Nghị định 176/2013/NĐ – CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế, trong đó có vi phạm hành chính về dân số, Nghị định quy định các hành vi
Trang 1GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU TÌNH TRẠNG MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH TẠI TỈNH THANH HÓA,
GIAI ĐOẠN 2016 – 2021
BSCKII Nguyễn Thị Dung
Bộ môn Sản
1 Đặt vấn đề:
Theo tổng kết của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), châu Á là nơi
có sự mất cân bằng giới tính cao nhất trên thế giới, sáu quốc gia châu Á có tỷ số giới tính ở độ tuổi trẻ em được ghi nhận là mất cân bằng đáng kể (lên tới trên 108) là Ấn Độ, Hàn Quốc, Georgia, Azerbaijan, Trung Quốc và Armenia đặc biệt đáng lưu ý hai nước đông dân nhất thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ1
Việt Nam, trước năm 1999, chưa nơi nào rơi vào tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS) Từ năm 1999 đến nay tỉ số giới tính khi sinh ở nước ta có xu hướng tăng lên, từ 107 bé trai/100 bé gái khi sinh vào năm 1999; lên 110 bé trai /100 bé gái vào năm 2009; 112 bé trai/100 bé gái năm 2014 2 Tỷ
số giới tính khi sinh (TSGTKS) của nước ta, đã thực sự “nóng” tại các diễn đàn Quốc hội, Chính phủ và cộng đồng xã hội Các nhà khoa học trong và nước ngoài dự báo tỷ số này vẫn còn tiếp tục tăng lên Tình trạng MCBGTKS đang là tình trạng đáng báo động và ngày càng phổ biến ở nhiều địa phương trong cả nước Nếu tiếp tục mức tăng như thế vào những năm sắp tới sẽ làm biến đổi các chỉ số nhân khẩu học, tác động tiêu cực đến cuộc sống cá nhân, gia đình, xã hội đến an ninh trật tự, an toàn xã hội và sẽ trở thành thảm họa đối với dân tộc và sự phát triển bền vững Quốc gia, nếu không được can thiệp kịp thời
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm chỉ đạo kiểm soát tình trạng MCBGTKS, Pháp lệnh Dân số 2003 quy định nghiêm cấm tất cả các hình thức lựa chọn giới tính thai nhi Nghị định 176/2013/NĐ – CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế, trong đó có
vi phạm hành chính về dân số, Nghị định quy định các hành vi vi phạm và các mức xử phạt cho các hành vi liên quan đến lựa chọn giới tính thai nhi, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến MCBGTKS
1 UNFPA - Tỷ số giới tính khi sinh ở Châu Á và Việt Nam: Tổng quan tài liệu nhằm hướng dẫn nghiên cứu về
chính sách Tháng 10/2010.
2 Tổng Điều tra dân số năm 1999 và 2009, điều tra biến động dân số ngày 01/4 hàng năm.
Trang 2Thanh Hoá là một trong những tỉnh có tỷ số giới tính khi sinh khá cao so với trung bình trong cả nước Năm 2011: 120/100, Năm 2012: 116; năm 2013: 115; năm 2014: 115; năm 2015: 115
Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh theo hướng “thừa nam thiếu nữ” tại Thanh Hóa đã xảy ra và đang ở mức báo động Đây là một thách thức lớn đối với ngành Y tế nói riêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung Tình trạng này không chỉ diễn ra ở thành thị mà còn diễn ra ở cả nông thôn và miền núi Mất cân bằng giới tính khi sinh gây ra nhiều hệ lụy nhiều mặt đối với đời sống kinh
tế xã hội làm thay đổi cơ cấu dân số trong tương lai, thiếu hụt phụ nữ ở độ tuổi lập gia đình, cấu trúc gia đình thay đổi đáng kể, gia tăng tội phạm liên quan đến lạm dụng tình dục, mua bán phụ nữ, ngược đãi phụ nữ, cản trở việc nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội từ nhiều lý do
Trong những năm qua tỉnh Thanh Hóa được sự quan tâm, Chỉ đạo của Tổng cục Dân số, của Tỉnh Ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban mặt tổ quốc của các ban, ngành, đoàn thể các cấp đã triển khai nhiều hoạt động can thiệp nhằm từng bước khống chế tốc độ gia tăng TSGTKS bước đầu đã có kết quả Tuy nhiên, do tính chất khó khăn và phức tạp của việc kiểm soát MCBGTKS trong bối cảnh của một xã hội chịu ảnh hưởng nặng nề của các giá trị nho giáo, nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, các vi phạm về lựa chọn giới tính thai nhi có xu hướng lan rộng, tinh vi, những biện pháp can thiệp chưa đủ mạnh, thiếu đồng bộ Một số cấp ủy Đảng, Chính quyền các cấp đã vào cuộc nhưng chưa tạo bước đột phá, đây đó còn xem nhẹ, chưa thực sự quan tâm
và chưa thấy hết được hệ lụy của vấn đề MCBGTKS đối với toàn xã hội, dân tộc Sự quan tâm của các ban, ngành, đoàn thể còn hạn chế MCBGTKS có nguyên nhân tổng hợp từ các yếu tố Văn hóa xã hội, kinh tế và là một vấn đề liên quan đến phong tục tập quán của người dân đã có từ hàng ngàn năm Vì vậy
để giải quyết vấn đề này trước hết đòi hỏi phải có sự cam kết mạnh mẽ, sự chung tay góp sức của cả hệ thống Chính trị, sự quan tâm chỉ đạo sát của cấp Ủy Đảng, Chính quyền, sự tham gia tích cực của các ban, ngành, đoàn thể cũng như toàn xã hội
Xuất phát từ nhận thức trên em chọn đề tài: “ Giải pháp giảm thiểu tình
trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2016 – 2021” làm tiểu luận tự chọn trình độ cao cấp lý luận chính trị của mình, với mục
tiêu khống chế có hiệu quả tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi sinh, tiến tới đưa tỷ
Trang 3số giới tính khi sinh trở lại mức cân bằng tự nhiên góp phần đảm bảo hợp lý cơ cấu dân số, chất lượng dân số cũng như ổn định, trật tự xã hội
2 Nội dung
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản:
- Dân số: Dân số là đại lượng tuyệt đối con người trong một đơn vị hành
chính hay một quốc gia, một châu lục hoặc cả hành tinh chúng ta tại một thời điểm nhất định (Tổng số người sống trên một lãnh thổ nhất định được tính vào một thời điểm nhất định) Như vậy, nói đến dân số là nói đến quy mô, cơ cấu, chất lượng và những yếu tố gây nên sự biến động của chúng như: sinh, chết và
di cư
- Cơ cấu dân số: Là khái niệm dùng để chỉ tập hợp những bộ phận hợp
thành dân số của một lãnh thổ dựa trên những tiêu chuẩn nhất định Nói cách khác, cơ cấu dân số là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác 3
- Giới và giới tính: Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong
tất cả các mối quan hệ xã hội 4 Giới của mỗi người được hình thành trong quá trình lớn lên chứ không phải sinh ra là đã có, nói một cách khác, hình thành các đặc điểm giới là một quá trình học của mỗi cá nhân Giới của mỗi người phụ thuộc vào quyền lực và giá trị xã hội của họ; giới có thể thay đổi ở các nền văn hóa, lịch sử khác nhau và cũng có thể thay đổi khi được can thiệp Giới tính: Là
sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ Giới tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thay đổi được Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người và duy trì nòi giống
- Tỷ số giới tính khi sinh: Tỷ số giới tính khi sinh là một chỉ số thống kê
được xác định bằng số trẻ em trai được sinh sống trên một trăm trẻ em gái sinh sống trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh Tỷ số này thông thường là từ 103- 106 trẻ em trai trên
100 trẻ em gái và giá trị của tỷ số này thường rất ổn định qua thời gian
Công thức tính tỷ số giới tính khi sinh như sau:
Số bé trai sinh sống/1 năm
3 Điều 3, Pháp lệnh Dân số.
4 Điều 5, Luật Bình đẳng giới, 2006.
Trang 4Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) = *100
Số bé gái sinh sống/1 năm
- Mất cân bằng giới tính khi sinh: Mất cân bằng giới tính khi sinh là số trẻ
em trai được sinh ra còn sống vượt trên ngưỡng bình thường so với 100 trẻ em gái được sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh Theo quy ước nhân khẩu học, tỷ
số giới tính khi sinh dao động từ 103 – 106 Tỷ số giới tính khi sinh của một quốc gia, một vùng hoặc một tỉnh/thành phố nằm ngoài dao động ấy là mất cân bằng giới tính khi sinh
- Can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh: Là việc tác động
nhằm thay đổi nhận thức, hành vi của người dân về vấn đề giới tính, để cho tình trạng MCBGTKS hiện nay đang ở mức báo động trở về mức cân bằng giới tính khi sinh, đảm bảo tỷ số giới tính khi sinh ở mức dao động từ 103 – 106 trẻ trai sinh ra còn sống trên 100 trẻ gái sinh ra còn sống
2.1.2 Hậu quả của việc mất cân bằng giới tính khi sinh: Tranh giành trong hôn
nhân, ngăn cản người địa phương khác sang địa phương mình tìm hiểu, kết hôn; Kết hôn muộn, thậm chí là không thể kết hôn do khó hoặc không tìm được bạn đời hoặc đối với các chàng trai sống trong gia đình nghèo, kinh tế yếu kém, chi phí cho việc cưới vợ vượt quá khả năng, việc cưới vợ sẽ là gánh nặng cho kinh
tế gia đình Từ đó, khả năng quan hệ tình dục ngoài hôn nhân tăng lên, nguy cơ lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục, trong đó có HIV/AIDS cũng có nguy cơ tăng lên Hôn nhân với người nước ngoài không dựa trên cơ sở tình yêu để có hôn nhân bền vững, mà chỉ dựa trên tiền bạc đã để lại nhiều bi kịch trong các gia đình Do khó khăn từ việc chọn vợ sẽ tạo nên sự bất ổn về trật tự, an toàn xã hội dẫn đến tình trạng gia tăng các loại tội phạm xã hội như: Lừa đảo, bắt cóc, buôn bán trẻ em gái và phụ nữ, tệ mại dâm đã xảy ra và có chiều hướng gia tăng Phụ
nữ có thể bị ép buộc sinh thêm con, phá thai nhi gái, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, tính mạng Người phụ nữ bị ngược đãi, phụ tình, ruồng bỏ khi không sinh được con trai Và khả năng xuất hiện tình trạng phụ nữ đa phu là tất yếu Luật Hôn nhân gia đình một vợ một chồng bị phá vỡ Hiện tượng “nhập khẩu cô dâu”
là khó tránh khỏi Từ đó, gây ra những khó khăn thách thức đòi hỏi xã hội phải quan tâm giải quyết trong thời gian dài và phải tăng thêm nguồn nhân lực, tài lực, vật lực để xử lý
2.1.3 Nội dung can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh:
Trang 5- Nhà nước phải tiến hành nhiều chương trình hoạt động nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao vị thế của người phụ nữ trong xã hội;
- Xây dựng các chính sách nhằm bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi, để các gia đình không phải phụ thuộc hoàn toàn vào con trai khi cha mẹ già yếu…
- Nhà nước còn cần ban hành các quy định, chính sách kinh tế - xã hội ưu tiên, quan tâm tới những gia đình sinh con một bề là gái;
- Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát các cơ sở y tế nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm quy định không lựa chọn giới tính thai nhi khi sinh theo điều 10 Nghị định số 104-CP ngày 16/9/2003 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp lệnh dân số
2.2 Cơ sở chính trị, pháp lý:
2.2.1 Cơ sở chính trị
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đưa ra Nghị quyết định hướng cho công tác dân số “Bảo đảm quy mô hợp lý, cân bằng giới tính và chất lượng dân số” (Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bổ sung, phát triển năm 2011) và Thực hiện tốt các Chính sách Dân
số và kế hoạch hóa gia đình, duy trì mức sinh thay thế, bảo đảm cân bằng giới tính hợp lý, nâng cao chất lượng dân số” (Chiến lược phát triển kinh tế - Xã hội
2011 -2020)
- Nghị quyết 47 – NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS và KHHGĐ nhấn mạnh: tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm làm chuyển biến sâu sắc về nhận thức, tâm
lí, tập quán sinh đẻ trong toàn xã hội Vận động toàn xã hội chấp nhận và thực hiện mỗi cặp vợ chồng chỉ có một đến hai con, coi việc dừng ở hai con là nghĩa
vụ của mọi người dân để góp phần giảm bớt gánh nặng về dân số của đất nước Việc tuyên truyền, vận động phải sâu sát, cụ thể, phù hợp với từng đối tượng Chú ý vận động những gia đình đã có hai con để họ không sinh con thứ ba Triển khai các hoạt động kiểm tra sức khỏe di truyền, tư vấn tiền hôn nhân, đẩy mạnh phòng, chống HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội; Giảm tỉ lệ trẻ em sinh ra bị
dị tật bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ, giảm nhanh tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng; mở rộng các dịch vụ chăm sóc người già, người tàn tật, tổ chức phục hồi chức năng cho trẻ em và người khuyết tật
Trang 6- Kết luận số: 44 - KL/TW ngày 01/4/2009 của Bộ Chính trị về Kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số: 47 - NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS - KHHGĐ đã cho rằng phải chủ động kiểm soát
và giải quyết các nguyên nhân sâu xa làm mất cân bằng giới tính của trẻ sơ sinh;
Xử lý nghiêm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVII nhiệm kỳ 2015 – 2020 đã ghi rõ: duy trì mức sinh thay thế, giảm tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh
- Chỉ thị số 16 CT/TU, ngày 10 tháng 9 năm 2013 của Ban Thường vụ Tỉnh
ủy về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình
2.2.2 Cơ sở pháp lý
- Pháp lệnh Dân số, số 06/2003/PL – UBTVQH11, ngày 9 tháng 01 năm 2003; Khoản 2, Điều 7 nghiêm cấm “ Lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức” và điều 13 quy định “Nhà nước điều chỉnh cơ cấu dân số nhằm bảo đảm
cơ cấu dân số hợp lý về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, ngành nghề và các đặc trưng khác” và “ Việc điều chỉnh cơ cấu dân số được thực hiện thông qua các trưng trình, dự án phát triển kinh tế - Xã hội của cả nước và từng địa phương”
- Luật Bình đẳng giới số 73/2006/QH11, ngày 29 tháng 11năm 2006, Điều
4 “Mục tiêu của Bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - Xã hội và phát triển nguồn nhân lực tiến tới bình đẳng thực chất giữa nam,nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống Xã hội và gia đình” Điều 40, khoản 7, mục b quy định các hành vi “Lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức hoặc xúi giục, ép buộc người khá phá thai vì giới tính của thai nhi” là vi phạm Pháp luật về Bình đẳng giới
- Nghị định số: 114/2006/NĐ - CP ngày 03/10/2006 - Quy định sử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em, nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi
- Nghị định số:104/2003/NĐ - CP ngày 16/9/2003 - Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số
- Chị thị số: 23/2008/CT - TTg ngày 04/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ
về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình “ Đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng việc thử nghiệm, nhân rộng các mô hình, giải
Trang 7pháp can thiệp về kỹ thuật, về kinh tế và xã hội, góp phần kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh và nâng cao chất lượng dân số…”
- Quyết định số:153/2006/QĐ-TTg ngày 30/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về Qui hoạch tổng thể phát triển ngành Y tế Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến 2020
- Quyết định số: 2351/QĐ - TTg ngày 24/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược Bình đẳng giới đến năm 2020
- Chiến lược phát triển Dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn
2011 - 2020 - Bộ Y tế
- Quyết định số 4381/2011/QĐ-UBND, ngày 28/12/2011 về phê duyệt Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược dân số - sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 – 2020
- Quyết định số 1491/QĐ-UBND, ngày 28/5/2008 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc thành lập và quy định tổ chức bộ máy Chi cục DS - KHHGĐ thuộc Sở Y tế
2.2.3 Cơ sở thực tiễn
MCBTSGTKS ở Việt Nam thật sự nóng lên từ năm 2006 Mặc dù khởi đầu muộn hơn các nước trong khu vực khoảng 20 năm nhưng tốc độ gia tăng TSGTKS ở Việt Nam nhanh hơn rất nhiều Bình quân tốc độ gia tăng TSGTKS hằng năm của các nước chỉ từ 0,4% đến 0,5%, nhưng ở Việt Nam ngay từ những năm đầu tiên xuất hiện tốc độ gia tăng TSGTKS đã lên cao bất thường, từ 1% đến 1,5% Quy luật gia tăng TSGTKS ở Việt Nam cũng giống các nước khác, đó
là xuất hiện vào giai đoạn xã hội nở rộ các dịch vụ siêu âm, mở rộng các dịch vụ hành nghề y tế tư nhân và sự thuận tiện, dễ dàng trong nạo phá thai 5
Theo một nghiên cứu của Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em năm
2005 về TSGTKS tại 6 tỉnh: Ninh Bình, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Đồng Nai và Cần Thơ thì TSGTKS trong thời kỳ 5 năm (1999-2003) tại những tỉnh này là 115,6 6 Năm 2007, một nghiên cứu khác của Viện nghiên cứu Phát triển xã hội được thực hiện trên cả nước cho thấy, TSGTKS đã có sự chênh lệch đáng kể Có tới 16 tỉnh/thành có TSGTKS từ 115 - 128, ở 20 tỉnh/thành khác là
5 Dương Quốc Trọng Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam các đặc điểm cơ bản và giải pháp Tổng cục DS
-KHHGĐ năm 2013.
6Viện Khoa học Dân số, Gia đình và trẻ em Về tình trạng giới tính khi sinh tại 6 tỉnh: Ninh Bình, Thừa Thiên
-Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Đồng Nai và Cần Thơ, Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em năm 2005- Hà Nội
năm 2006
Trang 8111- 120 Cụ thể, tại Kiên Giang TSGTKS là 125 ; tại Sóc Trăng là 124; tại Bắc Ninh là 123… 7
MCBTSGTKS ở Việt Nam có những nét đặc thù khác với các nước trong khu vực, đó là ở Việt Nam hiện tượng này cao ngay từ lần sinh đầu tiên, chứng
tỏ các bà mẹ đã chọn lọc giới tính ngay từ lần sinh đầu Ðặc biệt, tình trạng MCBTSGTKS diễn ra nghiêm trọng nhất ở nhóm kinh tế khá giả Trong khi ở nhóm nghèo nhất (chiếm khoảng 20% dân số) TSGTKS ở mức bình thường là 105,2 thì ở nhóm trung bình, nhóm giàu và nhóm giàu nhất tình trạng MCBTSGTKS lại rất nặng nề Cụ thể, TSGTKS ở nhóm giàu là 111,7 và ở nhóm giàu nhất là 112,9 TSGTKS thấp nhất ở nhóm phụ nữ không biết chữ là
107 và tăng dần theo trình độ học vấn, lên đến 114 ở nhóm các bà mẹ có trình độ cao đẳng trở lên Những phụ nữ có trình độ học vấn cao biết chủ động sử dụng các biện pháp tránh thai và điều chỉnh số con mong muốn; những phụ nữ này thường lại có điều kiện kinh tế tốt hơn để có thể chi trả dịch vụ lựa chọn giới tính trước sinh và họ thỏa mãn được cả hai mục tiêu: quy mô gia đình nhỏ và có con trai8
2.3 Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại tỉnh Thanh Hóa hiện nay
2.3.1 Đặc điểm tình hình kinh tế chính trị, văn hóa
Thanh Hóa là một tỉnh lớn, đứng thứ 5 về diện tích và thứ 3 về dân số trong số các đơn vị hành chính tỉnh trực thuộc Nhà nước Bao gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh, 2 thị xã và 24 huyện, 635 xã, phường, thị trấn
- Về địa lý: Thanh Hóa là tỉnh cực Bắc miền Trung Việt Nam nằm ở vĩ tuyến 19°18' Bắc đến 20°40' Bắc, kinh tuyến 104°22' Đông đến 106°05' Đông Phía bắc giáp ba tỉnh: Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía nam và tây nam giáp tỉnh Nghệ An; phía tây giáp tỉnh Hủa Phăn nước Lào với đường biên giới
192 km; phía đông Thanh Hóa mở ra phần giữa của vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông với bờ biển dài hơn 102 km Diện tích tự nhiên của Thanh Hóa là 11.106 km², chia làm 3 vùng: đồng bằng ven biển, trung du, miền núi Thanh Hóa có thềm lục địa rộng 18.000 km²
7 Viện nghiên cứu Phát triển xã hội - Tình trạng giới tính khi sinh trong nước, Viện nghiên cứu Phát triển xã hội
Năm 2007
8 Dương Quốc Trọng Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam các đặc điểm cơ bản và giải pháp Tổng cục DS
-KHHGĐ năm 2013.
Trang 9- Về dân cư: Dân số Thanh Hóa đến 31/12/2015 là 3.651.788 Người,
đứng thứ ba Việt Nam, chỉ sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.[15] Trong đó:
Nữ giới 1.852.180 người, chiếm 50,7%, Mật độ dân số 312 người/km² Thanh Hóa có 7 dân tộc là Kinh, Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ Mú Người Kinh chiếm phần lớn dân số của tỉnh
- Về chính trị: Chính trị ổn định, các dân tộc chung sống hoà hợp, cùng
nhau phát triển, toàn tỉnh không có thôn bản, xã không có đảng viên Bình quân hằng năm kết nạp hơn 7.000 đảng viên mới và có từ 80% tổ chức cơ sở đảng trở lên kết nạp được Đảng viên mới trong năm; Tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch, vững mạnh hằng năm đạt 45% trở lên
- Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh GRDP
bình quân 5 năm đạt 12%/năm trở lên; GRDP bình quân đầu người đạt 3.600 USD
- Về văn hóa - xã hội: Tốc độ tăng dân số bình quân hằng năm dưới
0,65%; Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội đến chiếm 35 -38%
- Về môi trường: Tỷ lệ che phủ rừng đạt 52,5%; Tỷ lệ dân số đô thị được
dùng nước sạch đạt 95% trở lên theo chuẩn mới; Tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 95% Tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn đạt 80% Tỷ lệ chất thải y tế được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn đạt 100%;
- Về an ninh trật tự: Hằng năm có 70% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn an
toàn về an ninh trật tự;
2.3.2.Thực trạng can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Bộ máy DS –KHHGĐ tỉnh Thanh Hóa bao gồm: Chi cục DS - KHHGDD Tỉnh: Có 32 cán bộ Trong đó: Trình độ trên đại học 09, đại học 18, Cao đẳng 01 trung cấp 02, khác 02 Trung tâm DS - KHHGDD huyện, thị, thành phố: Có 27 Trung tâm DS - KHHGDD với 167 cán bộ Trong đó: Trình độ trên đại học 05, đại học 82, Cao đẳng 09, trung cấp 71 Cán bộ chuyên trách cấp Xã, Phường Thị trấn 635 cán bộ, trong đó: Trình độ trên đại học 0, đại học 08, cao đẳng 25 trung cấp, 480 khác 122 Với 7435 Cộng tác viên (thôn , Bản)
Thực trạng tỷ số giới tính khi sinh tại Thanh hóa từ 2009 - 2015: Năm
2008 là 118, năm 2009: 119; năm 2010: 119; năm 2011: 120; năm 2012: 116;
Trang 10năm 2014: 115; năm 2015: 115 (Nguồn báo cáo Chi cục DS – KHHGĐ tỉnh Thanh Hóa ).
Từ các số liệu nêu trên cho thấy diễn biến tình hình chênh lệch giới tính khi sinh của tỉnh Thanh Hóa đang ở mức báo động bởi: Xu hướng tăng cao, cao nhất là năm 2011 (120/100) Biên độ dao động lớn, không ổn định nhất là trong giai đoạn năm 2010 (116), 2011 (120) dao động dương 4 Biên độ giao động cấp huyện cũng rất cao và bất ổn: Cao nhất là Thị xã Bỉm Sơn, năm 2010: 130/100, năm 2011: 139/100 Thành phố Thanh Hóa, năm 2010:125/100, nam 2011: 133/100; Huyện Bá Thước, năm 2010: 128/100, năm 2011: 139/100
Nguyên nhân của sự MCBGTKS ở tỉnh Thanh Hóa: Trước hết là đặc
điểm văn hóa với nhiều phong tục tập quán thấm đậm tư tưởng Nho giáo, đặc biệt phong tục tập quán người dân tộc làm cho suy nghĩ: “ Trọng nam khinh nữ
”, “ Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô ”, con trai mới là con của mình, còn con gái là con người ta ”, mong có con trai để “ nối dõi tông đường ”, để “ đảm trách công việc thờ cúng tổ tiên ông bà ”, vẫn còn tiềm ẩn trong nhận thức của một số gia đình mặc dầu những năm gần đây, cái nhìn về “con gái” trong xã hội đã cởi
mở hơn Vẫn còn nhiều gia đình mong sinh con trai để đảm đang những công việc nặng nhọc của gia đình mà con gái không làm được như đi rừng, làm nương làm rẫy, khuân vác … Chế độ an sinh xã hội chưa bảo đảm, đặc biệt là người già không được hưởng lương hưu, dẫn đến tư tưởng coi con trai là chỗ dựa tốt hơn
về mặt tài chính; con trai mới là người chăm sóc cha mẹ khi về già, con gái khi lấy chồng sẽ không sống trong gia đình mình, không thể thường xuyên đỡ đần cho cha mẹ đẻ
Nhận thức của người dân, đặc biệt là những cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ về pháp luật liên quan tới việc lựa chọn giới khi sinh và hậu quả do mất cân bằng giới tính khi sinh gây ra còn rất hạn chế, do chưa được tăng cường tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới, hậu quả của mất cân bằng giới tính khi sinh đối với gia đình và xã hội Do “tâm lý đám đông” và định kiến đối với
người không có con trai Ngạn ngữ Việt Nam có câu “con gà tức nhau tiếng gáy” ,câu ngạn ngữ này rất đúng với nguyên nhân từ “tâm lý đám đông” gây ra
MCBGTKS Thực tế cho thấy, không ít người muốn sinh con trai và phải sinh bằng được con trai do tác động của nguyên nhân này bởi chính sự kích động của dòng họ, bạn bè, hàng xóm cũng như sự dồn ép của gia đình, dòng tộc Đã có không ít những bi kịch mà hậu quả của nó trút xuống đầu người phụ nữ không