1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến sử dụng khoáng sản nhóm khoáng chất công nghiệp

64 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng: - Phạm vi điều chỉnh: Quy hoạch này là cơ sở điều chỉnh mọi hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trong nhóm khoáng chất

Trang 1

Phần mở đầu

1 Căn cứ chủ yếu để lập quy hoạch

- Luật Khoáng sản năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản năm 2005;

- Nghị định số 160/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản, Nghị định số 07/2009/NĐ-CP ngày 22/01/2009 của Chính phủsửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 160/2005/NĐ-CP;

- Quyết định số: 116/2007/QĐ-TTg ngày 23/7/2007; 152/2008/QĐ-TTg ngày 28/11/2008 của thủ tướng chính phủ phê duyệt quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản đến năm 2015, có định hướng đến năm 2020; Phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng ở Việt Nam đến năm 2020;

- Quyết định số 41/2008/QĐ-BCT ngày 17/11/2008; số 47/2008/QĐ-BCT ngày 17/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng nhóm khoáng chất nguyên liệu

đá vôi trắng (đá hoa), felspat, caolanh, magnezit; nhóm khoáng chất công nghiệp (serpentin, barit, grafit, fluorit, bentonit, diatomit và talc)đến năm 2015, có xét đến năm 2025;

- Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVII;

- Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020; Quy hoạch phát triển công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006-

công nghiệp" để có cơ sở lập kế hoạch khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản

trong nhóm khoáng chất công nghiệp; đưa hoạt động này đúng theo qui hoạch, kế hoạch phát triển trong từng giai đoạn một cách hiệu quả, ổn định và bền vững, giảm thiểu ô nhiễm môi trường; đóng góp vào sự nghiệp phát triển KT-XH của tỉnh và cả nước;

- Là một giải pháp quan trọng nhằm lập lại trật tự, kỷ cương theo đúng qui định của pháp luật đối với hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp trên địa bàn tỉnh

Trang 2

3 Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng:

- Phạm vi điều chỉnh: Quy hoạch này là cơ sở điều chỉnh mọi hoạt động

thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên theo quy định của pháp luật

- Đối tượng áp dụng bao gồm:

- Các cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản, cơ quan quản lý nhà nước

về công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản

- Các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản bao gồm: điều tra, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp

- Các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản

4 Phương pháp lập quy hoạch:

- Phương pháp thống kê: Được sử dụng để đánh giá tiềm năng khoáng sản, hiện trạng hoạt động khoáng sản

- Phương pháp phân tích, lựa chọn phương án tốt nhất: Trên cơ sở đề xuất

02 phương án để lựa chọn

- Các phương pháp khác

Trang 3

PHẦN I TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2002-2008

; Dân số 1.149.895 người Về tổ chức hành chính, toàn tỉnh có

07 huyện, 01 thị xã và 01 Thành phố Thành phố Thái Nguyên với trên 242 ngàn dân, là Trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của tỉnh

Thái Nguyên là cửa ngõ phía Nam nối vùng Việt Bắc với Hà Nội, các tỉnh đồng bằng sông Hồng, với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế thông qua đường Quốc lộ 3; sân bay quốc tế Nội Bài; cảng biển Hải Phòng, Quảng Ninh; cảng sông Đa Phúc và đường sông đến Hải Phòng; đường sắt Hà Nội - Thái Nguyên và Thái Nguyên - Bắc Giang Đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên sẽ xây dựng là tuyến đường hướng tâm nằm trong quy hoạch vành đai vùng Hà Nội

Tóm lại, Thái Nguyên có điều kiện địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế -

xã hội cho hiện tại và tương lai

1.1.2 Khí hậu và địa hình, địa chất

Thái Nguyên thuộc vùng Đông bắc, địa hình tương đối cao nên thường lạnh hơn so với các vùng tiếp giáp tỉnh về phía nam và tây nam Những đặc điểm cơ bản của khí hậu như sau:

Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 38,90

C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,20

C) là 23,70C Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm

Nhìn chung, khí hậu Thái Nguyên tương đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho phát triển ngành nông - lâm nghiệp, là nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến nông - lâm sản, thực phẩm

Địa hình Thái Nguyên:

Thái Nguyên có 04 nhóm cảnh quan hình thái địa hình khác nhau:

- Nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng, kiểu đồng bằng aluvi, rìa đồng bằng

Bắc Bộ có diện tích không lớn, phân bố ở phía nam của tỉnh, chủ yếu thuộc hai huyện Phú Bình, Phổ Yên với độ cao địa hình 10-15m Kiểu địa hình đồng bằng xen lẫn đồi núi thoải dạng bậc thềm cổ có diện tích lớn hơn, độ cao địa hình vào khoảng 20-30m và phân bố dọc hai con sông lớn là sông Cầu và sông Công thuộc

Trang 4

huyện Phổ Yên và Phú Bình; Các kiểu đồng bằng còn lại phân bố rải rác ở độ cao

lớn hơn

- Nhóm cảnh quan hình thái địa hình gò đồi được chia thành 03 kiểu:

* Kiểu cảnh quan gò đồi thấp, trung bình, dạng bát úp với độ cao 50-70m, phân bố ở Phú Bình, Phổ Yên

* Kiểu cảnh quan đồi cao đồng bằng hẹp, độ cao phổ biến từ 100-125m, chủ yếu phân bố ở phía tây bắc của tỉnh, kéo dài từ Đại Từ tới Định Hoá

* Kiểu địa hình đồi cao sườn lồi, thẳng, đỉnh nhọn, hẹp, kéo dài dạng dãy,

độ cao phổ biến từ 100-150m, phân bố ở phía bắc của tỉnh trong lưu vực sông Cầu, từ Đồng Hỷ, Phú Lương đến Định Hoá

- Nhóm cảnh quan hình thái địa hình núi thấp có diện tích chiếm tỷ lệ lớn,

hầu như chiếm trọn vùng đông bắc của tỉnh Nhóm này phân bố dọc ranh giới Thái Nguyên với các tỉnh: Bắc Giang, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Tuyên Quang Các kiểu cảnh quan hình thái địa hình núi thấp được cấu tạo bởi năm loại đá chính: Đá vôi,

đá trầm tích biến chất, đá Bazơ và siêu Bazơ, đá trầm tích phun trào, đá xâm nhập axit

- Nhóm cảnh quan hình thái địa hình nhân tác ở Thái Nguyên chỉ có một

kiểu là các hồ chứa nhân tạo, các hồ lớn như: hồ Núi Cốc, Khe Lạnh, Bảo Linh, Cây Si, Ghềnh Chè

Như vậy có thể thấy cảnh quan hình thái địa hình Thái Nguyên khá phong phú, đa dạng Muốn khai thác, sử dụng phải tính đến đặc tính của từng kiểu cảnh quan, đặc biệt là các kiểu cảnh quan đồi núi chiếm phần lớn diện tích của tỉnh

Địa chất:Trong bản chú giải bản đồ địa chất và khoáng sản đã liệt kê tới 28

hệ tầng phức hệ địa chất với nhiều loại đá khác nhau Các hệ tầng này phần lớn có dạng tuyến và phân bố theo nhiều hướng khác nhau Phần lớn các hệ tầng nằm ở phía Bắc của tỉnh có hướng thiên về Đông Bắc-Tây Nam, trong khi các hệ tầng phía Nam của tỉnh lại thiên về hướng Tây Bắc- Đông Nam Các hệ tầng có chứa

đá vôi (các hệ tầng Đồng Đăng, Bắc Sơn) tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc của tỉnh, không thành khối liên tục mà xen kẽ với các tầng khác nhau Sông Hiến, Lạng Sơn, Bắc Bun, Vùng Tây Bắc của tỉnh (huyện Định Hoá) có hệ tầng Phú Ngữ, chiếm tỷ lệ diện tích lớn với các loại đá phổ biến là phiến sét, sét, sét silic, cát bột kết, Chiếm diện tích lớn ở vùng phía nam là các hệ tầng Tam Đảo, hệ tầng Nà Khuất, hệ tầng Hà Cối với nhiều loại đá khác nhau Rõ ràng với điều kiện địa chất như vậy, Thái Nguyên có nhiều loại khoáng sản, cả nhiên liệu, kim loại, phi kim loại

Mặc dù là tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình tỉnh Thái Nguyên không phức tạp so với các tỉnh khác trong vùng Đây cũng là một trong những thuận lợi của tỉnh cho việc canh tác nông lâm nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội nói chung

Trang 5

1.2 Tiềm năng và nguồn lực

1.2.1 Tiềm năng đất

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 354.655,25 ha trong đó kế hoạch sử dụng đất năm 2007 và bổ sung 2008 như sau: diện tích đất nông nghiệp là 285.580,31 ha, đất phi nông nghiệp 44.785,6 ha, đất chưa sử dụng 24.289,34 ha Tiềm năng đất của tỉnh rất thuận lợi phát triển kinh tế

1.2.2 Tài nguyên nước

Thái Nguyên có 02 sông chính:

Sông Công có lưu vực 951km2

bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá huyện Định Hoá chạy dọc theo chân núi Tam Đảo Dòng sông đã được ngăn lại ở Đại Từ tạo thành hồ Núi Cốc có mặt nước rộng khoảng 25km2

, chứa 175 triệu m3 nước, có thể điều hoà dòng chảy và chủ động tưới tiêu cho 12.000ha lúa hai vụ, màu, cây công nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công

Sông Cầu nằm trong hệ thống sông Thái Bình có lưu vực 3.480 km2

bắt nguồn từ Chợ Đồn-Bắc Cạn chảy theo hướng Bắc-Đông Nam Hệ thống thuỷ nông sông Cầu tưới cho 24.000ha lúa 02 vụ của các Huyện Phú Bình (Thái Nguyên), Hiệp Hoà, Tân Yên (Bắc Giang) Ngoài ra, Thái Nguyên còn có trữ lượng nước ngầm khá lớn nhưng việc khai thác sử dụng còn hạn chế

Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn, các nhánh của các con sông chảy qua địa bàn tỉnh có thể xây dựng các công trình thuỷ điện kết hợp với thuỷ lợi quy mô nhỏ Việc xây dựng các công trình này sẽ góp phần làm cho nông thôn vùng cao phát triển nhanh trên các mặt chế biến quy mô nhỏ, đặc biệt là bảo vệ khôi phục rừng phòng hộ đầu nguồn, góp phần đưa ánh sáng và công nghiệp nông thôn phát triển

1.2.3 Tài nguyên khoáng sản

Tiềm năng khoáng sản, Thái Nguyên có các loại sau:

+ Than: Đã phát hiện 11 mỏ và điểm khoáng sản với tổng trữ lượng còn lại

63,8 triệu tấn Mỏ có trữ lượng lớn là Khánh Hòa 46 triệu tấn, Núi Hồng 15,1 triệu tấn, mỏ Làng Cẩm có trữ lượng trên 3,5 triệu tấn than mỡ dùng luyện cốc và một

số điểm than nhỏ khác

+ Quặng sắt: Đã phát hiện, điều tra, đánh giá, thăm dò 21 mỏ và điểm

khoáng sản sắt trên tổng số 42 điểm mỏ với tổng trữ lượng còn lại gần 34,6 triệu tấn, đáng chú ý là các mỏ: Tiến Bộ 24 triệu tấn, Trại Cau 9,88 triệu tấn, Quang Trung 4 triệu tấn v.v

+ Titan: Đã phát hiện 17 mỏ và điểm quặng Titan với trữ lượng dự báo hơn

chục triệu tấn; Các mỏ có trữ lượng lớn là: Titan Hữu Sào, Titan Cây Châm mỗi

mỏ vài triệu tấn ilmenít…

Trang 6

+ Thiếc, vonfram: Đây là loại khoáng sản có tiềm năng ở tỉnh Thái Nguyên,

tổng trữ lượng còn lại SnO2 của cả 03 mỏ chính là 18.648 tấn; riêng khu Đá Liền

có trữ lượng và tài nguyên là: 173.567 tấn WO3 và 149.140 tấn Bi

+ Chì, Kẽm: Đã điều tra, đánh giá, thăm dò 9/42 mỏ và điểm khoáng sản

được phát hiện, với tổng trữ lượng chì - kẽm ước khoảng trên 270 ngàn tấn kim loại (hàm lượng chì, kẽm trong quặng từ 8-30%)

Ngoài ra trên địa bàn còn tìm thấy một vài nơi có vàng, đồng, thuỷ ngân trữ lượng tuy không lớn, nhưng có ý nghĩa về mặt kinh tế

+ Nhóm khoáng sản phi kim loại:

Có Đolomit, Barit, Photphorit trong đó đáng chú ý nhất là các mỏ Cao lanh ở xã Phú Lạc, Đại Từ với trữ lượng hàng trăm triệu tấn

+ Nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng:

Có đá xây dựng, đất sét, đá vụn, cát sỏi….trong đó sét xi măng có trữ lượng khoảng 84,6 triệu tấn Sét ở đây có hàm lượng các chất dao động như SiO2 từ 51,9-65,9%, Al2O3 khoảng từ 7-8%, Fe2O3 khoảng 7-8% Ngoài ra Thái Nguyên còn có sét làm gạch ngói, cát sỏi dùng cho xây dựng….Đáng chú ý nhất trong nhóm khoáng sản phi kim loại của Tỉnh Thái Nguyên là đá carbonat bao gồm đá vôi xây dựng có trữ lượng xấp xỉ 100 tỷ m3

, đá vôi xi măng ở Núi Voi, La Giang,

La Hiên có trữ lượng 194,7 triệu tấn (Chi tiết xem tại phụ lục 3)

Nhìn chung tài nguyên khoáng sản của Tỉnh Thái Nguyên rất phong phú về chủng loại trong đó có nhiều loại có ý nghĩa trong phạm vi cả nước như sắt, than (đặc biệt là than mỡ), Titan,Vonfram… điều này tạo cho Thái Nguyên có một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng…

1.2.4 Tài nguyên rừng

Thái Nguyên hiện có 165.106,51 ha đất lâm nghiệp, chiếm khoảng 46,62% diện tích tự nhiên Trong đó diện tích rừng tự nhiên chiếm 50,42%; rừng trồng 23,56%, rừng phòng hộ 24,04% Còn lại là các loại rừng khác

Hiện rừng ở Thái Nguyên đã suy giảm so với trước đây Không còn rừng giầu, rừng trung bình còn rất ít, chủ yếu là rừng nghèo Các loại gỗ quý đã cạn kiệt Hệ động, thực vật bị giảm sút nghiêm trọng

1.2.5 Nguồn nhân lực

Theo Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, dân số Thái Nguyên năm 2008 là 1.149.895 người, tốc độ tăng dân số năm 2008 là 0,9%/năm Mật độ dân số năm

2008 là 324 người/km2 Cơ cấu dân số thành thị và nông thôn năm 2008 là 22,81%

- 77,19% Cơ cấu dân số nam, nữ năm 2008 là 49,9 - 50,1% Cơ cấu lao động qua đào tạo:

Trang 7

Theo dự báo "Phát triển dân số và nguồn nhân lực" của Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên, phát triển nguồn nhân lực tỉnh Thái Nguyên từ nay đến năm 2015 như sau:

Toàn cảnh về dân số và lao động Thái Nguyên đến năm 2015

ĐVT: 1.000 người

I Dân số 1.053.210 1.108.775 1.169.836 1.232.607

1 Dân số thành thị 232.759 259.604 280.761 332.804

2 Dân số nông thôn 820.451 849.171 889.075 899.803

II Lao động trong độ tuổi 632.979 733.227 810.896 832.432

1 Lao động cao đẳng, đại học 24.348 29.628 34.869 39.124

2 Lao động trung học chuyên

- Đường sắt: Có 3 hệ thống đường sắt: Tuyến Hà Nội - Thái Nguyên (dài 34,55 km trên địa phận Thái Nguyên); Tuyến Quan Triều - Núi Hồng (dài 39km); Tuyến Lưu Xá - Kép (dài 25 km trên địa phận Thái Nguyên) và mạng lưới đường sắt nội bộ Khu gang thép Thái Nguyên (dài 38,2 km)

Trang 8

- Đường thuỷ: Sử dụng cho vận tải đường thuỷ trên hai sông: Sông Công và

Sông Cầu Bắt đầu từ cảng Sông Đa Phúc (là cảng đầu mối của khu vực) đi Bắc

Giang, Phả Lại, Hải Phòng, Quảng Ninh

Nguồn năng lượng điện:

- Đến tháng 11/2003, 100% số xã có điện lưới quốc gia Số hộ dân nông

thôn có điện (tháng 12/2006) chiếm 96,12%

- Toàn tỉnh có 1 trạm biến áp 220KV 2x250 MVA và 5 trạm 110KV với

tổng công suất lắp đặt 248 MVA, có 17 trạm trung gian: 35/10KV, 35/6KV với

tổng công suất 113MVA Tổng chiều dài lưới trung áp 1.570km, có 1.085 trạm

biến áp 35/22/10/6/0,4KV với tổng công suất 142.200KVA

Hệ thống thông tin liên lạc và viễn thông: Tỉnh có tổng đài dung lượng

trên 30.000 số và có trên 82.200 máy điện thoại cố định; mật độ 7,5 máy/100 dân,

100% số xã trong tỉnh đã có máy điện thoại, đảm bảo cung cấp thông tin trong

nước và quốc tế thông suốt

Cấp thoát nước: Trên địa bàn tỉnh có 3/9 huyện, thành phố, thị xã đã xây

dựng hệ thống cấp nước với tổng công suất là: 47.000m3/ngày đêm, (thành phố

Thái Nguyên, thị xã Sông Công đạt 45.000 m3

/ngày đêm, huyện Đồng Hỷ đạt 2.000 m3/ngày đêm) Hệ thống thoát nước trên địa bàn tỉnh chưa được đầu tư đồng

bộ nên hiệu quả kém, nhất là thành phố Thái Nguyên, chưa đáp ứng được với một

đô thị loại II

Hệ thống tín dụng: Có các tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn là Ngân

hàng công thương, Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Ngân hàng

Chính sách Xã hội, Ngân hàng đầu tư & phát triển; chi nhánh ngân hàng phát triển

Việt Nam và một số chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần đảm bảo cung cấp

nguồn vốn cho các nhu cầu đầu tư phát triển

1.3 Tình hình kinh tế xã hội giai đoạn 2002 - 2008

Trang 9

1.3.2 Cơ cấu kinh tế:

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên

1.3.3 Giá trị sản xuất công nghiệp (giá CĐ 1994)

Tỉ lệ

%

Giá trị

Tỉ

lệ %

Giá trị

Tỉ lệ

%

Giá trị

Tỉ

lệ

%

Giá trị

Tỉ

lệ

%

Giá trị

Tỉ lệ

%

Giá trị

651

424

100 74,65 17,55 7,80

3.898 2.910

684

304

100 74,93 19,35 5,72

4.498 3.369

870

259

100 73,1 20,3 6,6

5.254 3.838 1.068

348

100 63,6 30,7 5,7

5.863 3.728 1.799

336

100 57,5 36,2 6,3

7.222 4.154

2609 459,3

100 57,54 38,15 4,32

8.685 4.997 3.313

BQ 2002-2008 (%)

Công nghiệp TW 18,22 17,34 15,77 13,9 -2,9 11,4 16,6 13,2

Công nghiệp ĐP 29,53 5,07 27,19 22,7 68,4 45 21,2 30,9

Công nghiệp FDI -4,09 -28,3 -15,5 34,3 -3,4 36,6 - 20,2 -2,3

Qua số liệu cho thấy công nghiệp Trung ương chiếm tỉ trọng lớn trong tổng

GTSXCN, tăng trưởng khá song có xu hướng giảm về tỷ trọng Công nghiệp địa

phương có tốc độ tăng trưởng khá cao nhưng chiếm tỉ trọng không lớn song có xu

hướng tăng về tỷ trọng Công nghiệp FDI tăng trưởng thấp nhưng có sự hồi phục

phát triển từ năm 2005

Trang 10

1.3.5 Hoạt động xuất nhập khẩu

Hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn trong những năm qua đã có

sự khởi sắc cả chiều rộng lẫn chiều sâu, mạng lưới thương mại trên địa bàn tỉnh phát triển rộng khắp, một số sản phẩm mũi nhọn của tỉnh đã có thị phần vững chắc trong nước và vươn ra thị trường ngoài nước Tuy nhiên còn nhiều sản phẩm phải nhập từ tỉnh ngoài, nước ngoài như các sản phẩm công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến, công nghiệp điện tử tin học

Biểu nhập khẩu giai đoạn 2003-2008

- Kim ngạch nhập khẩu trong những năm qua tăng nhanh, chủ yếu là hàng tiêu dùng và phôi thép Việc nhập khẩu máy móc thiết bị, các tư liệu khác để phục

- Kim ngạch xuất khẩu tuy có tăng nhưng vẫn thấp hơn so với bình quân chung của cả nước Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là: thiếc thỏi, quặng kẽm, chè, giấy đế, hàng may mặc

1.3.6 Số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp

Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, tính đến 31/12/2008 toàn

tỉnh có 9.790 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó có 9 cơ sở kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài Được mô tả trong bảng sau:

a Phân theo khu vực:

Trang 11

ĐVT: cơ sở

Tổng số cơ sở sản xuất công nghiệp 8.768 9.610 9.790

Trong đó:

b Phân theo ngành kinh tế:

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên

Hình thức hoạt động của các cơ sở sản xuất công nghiệp chủ yếu là ngoài

quốc doanh chiếm tới trên 99%; các cơ sở kinh tế do nhà nước quản lý chỉ chiếm

tỷ lệ rất nhỏ là 0,17 tỉnh; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm

0,075%

1.3.7 Lực lượng lao động công nghiệp

Theo số liệu của Cục Thống kê Thái Nguyên, tính đến 31/12/2007 tổng số

lao động trong toàn ngành công nghiệp của tỉnh là 57.417 người Số lượng lao

động phân theo chuyên ngành công nghiệp được thống kê như sau:

Trang 12

III CN sản xuất & PP điện, nước 2.874 3.474

Nguồn: Niên giám thống kê Thái Nguyên

1.3.8 Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp

Doanh nghiệp nhà nước sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã đầu tư từ thập kỷ 60, một số doanh nghiệp đầu tư mới cũng đã 15 - 20 năm Nhìn chung công nghệ lạc hậu, tiêu tốn nhiều năng lượng; vật tư, thiết bị chủ yếu là của Liên

Xô, Trung Quốc và các nước Đông Âu (cũ) Các dây chuyền bố trí khép kín bằng các thiết bị vạn năng nên khả năng chuyên môn hoá thấp Tuy nhiên một vài năm gần đây việc đầu tư công nghệ như đưa chương trình số vào các dây chuyền sản

xuất (hệ thống CNC, NC, CAD/CAM) có tiến bộ song còn chậm, tốc độ đổi mới

công nghệ chỉ ở mức trên 3%/năm, thiếu các thiết bị phân tích, kiểm tra hiện đại nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp

Đối với khu vực dân doanh và các cơ sở sản xuất nhỏ công nghệ còn thô sơ, lạc hậu

1.3.9 Tình hình đầu tư

UBND tỉnh đã xây dựng nhiều chương trình xúc tiến đầu tư và ban hành những cơ chế ưu đãi nhằm huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển: Giai đoạn 2006-2008 tổng vốn cho toàn ngành công nghiệp thực hiện là 16.384 tỷ đồng, cụ thể xem bảng sau:

1.702,6 3.020,4

1.736 3.802

2.324 3.799

2 Phân theo nguồn vốn

2.1 Kinh tế Nhà nước 2.098,9 2.877,8 2.827,16 3.297 2.2 Kinh tế dân doanh 1.379,6 1.495,1 1.709,99 2.312 2.3 Khu vực có vốn đầu tư

Trang 13

Nguồn: Cục thống kê Thái Nguyên

1.4 Mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn

1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) 12-13 11-12

Nguồn: Quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Thái Nguyên

1.4.2 Định hướng chung:

Theo Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVII:

- “Phấn đấu đến trước năm 2020, Thái Nguyên trở thành tỉnh công nghiệp; nguồn lực con người được phát huy, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế được tăng cường, vị thế của Thái Nguyên xứng đáng là một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội của vùng trung du, miền núi phía Bắc ”

- “Về cơ bản nền kinh tế của tỉnh phát triển và hội nhập với kinh tế trong nước, khu vực và thế giới”

- “Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỉ trọng công nghiệp trên cơ sở xây dựng một nền kinh tế đa dạng, nhiều thành phần; đẩy nhanh tốc độ phát triển, tạo sức bật lớn cho nền kinh tế ”

- “Phát triển công nghiệp phải gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Tập trung phát triển và mở rộng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ; phát triển các khu, cụm công nghiệp ở các huyện, thành phố, thị xã để khai thác lợi thế của các địa phương Ưu tiên phát triển các ngành, các sản phẩm truyền thống có thị trường và thế mạnh của địa phương như luyện kim, sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản, chế tạo máy và gia công kim loại, chế biến nông lâm sản, dệt may, hoá chất Phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao Khuyến khích phát triển các cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô vừa và nhỏ ”

Trang 14

- “ Quan tâm đầu tư cho công nghiệp chế biến nông, lâm sản, thực phẩm gắn với vùng nguyên liệu Phát triển công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi, phân bón sinh học và sản xuất thuốc thú y theo chương trình đầu tư trọng điểm quốc gia”

1.4.3 Định hướng phát triển các ngành công nghiệp giai đoạn

2006-2015 có xét đến 2020

Nhiệm vụ quan trọng là đưa Thái Nguyên trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020, để thực hiện mục tiêu này cần thiết phải huy động cao độ mọi nguồn lực, khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh của tỉnh cho phát triển công nghiệp nhanh chóng, hiệu quả, bền vững, gắn với việc phát triển thương mại, dịch vụ và bảo vệ môi trường Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tăng thu ngân sách Xây dựng Thái Nguyên thành trung tâm kinh tế của cả vùng Việt Bắc theo tinh thần Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị

Tập trung phát triển kinh tế Thái Nguyên theo hướng chuyển dần sang các ngành công nghiệp có công nghệ và kỹ thuật cao, có giá trị gia tăng cao để thúc đẩy phát triển các vùng khác

Phát triển công nghiệp Thái Nguyên phải theo quy hoạch đã được phê duyệt, coi trọng chất lượng tăng trưởng Phát triển mạnh công nghiệp tại các trung tâm công nghiệp lớn và luôn chú ý phát triển công nghiệp theo thế mạnh của từng địa phương

Khuyến khích các cơ sở công nghiệp quốc phòng trở thành một bộ phận phát triển kinh tế địa phương, cùng tham gia sản xuất các sản phẩm phục vụ dân sinh

Phát triển mạnh các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ với các ngành nghề đa dạng Xây dựng các cơ sở công nghiệp địa phương là nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào và là nơi sử dụng tiếp các sản phẩm đầu ra cho các cơ sở công nghiệp lớn trên địa bàn để cùng nhau phát triển

Việc phát triển các ngành công nghiệp trong giai đoạn 2006-2015, có xét đến năm 2020 cần chú ý các ngành chính sau:

- Công nghiệp luyện kim;

- Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng;

- Công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản;

- Công nghiệp chế tạo máy và gia công kim loại;

- Công nghiệp chế biến nông- lâm sản, thực phẩm đồ uống;

- Công nghiệp dệt may, da giầy;

Trang 15

- Công nghiệp hóa chất

Trên cơ sở định hướng phát triển như trên, các chỉ tiêu phát triển cụ thể cho từng ngành được dự báo như sau:

Chỉ tiêu phát triển của các ngành công nghiệp đến 2015

Tỷ trọng (%)

GT (tỷ.đ)

Tỷ trọng (%)

GT (tỷ.đ)

Tỷ trọng (%)

Trang 16

Nguồn: Chương trình phát triển công nghiệp Thái Nguyên

1.4.4 Nhu cầu vốn đầu tư

Dự kiến tổng vốn đầu tư phát triển công nghiệp giai đoạn 2006-2015 như sau:

ĐVT: Tỷ đồng

2 Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng 4.140 975

3 Công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản 2.502 60

5 Công nghiệp chế biến nông -lâm sản, thực phẩm 1.005 140

B Hạ tầng cơ sở các khu công nghiệp (dự kiến) 1.000 1.000

C Điện, nước, gas và sản xuất khác

Trong đó: vốn đầu tư cho ngành điện

3.093 1.267,7

1.096

Nguồn: Qui hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Trang 17

Phần II

ĐáNH GIá Về CÔNG TáC ĐIềU TRA, THĂM Dò, KHAI THáC,CHế BIếN Và Sử DụNG QUặNG PYRIT, BARIT, PHOTPHORIT, DOLOMIT, CAOLANH, SET GốM, QUAZIT ở VIệT NAM, TRÊN ĐịA BàN TỉNH THáI NGUYÊN

2.1 Tính chất cơ bản và ứng dụng nhóm khoáng chất công nghiệp

2.1.1 Caolanh: Là một dạng của sét, chủ yếu gồm các khoáng vật

hiđroalumosilicat thuộc nhóm Caolinit, hạt mịn dưới 0,01mm, lúc nung trở nên trắng và có khả năng sản xuất các loại sứ

Yêu tố quyết định đến chất lượng của Caolanh và khả năng sử dụng trong các ngành công nghiệp khác nhau là thành phần hoá học và đặc tính lý hoá của Caolanh như độ trắng, độ dẻo, độ chịu lửa, độ hạt, lượng hao khí khi nung Riêng

về thành phần hoá học thì Oxit sắt là chất có hại, có ý nghĩa quyết định đối với việc phân loại Caolanh

Một số chỉ tiêu công nghiệp cho Caolanh dùng trong hai ngành sản xuất chính là giấy và gốm theo tiêu chuẩn Liên Xô cũ

Chỉ tiêu Caolanh sau khi lọc cho sứ mỏng (tiêu chuẩn GOST 6138-61)

Chỉ tiêu Caolanh sau khi lọc cho giấy (tiêu chuẩn GOST 6138-61)

Hạt nhỏ hơn 5 micromet không ít hơn

C) Caolanh có hàm lượng Fe2O3trên 1% không dùng để sản xuất sứ và giấy vì có mầu vàng Ngoài ra Caolanh còn dùng để sản xuất phèn chua, làm chất độn cho thuốc trừ sâu, quá trình tráng gương

và khuôn thuốc viên trong ngành dược

Trang 18

2.1.2 Sét gốm sứ:

Sét là loại đất bao gồm các khoáng vật hidroalumosilicat có độ hạn nhỏ hơn

0,01mm lúc ẩm ướt dễ tạo hình, đến lúc khô vẫn giữ nguyên hình thể và sau lúc nung đến nhiệt độ tương đôi cao (750 -8000C) thì trở nên rắn và không trở lại đặc tính ban đầu (do các khoáng vật sét mất nước trong mạng lưới kết tinh)

Đại đa số các mỏ sét đều có nguồn gốc trầm tích hoặc phong hoá tại chỗ Ngoài các khoáng vật sét, trong đất sét còn thường gặp các tạp chất khác như

Fe2O3, TiO2, CaO, MgO, K2O, Na2O, CO2, SO3 và vật chất hữu cơ

Trong sét khô: Ôxit silic chiếm chủ yếu từ 45-80%; Al2O3 chiếm khoảng 25%, trong một số trường hợp có thể giảm xuống 8-10%, hoặc nên tới 35-40% như

18-ở các mỏ Chí Linh, Tuyên Quang; oxit sắt chủ yếu 1,5-4%; oxit titan không quá 2%; CaO và MgO từ 7-8% Thành phần các khoáng vật cơ bản trong sét quyết định tính chất lý hoá của từng loại sét, đồng thời cũng quyết định khả năng sử dụng trong từng ngành công nghiệp riêng biệt Song các tạp chất trong sét như sắt, titan

và một số khoáng chất khác cũng đóng vai trò quyết định đối với chất lượng của từng mỏ sét

Tuỳ thành phần mà Sét được sử dụng nhiều trong từng lĩnh vực khác nhau như: Sản xuất vật liệu xây dựng, phụ gia sản xuất xi măng, gốm sứ

2.1.3 Pyrit

Pyrit là nguyên liệu cơ bản dùng để chế axit sunfuaric; khoảng 75% lượng axit sunfuaric chế từ pyrit

Pyrit là một hợp chất của sắt: Chứa khoảng 53,4% lưu huỳnh và 46,6% sắt,

có màu vàng thau, trọng lượng riêng 4,9 - 5,2

Pyrit khoáng sản bán ra trên thị trường thường có hàm lượng lưu huỳnh vào khoảng từ 36 45% Mỗi tấn pyrit loại chứa 53,4% lưu huỳnh (S) thường cho 1,6 tấn axit sunfuaric và từ 1 tấn 35% S có thể thu được 1,05 tấn axit đấm đặc, đây cũng là ranh giới hàm lượng có ý nghĩa kinh tế đối với công nghệ sản xuất axit sunfuaric

Ngoài axit sunfuaric, xỉ pyrit còn có thể sử dụng như quặng sắt có hàm lượng Fe cao (60-62% Fe, dưới dạng Fe2O3), một tấn pyrit lúc đốt cho 680-730kg

xỉ Xỉ này cũng còn dùng để chế muối sunfat và clorua dùng để ngâm gỗ, lọc hơi trong các lò hơi Hoặc dùng làm nguyên liệu mài Từ xỉ pyrit có thể thu kẽm hoặc đồng, đôi khi cả vàng, và từ bụi lò nung pyrit có thể lấy hợp chất acsen, song acsen

là nguyên tố có hại đối với sản xuất axit sunfuaric, vì acsenic gây phản ứng bất lợi trong quá trình điều chế axit sunfuaric

Trang 19

Lượng axit sunfuaric cần để sản xuất phân supe phốt phát chiếm gần 1/3 nhu cầu H2SO4 trong nước có nền kinh tế phát triển Nước ta là một nước có diện tích trồng trọt lớn việc sản xuất phân lân cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu phải cần được đẩy mạnh Vì vậy tương lai lượng axit sunfuaric sử dụng càng nhiều Song ở nước ta thiếu lưu huỳnh tự sinh, trữ lượng pyrit được đánh giá lại quá ít

2.1.4 Barit (BaSO 4 )

Barit là nguyên liệu hoá, ở những nước phát triển ngành thăm dò dầu lửa và khí đốt, thì lượng barit dùng trong công tác khoan chiếm khoảng 60-90% toàn bộ sản lượng barit Do barit có trọng lượng riêng cao (4,5kg/dm3

Ngoài công tác tìm dầu mỏ ra, barit còn sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau như sản xuất sơn, mầu, dùng trong công nghiệp chế tạo cao su, công nghiệp giấy, trong ngành gốm và thuỷ tinh, chế xi măng barit chịu nước vv, đồng thời do đặc tính hấp thụ tia rengen, nên barit còn được dùng trong ngành y và

kỹ nghệ điện tử ở các nước có kỹ nghệ hoá chất phát triển có thể sử dụng tới trên 40% lượng barit hiện có để chế các loại muối sunfua, clorua và carbonat bari dùng trong kỹ nghệ hoá và trong nông nghiệp để làm thuốc trừ sâu

2.1.5 Photphorit (Ca 3 (PO 4 ) 2 )

Photphorit ở nước ta đều có nguồn gốc phong hoá tàn dư của đá vôi và đại

đa số đều nằm trong diện phân bố của đá vôi Paleozoi trên (C - P) Trong vùng đá vôi khác tuổi thường ít xuất hiện các mỏ photphorit, hoặc nếu có thì trữ lượng không đáng kể

Trong các tầng đá vôi Paleozoi có những lớp đá vôi chứa luợng photphorit cao, có khi tới 0,9 1,1% P2O5, như ở vùng Cao Bằng Do quá trình rửa lũa lâu dài các khối đá vôi, các phần tử photphat khó tan được dòng nước mưa mang theo dưới dạng huyền phù rồi tích tụ trong các kẽ nứt, hang động và ở rìa chân núi đá vôi cùng với sét, silic và các ôxit kim loại khác như sắt, mangan Những chỗ giầu photphat kết lại thành dạng cục, kết hạch, hoặc photphorit hoá các tảng đá vôi, bởi thể quặng photphorit dạng cục thường dầu P2O5 Còn chỗ nghèo thì photphat thành dạng hạt nhỏ lẫn trong sét hoặc ở dạng bột lẫn cát sét, nên quặng rơi thường có hàm lượng P2O5 thấp Các thân quặng photphorit quan trọng đều nằm ở chân núi

đá vôi, hoặc ở các dải lõm hẹp được núi đá vôi bao quanh Quặng có lúc tích tự tại

Trang 20

chỗ, hoặc có lúc lại ở dạng tảng lăn từ sườn hoặc các hang cao xuống tập trung ở chân núi

Một nguồn cung cấp photphorit quan trọng nữa được hình thành là do tích tụ lại lông, cánh và xương chim chết ở núi đá vôi

Quặng photphorit được phân thành 3 loại:

- Loại giầu P2O5 trên 18%

C Trong trường hợp có đá phiến Quaczit thì có thể cắt thẳng thành gạch rồi đem lót lò

Quaczit để sản xuất gạch đinat phải có hàm lượng các oxit cơ bản như sau:

Loại Độ chịu lửa SiO2 (%) Al2O3 + TiO2

xi măng vvVật liệu chịu lửa manhezit có độ chịu lửa cao hơn vật liệu samot

Dolomit tinh khiết có thành phàn cơ bản: CaO=30,4%, MgO=21,7%, CO2 = 47,9% Do có những thành phần cơ bản như MgO, CaO nên Dolomit được dùng để sản xuất vật liệu chịu lửa thuộc nhóm manhezit, làm chất trợ dung trong luyện kim đen, sản xuất manhe, sản xuất vật liệu gắn kết trong xây dựng, dùng trong phối liệu thuỷ tinh, trong ngành hoá chất, làm phân bón và dùng trong một số ngành khác

Đối với Dolomit để sản xuất vật liệu chịu lửa, cần phải hạn chế SiO2, Fe2O3,

Al2O3 và Mn3O4 SiO2 có lợi trong giới hạn 1-6% vì được nung cùng với CaO tạo

Trang 21

silicat chịu lửa cao (3CaO.SiO2) và làm giảm CaO tự do vì CaO là chất không bền trong không khí có hơi nước, dễ gây hỏng lò

Nhà nước đã đầu tư đáng kể cho công tác điều tra địa chất, tìm kiếm và thăm

dò các nguyên liệu khoáng sét nói chung, trong đó có caolanh từ những năm sau

1954 Giai đoạn 1960-1990, các đơn vị địa chất thuộc Tổng cục Địa chất đã tìm kiếm, thăm dò nhiều mỏ, điểm nguyên liệu khoáng caolanh tại các địa phương: Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hải Dương, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Lâm Đồng, Bình Phước, Bình Dương Và được Hội đồng Đánh giá Trữ lượng Quốc gia thông qua Từ năm 1991 đến hết năm 2006, cả nước chỉ có khoảng 20 mỏ được đầu tư thăm dò khoáng sản cao lanh (kể cả caolanh đi cùng với khoáng sản pyrophilit, sét chịu lửa) Chủ yếu là: Vùng caolanh Bình Phước-Tây Ninh-Bình Dương trong vùng Kinh tế Trọng điểm phía Nam nơi

có thị trường tiêu thụ lớn các sản phẩm caolanh nhất cả nước; vùng caolanh Lâm Đồng (hai huyện Lâm Hà, Bảo Lâm và thị xã Bảo Lộc) và ở các tỉnh phía Bắc là khoáng sàng sét chịu lửa Trúc Thôn (Hải Dương), pyrophilit Tấn Mài (Quảng Ninh) Các đề án đầu tư thăm dò caolanh (xem phụ lục 3)

- Công tác khai thác, chế biến và sử dụng

Trước năm 1945 khoáng sản caolanh thường được khai thác và sử dụng làm

đồ sành, sứ, gốm, gạch ngói, khai thác, chế biến ở các khu Bích Nhôi thuộc tỉnh Hải Dương và một vài điểm thuộc tỉnh Quảng Ninh Những năm gần đây hoạt động khai thác, chế biến các nguyên liệu khoáng sét diễn ra trên địa bàn 30-40 tỉnh thành trong cả nước như: Yên Bái, Phú Thọ, Lâm Đồng, Bình Dương và Bình Phước Có khoảng 40 doanh nghiệp tham gia khai thác, chế biến, với tổng công suất vào khoảng 1,7 triệu tấn khoáng sản nguyên khai/năm, nếu tính cả sét trắng/sét gốm sứ, sét chịu lửa, khoáng sản pyrophilit (tạm tính tỷ lệ caolanh/ pyrophilit là 40/60), thì tổng công suất khai thác, chế biến caolanh hiện có của cả nước sẽ vào khoảng 2,0 triệu tấn khoáng sản nguyên khai/năm

Trang 22

Bảng II.1 Nhu cầu Caolanh của Việt Nam để sản xuất các sản phẩm:

Nguồn: Quy hoạch TD, KT, CB và sử dụng khoáng sản Caolanh cả nước

Về công nghệ và trình độ công nghệ khai thác:

Các mỏ, điểm khoáng, biểu hiện khoáng sản caolanh nước ta đều có điều kiện khai thác thuận lợi và được khai thác bằng các khai trường lộ thiên với hai nhóm trình độ công nghệ: Cơ giới hóa, đồng bộ thiết bị (khai thác, bốc xúc, vận tải) ở mức trung bình - thấp (quy mô công suất khoảng 50.000 tấn QNK/năm trở lên) và bán cơ giới - thủ công lạc hậu (quy mô công suất khoảng một hai chục nghìn tấn QNK/năm trở xuống đến quy mô hộ gia đình)

Về công nghệ và trình độ công nghệ chế biến:

Như đã khái quát ở mục trên, khoáng sản caolanh của nước ta dải chất lượng thay đổi rộng, nhiều chủng loại nên 2 sơ đồ công nghệ tuyển lọc khoáng sản caolanh giới thiệu dưới đây có tính chất nguyên lý, minh họa Sơ đồ công nghệ tuyển lọc cao lanh truyền thống thường được áp dụng ở nhóm khai thác, chế biến bán cơ giới - thủ công, xem sơ đồ:

Công nghệ tuyển lọc Caolanh truyền thống

Caolanh

nguyên khai

Đánh tơi, chà xát

Hệ thống

Trang 23

Cát thô, sỏi Sắt từ Caolanh

bột, viên khô

Sơ đồ Công nghệ tuyển lọc caolanh dây chuyền thiết bị cơ giới

Trang 24

Công nghệ chế biến này có nhu cầu đầu tư vốn khá nhỏ (nguyên vật liệu xây

bể khuấy, bể lắng, máng zic zắc và bàn phơi hoàn toàn bằng gạch chỉ và vữa xi măng) nhưng sử dụng nhiều sức người; tỷ lệ thu caolanh tinh lọc thấp và không thu được phụ phẩm như cát thạch anh, mica, tuốcmalin; Sản phẩm Caolanh sau lọc có chất lượng thấp, không ổn định (trong sản phẩm còn chứa nhiều hạt mica < 0,21mm, tuốcmalin mịn màu đen, lượng sắt gần như còn nguyên) nên chỉ làm xương gốm, sứ và có giá bán thấp

Thứ hai là sơ đồ công nghệ tuyển lọc Caolanh bằng dây chuyền thiết bị cơ giới (của Viện Khoa học Vật liệu thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) hiện được áp dụng ở một số cơ sở có quy mô công suất khai thác khoảng 50.000 tấn QNK/năm trở lên; Quy trình công nghệ tuyển lọc cao lanh này (xem Sơ đồ) có công suất xử lý 30.000-90.000 tấn QNK/năm và có thể mở rộng theo yêu cầu sản xuất Giá trị đầu tư cho toàn bộ dây chuyền bằng khoảng 60% so với nhập ngoại Giá thành sản phẩm caolanh tinh lọc rẻ hơn nhiều so với sản phẩm nhập khẩu Chất lượng sản phẩm caolanh tinh lọc tương đối ổn định và đạt yêu cầu làm nguyên liệu cho sản xuất giấy, sơn, gốm sứ cao cấp và men màu

2.2.2 Sét chựu lửa, gốm sứ:

Ngành sản xuất vật liệu chựu lửa và gốm sứ các loại hàng năm sử dụng khá nhiều sét, Theo quy hoạch vật liệu xây dựng của cả nước có đưa ra nhu cầu cụ thể từng loại như sau:

- Đất sét chịu lửa: giai đoạn đến năm 2010: 3.060 nghìn tấn; giai đoạn 2011

Tổng nhu cầu sét gốm sứ các loại hàng năm cần khoảng: năm 2010: 4,335

triệu tấn; giai đoạn 2011-2015: 6 triệu tấn; giai đoạn 2016-2020: 16,7 triệu tấn;

Nhưng trước năm 1965 việc thăm dò sét cho các lò sành, sứ chưa được đặt

ra Sét đều do các xí nghiệp tự tìm kiếm, sản xuất thử rồi khai thác Sau năm 1965 dựa trên nhu cầu phát triển công nghiệp địa phương Tổng cục Địa chất đã thăm dò

17 khu mỏ sét nhỏ dành cho gốm có khả năng sản xuất sành và một số có thể pha với Caolanh để sản xuất sứ thô Các mỏ sét được thăm dò cho ngành gốm thường

có trữ lượng nhỏ phù hợp với các lò gốm ở địa phương; tổng trữ lượng các mỏ này khoảng 2,388 triệu tấn cấp C1+C2 Riêng mỏ sét Trúc Thôn khai thác bán cho các

Trang 25

ra, còn có thể thu lấy lưu huỳnh kết hợp từ các mỏ sunfua: Niken, Đồng Bản Phúc; Đồng Sin Quyền, Chì kẽm Chợ Điền, Làng Hích Tổng lượng lưu huỳnh có thể thu hồi trong quá trình tuyển luyện các loại khoáng sản sunfua gấp trên 4 lần trữ lượng lưu huỳnh có ở mỏ Giáp Lai

Quặng pyrit được chia thành 3 loại: Loại I không cần làm giầu trên 30% S; Loại II không cần làm giầu từ 20-30% S; Loại III cần làm giầu từ 12-20% S

Hiện tại giá lưu huỳnh nguyên tố ngày càng rẻ đi, nhập khẩu vào thị trường Việt Nam là 65 - 70 USD/tấn, nên đầu tư khai thác, chế biến quặng pyrit là không hiệu quả Các nhà máy hoá chất Supe phốt phát Lâm Thao, Long Thành, Thủ Đức

đã và sẽ không sử dụng pyrit để sản xuất axit sunfuric

2.2.4 Barit (BaSO 4 )

Từ trước giải phóng người Pháp đã khai thác barit ở mỏ Làng Cao, huyện Tân Yên, Hà Bắc, năm 1967 đoàn 20A đã tiến hành tìm kiếm mỏ Lục Ba, Đại Từ, Thái Nguyên, trữ lượng ước tính của mỏ vào khoảng 124 nghìn tấn Nói chung các điểm barit được phát hiện hoặc sơ bộ khảo sát và thăm dò còn rất hạn chế, mới chỉ thăm dò được 1 mỏ và đánh giá sơ bộ bề mặt 4 điểm mỏ khác, với tổng trữ lượng TNDB khoảng 4,125 triệu tấn barit, có 916 nghìn tấn ở cấp B+C1, số còn lại chỉ là phỏng đoán (khoảng 3,554 nghìn tấn BaSO4 ở Nam Nậm Xe và Động Pao) Nhìn chung các mỏ barit đã khảo sát thường có chất lượng khoáng sản barit cao, hàm

Trang 26

lượng BaSO4 trung bình ở các mỏ đạt trên 80%, như mỏ Làng Cao, mỏ Sơn Thành,

mỏ Lục Ba (hiện đã đóng cửa mỏ)

Những năm gần đây Xí nghiệp Barium thuộc công ty công nghiệp Hà Bắc (Bắc Ninh) đã khai thác mỏ barit Làng Cao, sắp tới khi công tác thăm dò dầu khí phát triển thì lượng barit cần khoảng vài chục nghìn tấn/năm, tiếp tục được khai thác, chế biến các mỏ vùng Lai Châu, Tân Trào (Tuyên Quang)

Hai nhà sản xuất khoáng sản barit chính của Việt Nam là DMC và TQM; Công ty DMC là công ty liên doanh với M-I SWACO, hiện đạt sản lượng

VMC-50 nghìn tấn/năm, trong đó một nửa là xuất khẩu ở dạng khoáng sản thô ; Công ty VMC –TQM hoạt động ở tỉnh Tuyên Quang, sản xuất khoảng 60 nghìn tấn bột barit/năm, chủ yếu dùng để xuất khẩu, chỉ 8 nghìn tấn/năm được cung cấp cho Petro Việt Nam (các nước nhập barit: Thái lan, Ôxtrâylia, malayxia, Brrunei, Mêhicô, Vênêzuêla, )

2.2.5 Photphorit (Ca 3 (PO 4 ) 2 )

ở Việt Nam photphorit đã được sử dụng từ rất lâu, từ năm 1913 người Pháp

đã cho khai thác và sử dụng làm phân bón ở một số tỉnh như Nam Định, Hải Dương, Bắc Giang sản xuất photphorit được đẩy mạnh từ năm 1930, và đạt cao điểm vào những năm 1938 1941, trung bình mỗi năm 17.770 tấn, khai thác chủ yếu tập trung ở những núi đá vôi dọc đường sắt Bắc Giang - Lạng Sơn và ven rìa đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng sông Mã, sông Cả Sau chiến tranh chống Pháp, miền Bắc đã đánh giá lại hàng loạt mỏ cũ và thăm dò thêm nhiều mỏ mới, đồng thời trang bị thêm nhiều máy nghiền cho một số xí nghiệp để tăng lượng phân lân cung cấp cho sản xuất nông nghiệp

Mỏ photphorit ở nước ta nhiều, song trữ lượng không lớn chỉ vài trăm đến vài chục ngàn mét khối như các mỏ: Khao Hẻ, Vĩnh Thịnh, Cao Bằng, Núi Văn, Nam Phát có trữ lượng trên 20.000m3

và hiện tại rất nhiều mỏ đã được khai thác hết; các thân khoáng sản photphorit quan trọng đều nằm ở chân núi đá vôi, hoặc ở các dải lõm hẹp được núi đá vôi bao quanh Khoáng sản có lúc tích tự tại chỗ, hoặc

có lúc lại ở dạng tảng lăn từ sườn hoặc các hang cao xuông tập trung ở chân núi Trong các hàm lượng tích tụ khoáng sản photphorit thường không lớn Những hang có trữ lượng lớn cũng chỉ tới vài nghìn tấn, còn chủ yếu chỉ đạt vài trăm tấn hoặc ít hơn

2.2.6 Quazit

Quaczit ở Việt Nam rất phong phú trong các tầng trầm tích biến chất tuổi Proterozoi và Paleozoi dưới và giữa, song số mỏ được phát hiện và đánh giá chưa nhiều: Mỏ Đồn Vàng-Thanh Sơn-Phú Thọ (Vĩnh Phú cũ) được tìm kiếm phát hiện

từ 1957, đến năm 1967-1969 doàn 29 tiến hành thăm dò đánh giá trên diện tích

Trang 27

1,2Km2, mỏ gồm 3 tập Quaczit dày 20-40 mét và được xếp vào phần trên của tầng trầm tích biến chất Proterozoi, trữ lượng triển vọng 31 triệu tấn; Mỏ Làng Lai-Võ Nhai-Thái Nguyên khoáng sản có chất lượng thấp vì có lẫn nhiều mica nên hàm lượng AL2O3 tăng cao từ 2,03-8,57% và lượng SiO2 thấp từ 84,69-95,66%, trữ lượng triển vọng 20 triệu tấn; Nhưng do quy hoạch tổng thể cả nước về loại khoáng chất này chưa có nên các số liệu thống kê chưa có cơ sở tổng hợp đầy đủ

2.2.7 Dolomit

Dolomit thuộc nhóm nguyên liệu magnezit, ở nước ta loại nguyên liệu này rất phong phú trong các tấng trầm tích cacbonat, thành dạng vỉa, thấu kính hoặc dạng ổ xen kẽ với đá vôi; kích thước của các vỉa hoặc thấu kính Dolomit tương đối lớn có khi kéo dài đến hàng nghìn mét Những năm đầu thập kỷ 90 ngành địa chất nước ta đã phát hiện, đánh giá điểm khoáng sản magnezit quy mô nhỏ Bản Phúng,

do điều kiện giao thông khó khăn, nằm cách quá xa các nhà máy sản xuất vật liệu chịu lửa kiềm tính và chất lượng khoáng sản thấp nên điểm khoáng sản này đến nay vẫn chưa được thăm dò, khai thác, chế biến để sử dụng Trong những năm sau

2000, hoạt động điều tra địa chất khoáng sản đã phát hiện: Vùng khoáng sản Kon Queng ở xã S’Ró, huyện Kon Chro, tỉnh Gia Lai (năm 2004, đã hoàn thành điều tra, đánh giá tiềm năng mỏ magnezit Kon Queng trên diện tích 1 km2, hiện Tổng Công ty Khoáng sản thuộc Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam đang đầu tư thăm dò) Những mỏ lớn đã có số liệu:

- Khoáng sản vùng Bản Phúng có thành phần khoáng vật khoáng sản gồmi: MgO = 17,94-32,01%; Fe2O3 = 0,16-4,56%; FeO = 3,49-6,46%; SiO2 = 29,37-41,4%; CaO = 0,04-9,94% và CO2 = 22,58-26,39%; mỏ có quy mô nhỏ với trữ lượng cấp C2 đạt 402.638 tấn khoáng sản và tài nguyên dự báo cấp P1 đạt 786.833 tấn khoáng sản, điều kiện giao thông khó khăn

- Vùng khoáng sản magnezit Kon Queng có 2 mỏ: Kon Queng và mỏ Tây Kon Queng Mỏ magnezit Kon Quengii

có 1 thân khoáng sản lớn phân bố ở vòm của nếp lồi trong diện tích khoảng 1km2

, kéo dài 900m, lộ trên bề mặt rộng từ 70m, đã theo dõi đến độ sâu 80m, thân khoáng sản có bề dày 50-80 m, đã xác định trữ lượng cấp C2 đạt 6,1 triệu tấn và tài nguyên dự báo cấp P1 đạt 3 triệu tấn khoáng sản, hàm lượng trung bình trong các khối trữ lượng (%) của: MgO = 42-43;

10-Fe2O3 = 3,8; SiO2 = 1,73-2,74; CaO = 0,9-1,90, thuộc loại mỏ trung bình so với Thế giới Mỏ Tây Kon Queng chất lượng khoáng sản tương tự như ở mỏ Kon Queng, trữ lượng và tài nguyên bự báo của thân khoáng sản vào khoảng 6 triệu tấn (C2 = 3,1 triệu tấn, P1 = 3 triệu tấn)

Như vậy, nguồn tài nguyên khoáng sản thuộc nhóm nguyên liệu magnezit của nước ta hiện có khoảng 16 triệu tấn (rất nhỏ so với trữ lượng khoáng sản magnezit trên Thế giới), chất lượng khoáng sản thuộc loại trung bình thấp Nước ta

Trang 28

chưa có hoạt động chế biến khoáng sản magnezit (tuyển/làm giàu khoáng sản, sản xuất các sản phẩm manhê kiềm hóa, thiêu kết và manhê kim loại)

2.3 Công tác điều tra, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trong nhóm khoáng chất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

2.3.1 Thực trạng hoạt động tìm kiếm, điều tra, đánh giá và thăm dò địa chất khoáng sản trong nhóm khoáng chất của Tỉnh trong thời gian qua

Hầu như toàn bộ các loại khoáng sản trong nhóm khoáng chất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên được đoàn 110, đoàn 28, đoàn 29 và các đoàn thuộc liên đoàn địa chất I (Liên đoàn địa chất Đông Bắc) và đoàn 39 thuộc liên đoàn 3 tiến hành tìm kiếm, điều tra, đánh giá với kết quả:

Bảng II.2 Các mỏ và điểm khoáng sản trong nhóm khoáng chất ở Thái Nguyên

Mức độ điều tra Trữ lượng (tấn)

Hiện trạng, khả năng

1967

Điểm khoáng sản 124.000 cấp C2

Đã KT Nên điều tra thăm dò

3 Barit Lưu Quang,

Cty TNHH MTV DMC

5 Barit Mỹ lập,

Nam Hoà Đồng Hỷ

đã khai thác đóng của mỏ

khai thác tận thu

6 Barit Hợp Tiến I,

II, Đồng Hỷ

đã khai thác đóng của mỏ

khai thác tận thu

7 Barit Đầm Giáo,

Lục Ba-Văn Yên -

Đại Từ

Mới phát hiện

Điểmkhoáng chưa rõ triển vọng

Nên điều tra thăm dò

8 Barit Tân Đô, Hoà

Bình, Đồng Hỷ

Mới phát hiện

Điểmkhoáng chưa rõ triển vọng

Nên điều tra thăm dò

9 Barit Ba Đình,

Tân Long, Đ Hỷ

Mới phát hiện

Điểm khoáng chưa rõ triển vọng

Nên điều tra thăm dò

10 Barit PhángI+ III,

Phú Đô, Phú

Lương

Mới phát hiện

Điểm khoáng chưa rõ triển vọng

Nên điều tra thăm dò

Trang 29

Mức độ điều tra Trữ lượng (tấn)

Hiện trạng, khả năng

Điểm khoáng sản 27.685t

Đã khai thác

có thể cấp phépTDKT

1678/GP-Điểm khoáng gồm: Caolanh, felspat, sét CL

có triển vọng lớn

có thể cấp phépTDKT

16 Caolanh Phương

Nam 2, xã Phú

Lạc, huyện Đại Từ

đang Thăm dò

DT 60 ha

5 triệu tấn cấp B+C1 và 15 triệu tấn cấp P

có thể cấp phép khai thác

1963

Mỏ nhỏ

C1 + C2 = 86.000tấn

Đang khai thác

1961

Điểm khoáng Trữ lượng

C2 = 11.970tấn

Có thể thăm dò khai thác

1970

Mỏ khoáng T.lượng C2 = 140.500 tấn P= 90.000t (C2)

Có thể thăm dò khai thác

sơ bộ

Mỏ khoáng TL: B + C1 + C2

= 976.800t; B = 89.000t C1=

364.500 t

Chất lượng trung bình Thuộc diện

dự trữ TNKSQG

1967

Mỏ nhỏ

C1 + C2 = 10.240

Đã và đang khai thác

1974

Mỏ khoáng 595.000t

Hàm lượng

Fe quá cao

Trang 30

Mức độ điều tra Trữ lượng (tấn)

Hiện trạng, khả năng

Mỏ khoáng Trữ lượng B+C1

= 7,649 tr.t

Có thể khai thác

27 Dolomit Núi Voi

Hoá Thượng Đ.Hỷ

2103836

10504914

Đoàn 39 Thăm dò

Mỏ khoáng 186.000tấn

Có thể khai thác

Mỏ lớn:

B+ C1 + C2 = 101tr.t (B=25

C1=51, C2=25)

Đang khai thác

Mỏ khoáng

C1+C2 = 23,5 tr.t

C1= 5,1 tr.tấn

Có thể khai thác khi có nhu cầu

Điểm khoáng sản ít có triển vọng

Có thể khai thác khi có nhu cầu

Qua công tác tìm kiếm, điều tra, thăm dò các mỏ khoáng sản trong nhóm khoáng chất ở Thái Nguyên có thể dự báo tài nguyên một số loại như sau (quy ra tấn khoáng chất):

- Caolanh: Trên 100 triệu tấn

- Pyrit: Chưa có thống kê

- Barit (BaSO4): Trên 124.000 tấn

- Photphorit: Trên 89.558 tấn

- Quazit: Trên 25,3 triệu tấn

- Dolomit: Trên 100 triệu tấn

- Sét chựu lửa, gốm sứ các loại khoảng vài triệu tấn (ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có các loại sét làm vật liệu xây dựng thông thường như sét gạch ngói: 36.147.023 m3,sét xi măng trên 60 triệu tấn ở quy hoạch này không đề cập tới);

2.3.2 Thực trạng hoạt động khai thác, chế biến và tiêu thụ khoáng sản trong nhóm khoáng chất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

2.3.2.1 Công ty Việt bắc-Bộ Quốc phòng đang tổ chức khai thác, chế biến tại mỏ Dolomit Làng Lai I thuộc xã La hiên, huyện Võ Nhai theo Quyết định số

Trang 31

2878/QĐ-ĐCKS ngày 23/12/1998 của cục địa chất khoáng sản Việt Nam: Thời hạn khai thác 30 năm trên diện tích 5,3ha, công suất thiết kế 70.000 tấn/năm, sản lượng khai thác và chế biến: Năm 2005 đạt 63.000 tấn, đến năm 2008 chỉ đạt 28.844 tấn, nộp ngân sách 4.051.569 đồng; công nghệ khai thác thủ công kết hợp

cơ giới gồm các công đoạn: Khoan nổ mìn, đập thủ công, qua nghiền máy và phân loại kích thước đạt 1,5 x 3, xúc bốc khoáng sản bằng máy xúc thuỷ lực, máy gạt có công suất 165 CV; vận tải khoáng sản bằng ôtô; sản phẩm bán cho các nhà máy sản xuất kính Việt-Nhật, Đáp Cầu; sản phẩm dạng dăm vụn bán cho các nhà máy gạch trên địa bàn

2.3.2.2 Công ty Cổ phần xây dựng và sản xuất vật liệu Thái Nguyên

đang tổ chức khai thác, chế biến tại mỏ Dolomit Làng Lai II thuộc xã La hiên, huyện Võ Nhai theo Quyết định số 1702/QĐ-ĐCKS ngày 13/8/1998 của cục địa chất khoáng sản Việt Nam: thời hạn khai thác 30 năm trên diện tích 4.7ha, công suất thiết kế 100.000 tấn/năm, sản lượng khai thác và chế biến: Năm 2005 đạt 62.000 tấn, đến năm 2008 chỉ đạt 25.000 tấn, nộp ngân sách 135.000.000,0 đồng; công nghệ khai thác thủ công kết hợp cơ giới gồm các công đoạn: Khoan nổ mìn, đập thủ công, qua nghiền máy và phân loại kích thước đạt 1,5 x 3, xúc bốc khoáng sản bằng máy xúc thuỷ lực, máy gạt có công suất 165 CV; vận tải khoáng sản bằng ôtô; sản phẩm bán cho các nhà máy sản xuất kính Việt-Nhật, Đáp Cầu; sản phẩm dạng dăm vụn bán cho các nhà máy gạch, sản xuất thép trên địa bàn

2.3.2.3 Tổng Công ty Cổ phần dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí (DMC) - Công ty TNHH một thành viên DMC Hà Nội đã và đang tổ chức khai thác tại: Mỏ Barit Khe Mong thuộc xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ theo Quyết định

số 2506/QĐ-UBND ngày 08/11/2007 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc cho phép Công ty TNHH một thành viên DMC Hà Nội khái thác tận thu khoáng sản Barit thời hạn 03 năm, công suất thiết kế 6.000 tấn/năm, sản lượng khai thác và chế biến năm 2008 đạt 100 tấn, trữ lượng còn lại ước tính 5.000 tấn; Mỏ Barit Lưu Quang thuộc xã Minh Tiến, huyện Đại Từ theo Quyết định số 3060/QĐ-UBND ngày 04/12/2008 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc cho phép Công ty TNHH một thành viên DMC Hà Nội khái thác tận thu khoáng sản Barit thời hạn 06 tháng, công suất thiết kế 700 tấn/tháng, trữ lượng ước tính 2.090 tấn; thực tế chỉ khai thác được 70 tấn là hết khoáng sản; công nghệ khai thác thủ công kết hợp cơ giới gồm các công đoạn: xúc bốc khoáng sản trực tiếp bằng máy xúc thuỷ lực gầu ngược, khoáng sản được vận chuyển về nhà máy chế biến bằng ôtô;

2.3.2.4 Công ty TNHH TM Cường Phúc đã vàđang tổ chức khai thác tại:

Mỏ photphorit Hang Dơi thuộc xã Tân Long-Quang Sơn, huyện Đồng Hỷ theo Quyết định số 2783/QĐ-UBND ngày 06/12/2007 của UBND tỉnh Thái Nguyên về

việc cho phép Công ty TNHH TM Cường Phúc khái thác mỏ photphorit Hang Dơi

Trang 32

thời hạn 4,5 năm, công suất thiết kế 4.000 tấn/năm, sản lượng khai thác và chế biến

năm 2008 đạt 589 tấn, trữ lượng còn lại ước tính 11.284 tấn;

2.4 Đánh giá chung về hoạt động: Điều tra, thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản trong khoáng chất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

2.4.1 Hoạt động điều tra, thăm dò khoáng sản trong nhóm khoáng chất:

Đa phần các mỏ và điểm khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp ở Thái Nguyên đã được các đơn vị địa chất Việt Nam tiến hành các hoạt động tìm kiếm, đánh giá: Liên đoàn địa chất I - Tổng cục Địa chất và các Đoàn Địa chất

110, 20A, 39, 29, 28, 31, 12 đa phần là những mỏ nhỏ, mức độ điều tra địa chất chỉ dừng ở khảo sát, tìm kiếm; một số mỏ mới phát hiện chưa được điều tra địa chất Qua nghiên cứu kết quả điều tra địa chất khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp của Thái Nguyên có thể đánh giá như sau:

- Trữ lượng khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp không lớn, hầu hết các mỏ nằm phân tán, trữ lượng nhỏ khó khăn cho việc đầu tư khai thác qui mô công nghiệp (trừ mỏ Caolanh ở khu vực xã phú lạc, huyện Đại Từ)

- Chất lượng khoáng sản ở dạng trung bình và thấp (khoáng sản nghèo) lẫn nhiều khoáng chất khác gây khó khăn cho việc tuyển khoáng sản và chế biến

2.4.2 Hoạt động khai thác , chế biến và sử dụng khoáng sản trong nhóm khoáng chất công nghiệp

Hiện trên địa bàn mới chỉ có một số loại khoáng sản được tổ chức khai thác: Dolomit, Barít, phốtphorít do các Công ty: Công ty Việt bắc-Bộ Quốc phòng, Công ty Cổ phần xây dựng và sản xuất vật liệu Thái Nguyên, Tổng Công ty Cổ phần dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí (DMC) - Công ty TNHH một thành viên DMC Hà Nội tổ chức khai thác và chế biến quy mô nhỏ Còn lại một số loại khoáng sản khác trong nhóm cũng đã có chủ tương cấp phép thăm dò, khai thác nhưng mới đang tiến hành các bước thủ tục cấp mỏ như các dự án khoáng sản Caolanh;

2.4.3 Về công nghệ khai thác và chế biến

Do các mỏ đã tổ chức khai thác đều có trữ lượng nhỏ, nên các chủ dự án không thể đầu tư khai thác công nghiệp, mà chủ yếu áp dụng Công nghệ khai thác

cơ giới kết hợp thủ công, các công đoạn: Khoan nổ mìn, đập thủ công, qua nghiền máy và phân loại hoặc xúc, bốc khoáng sản trực tiếp bằng máy xúc thuỷ lực, vận tải khoáng sản bằng ôtô, với thiết bị sản xuất trong và ngoài nước; thiết bị trong công nghệ khai thác đơn giản, phần thiết bị chế biến các doang nghiệp chưa đầu tư

hoặc mới chỉ có sàng phân loại, nhưng vẫn thủ công là chính

Ngày đăng: 18/03/2022, 08:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Báo cáo thuyết minh bản đồ các khu vực cấm hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Khác
15. Báo cáo thuyết minh tổng hợp kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2006-2010 của tỉnh Thái Nguyên Khác
16. Báo cáo lập bản đồ khoanh vùng định hướng phát triển công nghiệp khai khoáng tỉnh Thái Nguyên đến năm 2010, Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên, năm 2005 Khác
17. Đề án quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006-2010 Khác
18. Tài nguyên KS tỉnh Thái Nguyên, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, năm 2005 Khác
19. Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Thái Nguyên lần thứ XVII, năm 2005 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w