân tán Nơi dạy học rất linh hoạt (đầu giường, buồng bệnh, phòng thủ thuật, phòng cấp cứu )

Việc tổ chức/quản lý ở đây có vai trò rất quan trọng: GV và HS/SV đều phải trở thành nhà tổ chức, phải có phương pháp, có sự chủ động và năng động GV phải

Trang 4

huy động HS/SV tham gia vào việc tổ chức, phải có phương pháp, có sự chủ động

và sự năng động GV phải huy động học viên tham gia vào việc tổ chức học tập (như quản lý giờ học, thông báo các nội dung/địa điểm có thể đến học, phân công chuẩn bị liên hệ với giáo viên để lên lịch học tập …) Nếu tổ chức và quản lý kém thì kết quả dạy học sẽ thấp Giáo viên phải hỗ trợ và tạo điều kiện cho những người đại diện cho tổ chức của học viên ( tổ, nhóm, đoàn thể ) Phương pháp lập kế hoạch giao việc và giám sát có vai trò quan trọng tổ chức và quản lý dạy học lâm sàng ở bệnh viện

- Phương pháp dạy học: Thường dạy học theo nhóm và cá biệt nên yêu cầu

phải tích cực hóa nhiều hơn Dạy học ở bệnh viện ít sử dụng phương pháp thuyết trình và các phương pháp dạy lý thuyết cho nhóm lớn thường sử dụng các phương pháp: quan sát thực hành, trình diễn mẫu, tư vấn, chỉ dẫn, trao đổi cá biệt: Tự học

có hướng dẫn; Làm việc và thảo luận nhóm nhỏ theo kiểu giải quyết vấn đề và dựa trên năng lực; Tự lượng giá tự suy nghĩ kết hợp với lượng giá và giám sát

Như vậy quá trình dạy học ở lâm sàng là một quá trình tự học của HS/SV do giáo viên tổ chức và hỗ trợ

2.4 Nâng cao chất lượng dạy học lâm sàng

2.4.1 Quan tâm dạy y đức, thái độ, tạo điều kiện tốt để hình thành nhân cách

Các biện pháp cơ bản là:

Thứ nhất: Mỗi thầy cô, mỗi cán bộ y tế là một tấm gương tốt cho HS/SV noi

theo

Thứ hai: Tổ chức môi trường thực tập lành mạnh, thân thiện, trách nhiệm … Thứ ba: Quan sát , theo dõi, cung cấp phản hồi sau các hoạt động của HV Thứ tư: Giảm kỹ trị kết hợp dạy và lượng giá thái độ trong khi dạy thực hành

kỹ năng (trong bảng lượng giá có các bước thái độ ) nhấn mạnh cách ứng xử nhân

văn và cá biệt

2.4.2 Tăng cường dạy các kỹ năng y tế cộng đồng

Kỹ năng giao tiếp, tư vấn, giáo dục, sức khỏe …Mở rộng tầm nhìn sang sức khỏe gia đình và cộng đồng, không hạn chế suy nghĩ trong phạm vi bệnh viện

2.4.3 Tổ chức cho HS/SV tự học

- Phân công trách nhiêm cụ thể, mô tả nhiệm vụ rõ ràng, có dịnh mức cho

giáo viên

Trang 5

- Công bố mục tiêu học tập, nội dung, kế hoạch tuần/tháng, chỉ tiêu thực hành lâm sàng cho HS/SV, phân công rõ ràng cụ thể

- Lập kế hoạch và tổ chức giám sát thường xuyên/ định kỳ, tổ chức đánh giá phối hợp với các chức quản lý của bệnh viện

- Củng cố các nhóm / tổ học tập; Chỉ dẫn về phương pháp học tập lâm sàng nêu gương về sự chủ động tích cực

- Cải tiến cách giao ban học tập: sử dụng buổi giao làm đầu mối để tổ chức

và chỉ đạo thực tập lâm sàng

2.4.4.Nâng cao chất lượng các hình thức/phương pháp dạy học có người bệnh

Tăng cường sự chủ động tích cực của HS/SV Đẩy mạnh cách tiếp cận dạy giải quyết vấn đề và dạy học dựa trên năng lựho, giảm kỹ trị, tăng cường kỹ năng

tư duy

2.4.5.Tăng cường các phương pháp dạy học và lượng giá lâm sàng không người bệnh

Chuẩn bị thêm về phương tiện và phương pháp để có thể sử dụng nhiều hơn các phương pháp này nhằm khắc phục các vướng mắc do chỉ độc tôn thực tập trên người bệnh

2.4.6.Tạo điều kiện tự đẩy mạnh lượng giá lâm sàng kết hợp với lượng giá / đánh giá

vấn đề trọng điểm là:

Biên soạn thêm các công cụ ( ngân hàng tets kèm theo đáp án: các bảng kiểm các bài tập tư duy…) và tổ chức tăng cường sử dụng

Củng cố các phương pháp đánh giá lâm sàng, kết hợp thi lâm sàng kiểu truyền thống có cấu trúc chặt chẽ với các phương pháp thi không có người bệnh

2.5 Các phương pháp dạy học lâm sàng

Có hai nhóm phương pháp chính: Dạy học lâm sàng có người bệnh/khách hàng thật và dạy học lâm sàng không người bệnh (có khi được gọi là mô phỏng lâm sàng ) Trong đó nhóm thứ nhất ngày càng khó sử dụng hơn, nhóm thứ hai ngày càng phát triển hơn về mức độ sử dụng, phương pháp và phương tiện

2.5.1 Nhóm phương pháp dạy học lâm sàng có người bệnh/ khách hàng (thật )

*Ưu điểm của phương pháp này là Rất thật, giá trị, sinh động, nhiều khi

không thay thế được (trừ khi cần khám/ quan sát một số triệu chứng/ dấu hiệu, khi

Trang 6

cần làm thủ thuật trên người thật…) Tinh thần, thái độ của thầy - trò đều nghiêm túc, tích cực Ví dụ khi thăm khám xác định ngôi thai qua thành bụng: Thái độ nghiêm túc, không đùa cợt, động tác cẩn thận, nhẹ nhàng, ân cần và tuỳ thuộc ngôi thai loại nào giáo viên sẽ bình luận và hỗ trợ HS/SV thiết thực

* Nhược điểm: Tuy nhiên phương pháp này cũng còn tồn tại một số nhược

điểm:

- Người bệnh không hợp tác, không đồng ý ( quyền của họ ): Ví dụ khám phụ khoa mà khách hàng không đồng ý cho giảng lâm sàng cho HS/SV

- Thiếu người bệnh phù hợp và kịp thời/ đúng lúc (ví dụ: giảng lâm sàng một trường hợp Shock phản vệ)

- Không gặp lại, không làm lại nhiều lần, không cho nhiều người cùng làm, cùng taap và không tập đến thông thạo được (ví dụ: bóp bóng hồi sức sơ sinh)

- Nhiều điều không nói /dạy trước mặt người bệnh được, hoặc không được phép làm (tính nhân văn y / đức), ví dụ: Người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục

- Khó học diễn biến theo dõi, lúc khởi phát, lúc tai biến…

- Khó luyện tập cách tư duy lâm sàng, cách chẩn đoán, xử trí, ra quyết định, HS/SV không được phép sai lầm…

- Khi lượng giá, nếu sử dụng nhiều người bệnh khác nhau thì sẽ không công bằng (vì nội dung thi và độ khó rất khác nhau)

* Các phương pháp chính:

2.5.1.1 Bài giảng lâm sàng tích cực hóa và có minh họa:

Chỉ thuyết trình từng đoạn ngắn ( gián đoạn 15 – 20 phút ) Nói dài liên tục ( nhất là với giọng đều đều ) sẽ gây ức chế Nên kết hợp với các phương pháp tích cực như hỏi – đáp, động não, đọc, bình luận tài liệu, kiểm điểm mục tiêu, làm tets

và bình luận đáp án, thảo luận nhóm nhỏ tại chỗ… Thay đổi giọng nói, cách nói, kết hợp với cử chỉ và di động hợp lý Kết hợp với minh họa bằng cách cho bình luận hình vẽ, sơ đồ, cho quan sát mô hình, mẫu vật cho xem băng đĩa hình ; viết vài chữ ti, sẫm , có màu trên bảng Thường chỉ có nguwoif bệnh trong một giai đoạn ( trong giai đoạn nay không được đề cập vấn đề tế nhị ) mọi vấn đề cần trực quan phải làm xong, sau đó đưa người bệnh về giường chu đáo

Trang 7

Nhược điểm là không tích cực hóa được nhiều HS/SV, dễ sa vào độc thoại hoặc có thể nhìn không rõ nhất là khi lớp đông Chỉ nên lựa chọn vài trường hợp bệnh học / triệu chứng học phổ biến /điển hình

2.5.1.2 Minh họa lâm sàng và dạy học dựa trên năng lực (CpBT)

Một là: Minh họa lâm sàng kiểu truyền thống: Thường tiến hành trong nhóm

nhỏ Thầy xem trước bệnh nhân (BN) và trình diễn cách hỏi bệnh, cách khám bệnh, các dấu hiệu/ triệu chứng phát hiện được trên người bệnh ( thường sử dụng khi học triệu chứng học và bệnh học )Sau đó thầy cho một vài HS/SV làm theo

Nhược điểm: HS/SV thụ động, ỷ lại, không năng động, không lồng ghép dạy hình thành năng lực (gồm các kiến thức tối thiểu và thái độ phù hợp ) Độc tôn dạy

kĩ năng, tách rời với kiến thức và thái độ, đề cao y sinh coi nhẹ quan hệ nhân văn,

dễ sa vào kĩ trị Chỉ nên sử dụng trong vài buổi đâug khi HS/SV chưa quen

Hai là: Minh họa lâm sàng kiểu dạy dựa trên năng lực, được chia làm hai

giai đoạn:

+ Giai đoạn có người bệnh: Thầy và trò đều phải xem trước bệnh nhân Trò

phải trình bày cách hỏi bệnh, khám bệnh và các triệu chứng/dấu hiệu phát hiện bệnh (tất nhiên còn nhiều thiếu sót) Chú trọng lồng ghép kiến thức, kỹ năng và thái độ

+ Giai đoạn không người bệnh: Giảng viên tập hợp HS/SV lại và dùng các phương pháp tích cực ( hỏi – đáp ,động não,thảo luận ,trình diễn mẫu ) để làm việc về: Những triệu chứng/ dấu hiệu đã phát hiện/ chưa phát hiện được, ý nghĩa giá trị cần làm gì tiếp theo, cần xét nghiệm hoặc thăm dò gì…Các kỹ năng cần có ( thí

dụ cách hỏi cách khám, cách làm thủ thuật trong đó lưu ý kĩ loại kĩ năng tử duy ( phân tích tổng hợp, phê phán, phản ánh Các kiến thức tối thiểu cần thiết ( liên quan mật thiết với việc làm thực hành) Thái độ phù hợp, cần ứng xử thế nào ( yêu cầu nhân văn), có gì riêng biệt cho trường hợp này ( yêu cầu cá biệt hóa ), cần phát triển tình cảm gì

+ Đóng vai ( để học thái độ và kỹ năng giao tiếp

+ Thường sử dụng chu trình phản ánh 6 bước, có bước 2 cảm xúc, nhằm đưa tình cảm vào quá trình nhận thức, rất cần thiết với HS/SV y khoa

Cách dạy học này tích cực hơn và lồng ghép được việc dạy kết hợp kiến thức- Kỹ năng – Thái độ ( Nên được gọi là Dạy học dựa trên năng lực – CpBT) ,

Trang 8

coi trọng cách ứng xử nhân văn và cá biệt hóa, coi trọng đủ 3 loại kỹ năng Tay – Tim - Trí

2.5.1.3 Thảo luân lâm sàng kiểu dạy dựa trên năng lực (CpBT) theo chu trình phản ánh ( thường cho HS/SV mới, nhưng đã thuộc quy trình chăm sóc)

Giai đoạn 1: Cho tiếp xúc với BN,ghi tư liệu , cho chẩn bị ở nhà một ngày, hướng dẫn thảo luận theo chu trình: 6 bước chính( nên có bản giấy viết to, treo sẵn), chú trọng lồng ghép kiến thức, Kỹ năng, Thái độ: Thứ tự các bước thực hiện

Mô tả Cảm xúc ( thông cảm , tình thương …) Đánh giá sơ bộ ( tốt/ xấu) Phân tích Kết luận ( phải làm thế nào thì tốt) Kế hoạch hành động ( sắp tới sẽ làm gì)

Giai đoạn 2 là giai đoạn đặc sắc: Đưa tình cảm vào dạy học, chống vô cảm Điều này hết sức quan trọng trong dạy học nghề y

2.5.1.4.Thảo luân lâm sàng/ Bình bệnh án/ Kế hoạch chăm sóc/ Hội chẩn học viên theo hướng dạy tư duy lâm sàng kiểu vấn đề hoặc giải quyết vấn đề ( long case with problem – solving )

Hai cách làm này ngày nay được tiến hành khá giống nhau vì nhiều yếu tố mới đã xâm nhập vào phương pháp truyền thống ( bản thân phương pháp thảo luận lâm sàng từ xưa đã mang nhiều yếu tố rất tiến bộ ) Nét đặc sắc của cách thảo luận này là phát triển tư duy, giải quyết vấn đề cho HS/SV

Chu trình giải quyết vấn đề gồm: 6 bước chính ( nên treo sẵn giấy A0 khi thảo luận )

Bước 1 xác định vấn đề và chọn ưu tiên Tên vấn đề, khẳng định có vấn đề Phân tích các đặc điểm của vấn đề, chọn ưu tiên( chú ý cả vấn đề tâm lý – GĐ-Kinh tế - Xã hội )

Bước 2 Phân tích nguyên nhân , tìm các nguyên nhân, vẽ cây nguyên nhân, tìm nguyên nhân chính…

Bước 3.Tìm các giải pháp ( toàn diện ) chọn giải pháp tối ưu ( cả VĐ nhân văn Giải pháp GDSK/ tư vấn ) …

Bước 4 Lập kế hoạch ( mục tiêu, hoạt động, nguồn lực , đầu ra…)

Bước 5 Thực hiện theo dõi điều chỉnh, ( tập mô phỏng nếu cần )

Bước 6 Đánh giá

Trang 9

2.5.1.5 Dạy học trong giao ban (teaching handover )

Vai trò và nhiệm vụ cơ bản của dạy học trong giao ban là tổ chức tự học lâm sàng cụ thể là:

- Là đầu mối chỉ dẫn cho tự học ( nêu rõ tên BN, giường/ buồng có vấn đề gì cần học tập hoặc theo dõi; nhóm trực đêm đã chẩn đoán/ xử trí gì có điều gì cần học, cần bổ sung gì)

- Đầu mối để tổ chức học tập: hôm nay cần chia nhóm thế nào, đi học ở đâu,

có vấn đề gì cần học, phải chuẩn bị gì, ai phụ trách…

- Giúp HS/SV học tập phương pháp viết báo cáo và báo cáo trong giao ban, nắm tình hình nhanh và thảo luận chuyên môn ngắn gọn trong giao ban

- Giáo viên có thể thuyết trình rất ngắn gọn một vấn đề nhỏ, thiết thực để nêu vấn đề, kích thích HV học tập

2.5.1.6 Đi buồng/Điểm bệnh/Dạy học bên giường bệnh (các tên khác

tương tự là Short cases, bed side teaching, morning round…) Trọng điểm của

phương pháp này là rèn luyện tính tích cực chủ động trong học lâm sàng cho HS/SV, kết hợp với giám sát hỗ trợ của GV

Nên có lịch rõ ràng và phân công giường bệnh cho từng học viên Nhiệm vụ của HS/SV phải được quy định chặt chẽ, tỷ mỉ để tạo cho họ thói quen chủ động, tích cực HS/SV phải chuẩn bị chu đáo, khi giáo viên đến HS/SV phải chủ động báo cáo chi tiết về hiện trạng của người bệnh, nêu các vấn đề và đề xuất ý kiến của mình GV giám sát nhanh, hỗ trợ và góp ý kiến về các công việc, về nội dung học tập cần đi sâu, theo kiểu nêu vấn đề để người học tự giải quyết GV có thể giảng giải ngắn gọn về một chủ đề hoặc làm mẫu các thao tác chỉ dẫn về các triệu chứng

có trên người bệnh

2.5.1.7 Dạy học trong phiên trực: Trọng điểm của phương pháp này là tăng

cường tính độc lập trong học tập và phục vụ của HS/SV, làm quen với các hoạt động nghiệp vụ HS/SV có thể học/làm được rất nhiều trong phiên trực khi nó được

tổ chức tốt

Phân công HV, giao nhiệm vụ học tập, chỉ rõ vấn đề cụ thể và cách học cho nhóm trực (bám sát diễn biến của các bệnh nhân nặng, theo dõi các cấp cứu, tham gia thực hiện các y lệnh, làm bệnh án cho bệnh nhân mới, học hỏi các cán bộ trực,

tự ghi chép và làm báo cáo ) Nếu có GV của nhà trường cùng trực (hoặc GV kiêm

Trang 10

chức) thì có thể giảng giải/chỉ dẫn ngắn về một trường hợp thực tế trong phiên trực (nên khuyến khích học viên tự nêu vấn đề)

Nên cho HS/SV tập viết báo cáo trực và trình bày vào ngày hôm sau (nếu có khó khăn thì tổ chức giao ban học tập riêng, vẫn còn tốt hơn là HS/SV phải dự những buổi giao ban nặng về hành chính, không mang lại nhiều lợi ích học tập)

2.5.1.8 Đối chiếu lâm sàng – Giải phẫu bệnh (Confrontation anatomo

-clinique Trọng điểm của phương pháp này là làm quen vơi phương pháp “ dựa vào

bằng chứng” ( evidence – based )Và “ kiểm thảo tử vong “ thường giúp cho học viên mau có kinh nghiệm nghề nghiệp , ý thức trách nhiệm và ý thức khoa học trong công việc

HS/SV phụ trách điều trị báo cáo ngắn gọn về BN tử vong và vấn đề của BN

ấy Sau đó thầy trò cùng quan sát về các bệnh tích đại thể khi mổ tử thi (khi cần thiết thì có thể quan sát cả tiêu bản vi thể) và suy nghĩ về các kết luận của giải phẫu bệnh Cuối cùng thầy – trò thảo luận về sự phù hợp và không phù hợp giữa lâm sàng và giải phẫu bệnh các việc đã làm đúng và chưa đúng để rút kinh nghiệm và học tập

2.5.1.9 Dạy học trên các thiết bị y học: Các thiết bị y học ngày càng nhiều

và hiện đại, có thể là:

- Thiết bị chẩn đoán như kính hiển vi, X quang siêu âm, cộng hưởng từ - hạt nhân

- Thiết bị thăm dò chức năng như điện tim đồ, mạch đồ, thăm dò chức năng thận, hô hấp, thần kinh…

- Thiết bị điều trị mổ nội soi, tán sỏi, thận nhân tạo, xạ trị, máy gây mê, máy hồi sức…

- Khi dạy học trên các thiết bị này ,nên bố trí thành hai giai đoạn;

- Có người bệnh; trọng điểm là giúp cho học viên quan sát được hình ảnh và cách thao tác trên người bệnh, cách giao tiếp với người bệnh Phải rất thận trọng khi cần giảng giải hoặc thảo luận vì có thể gây các hậu quả khôn lường trên người bệnh

- Không người bệnh; trọng điểm là giúp HV hiểu rõ hơn về ý nghĩa/giá trị của hình ảnh, tác dụng lợi ích của phương pháp, các vấn đề kinh tế y tế khi sử dụng Có thể tổ chức dạy học tại BV hoặc tại trường (nếu có thiết bị)

Ngày đăng: 18/03/2022, 21:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bài giảng "Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam (giai đoạn 2006 - 2020)", tài liệu online Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam (giai đoạn 2006 - 2020)
1.Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh; 2014 Khác
2. Phương pháp dạy học trong các trường cao đẳng và trung cấp y tế, Nxb Giáo dục, 2008 Khác
4. Điều lệ trường Cao đẳng (2003), Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
5. Chương trình chi tiết đào tạo hệ đào tạo, trường cao đẳng Y tế Thanh Hóa, (2016) Khác
6. Sổ tay lâm sàng (tài liệu lưu hành nội bộ) trường Cao đẳng y tế Thanh Hóa, (2016) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w