Bộ máy nhà nước CHXHCN việt nam Bộ máy nhà nước CHXHCN việt nam Bộ máy nhà nước CHXHCN việt nam Bộ máy nhà nước CHXHCN việt nam Bộ máy nhà nước CHXHCN việt nam Bộ máy nhà nước CHXHCN việt nam
Trang 1TIỂU LUẬN CUỐI KÌ MÔN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
HỌC KÌ I – NĂM 2021-2022 GIẢNG VIÊN: **************
SINH VIÊN: **************
LỚP:**************
MÃ SINH VIÊN: **********
Đề bài: Bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam: khái niệm, phân loại các cơ quan
bộ máy nhà nước, vị trí, vai trò, chức năng cơ bản của các cơ quan nhà nước Theo
em, làm thế nào để nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước?
Bài làm
Mở đầu
Từ xa xưa khi con người bắt đầu khai sinh ra cho đến nay phải trải qua bốn kiểu nhà nước các nhà nước các kiểu đó là: nhà nước đầu tiên là nhà nước chủ nô, thứ hai là nhà nước phong kiến, thứ ba là nhà nước tư sản, thứ 4 là nhà nước xã hội chủ nghĩa Dù ở kiểu nhà nước nào con người cũng muốn hướng đến bình đẳng cho các tầng lớp xã hội và nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước đang được các nhà nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng hướng dến đây để có thể xem là nhà nước tiến bộ nhất và cuối cùng trong lịch sử Vai trò của nhà nước ở bất kỳ một quốc gia nào cũng đều rất to lớn Phương thức và hiệu quả quản lý của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đối với sự phát triển về mọi mặt của quốc gia đó Chính vì thế chúng ta cần hiểu rõ về bộ máy nhà nước, đặc biệt là bộ máy nhà nước
Trang 2xã hội chủ nghĩa để từ đó đưa ra cách thức quản lý cũng như điều hành nhà nước tốt hơn
Việt Nam đã lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội và xây dựng nhà nước
xã hội chủ nghĩa Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu đã có quan điểm rõ ràng và đúng đắn về nhà nước xã hội chủ nghĩa đó là: “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”
Từ khi đổi mới đất nước, Đảng ta lại càng chú trọng vận dụng, phát triển, cụ thể hóa vấn đề nhà nước của dân, do dân, vì dân Do vậy, sự quản lý của nhà nước vối với mọi mặt của đời sống xã hội lại càng ảnh hưởng mạnh mẽ đối với sự phát triển
và bộ mặt của đất nước Vấn đề nâng cao vai trò của nhà nước là một vấn đề hết sức hệ trọng, luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, chú ý và đưa ra trong các kỳ Đại hội Đảng Mặc dù nhà nước ta đã phát huy vai trò của mình một cách có hiệu quả trong nhiều lĩnh vực của đất nước, nhưng không phải không có những hạn chế
Vì vậy, chúng ta cần tìm hiểu để tìm ra những mặt tích cực cũng như hạn chế nhằm hoàn thiện bộ máy nhà nước, khi bộ máy nhà nước được hoàn thiện thì việc phát triển mọi mặt của đời sống xã hội mới được cải thiện, phát triển bền vững và tốt đẹp hơn
B Nội dung
I Khái niệm về bộ máy nhà nước, hệ thống nguyên tắc bộ máy nhà nước phải tuân thủ và đặc điểm của bộ máy nhà nước.
1.1 Khái niệm về bộ máy nhà nước
Nhà nước là một tổ chức văn minh của xã hội loài người Đặc trưng cơ bản của nhà nước là nhà nước phân chia dân cư theo đơn vị hành chính lãnh thổ để cai quản, thiết lập quyền lực nhà nước còn là một tổ chức công quyền, có bộ máy tổ chức, có quân đội, cảnh sát và ngoài ra, để thực hiện việc tổ chức và quản lý xã hội thì nhà nước phải giải quyết những vấn đề chung mang tính cộng đồng mà không tổ chức,
cá nhân nào có thể làm được, nhà nước áp đặt ra pháp luật, quản lý, cai trị bằng pháp luật đồng thời để đảm bảo việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội thì nhà nước phải đặt ra các loại thuế và nhà nước là chủ thể duy nhất có chủ quyền quốc gia Bản chất của nhà nước được thể hiện rõ nét nhất ở những định hướng họat động, chức năng quản lý xã hội, quản lý kinh tế của nó Do vậy, xuất phát từ chức năng của mình, để duy trì quyền lực thống trị, thực hiện được chức năng của mình thì nhà nước phải tổ chức ra một bộ máy để thực hiện chức năng của nhà nước Bộ máy đó được gọi là bộ máy nhà nước
Nhiệm vụ và chức năng nhà nước được thực hiện chủ yếu bởi bộ máy nhà nhà nước Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương dến địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất nhằm
Trang 3thực hiện những nhiệm vụ và chức năng của nhà nước, vì lợi ích của giai cấp thống trị
Từ đó chúng ta rút ra được khái niệm về bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam là một hệ thống gồm nhiều cơ quan thuộc nhiều ngành, nhiều cấp khác nhau, được thành lập, tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung thống nhất tạo thành một cơ chế đồng bộ nhằm thực hiện những nhiệm vụ, chức năng của nhà nước Trong xã hội có giai cấp bộ máy nhà nước là công cụ có hiệu lực nhất nằm trong tay giai cấp cầm quyền để duy trì, bảo vệ, phát triển sự thống trị của họ về kinh tế, chính trị, tư tưởng Để thực hiện quyền của mình, giai cấp thống trị cần lập ra các
tổ chức khác như các đảng phái, các đoàn thể quần chúng Bởi vậy cần phân biệt bộ máy nhà nước với “hệ thống chuyên chính giai cấp” Bộ máy nhà nước là một khái niệm hẹp hơn, chỉ bao gồm các cơ quan nhà nước như: quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù, các cơ quan hành chính, ngoại giao, Còn hệ thống chuyên chính giai cấp không chỉ có nhà nước mà còn bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội khác cùng thể hiện nền chuyên chính của giai cấp cầm quyền
1.2 Hệ thống nguyên tắc bộ máy nhà nước phải tuân thủ
Theo Hiến pháp 2013 đã quy định 6 nguyên tắc tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Nguyên tắc chủ quyền nhân dân; nguyên tắc quyền lực thống nhất; nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc Đảng Cộng sản lãnh đạo; nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân
1.2.1.Nguyên tắc chủ quyền nhân dân
Nguyên tắc chủ quyền nhân dân là nguyên tắc quan trọng nhất trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vì bộ máy nhà nước là sự hiện thân của quyền lực nhà nước, là chủ thể áp đặt ý chí bắt buộc đối với toàn xã hội, vấn đề nền tảng nhất cần phải xác định ở mọi quốc gia Nguyên tắc đã nêu những nội dung cơ bản sau:
Khoản 2 Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”
Điều 6, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”
Trang 4Khoản 2 Điều 8 Hiến pháp 2013 nêu ra: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.”
1.2.2 Nguyên tắc quyền lực thống nhất
Đây là nguyên tắc nền tảng quan trọng thứ hai của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Là nguyên tắc quyết định thiết kế mô hình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Nguyên tắc này có cơ sở pháp lý theo: Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.”
Nội dung cơ bản của nguyên tắc đó là quyền lực nhà nước ở Việt Nam là thống nhất Về phương diện chính trị, quyền lực nhà nước tập trung thống nhát ở Nhân dân thể hiện qua nguyên tắc chủ quyền nhân dân Về phương diện tổ chức thực hiện: quyền lực nhà nước thống nhất ở Quốc hội Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất do nhân dân bầu ra, trao toàn bộ quyền lực của mình cho Quốc hội Mặc dù Quốc hội là nơi thống nhất quyền lực nhà nước, nhưng Quốc hội không trực tiếp thực hiện cả 3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong bộ máy nhà nước mà có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước Tuy nhiên, Quốc hội luôn có quyền giám sát tối cao đối với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước
Từ những nguyên tắc cơ bản này, mô hình tổ chức bộ máy nhà nước đã được định hình một cách rõ ràng với Quốc hội là cơ quan đứng đầu vị trí cao nhất của bộ máy nhà nước, các cơ quan thực hiện quyền hành pháp, tư pháp và các cơ quan trung ương khác
1.2.3 Nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hạt nhân, cốt lõi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Cũng giống nguyên tắc trên, nguyên tắc này cũng có cơ sở pháp lý theo khoản 1 Điều 2 Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.” Theo quy định này, mô hình lý tưởng mà công cuộc xây dựng bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam hướng tới là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với bản chất của Nhân dân, do nhân dân Nguyên tắc này được thể hiện qua đặc điểm “nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp” và “pháp luật có vị trí tối thượng trong đời sống xã hội” của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Khoản
Trang 51, Điều 8 đã biểu hiện rõ Điều này: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật,…” Ngoài ra, nguyên tắc này còn có nội dung cơ bản là là pháp luật phải có vị trí tối thượng hay thượng tôn, tối cao với tất cả mọi chủ thể mà trước tiên là tất cả các cơ quan nhà nước Tất cả hoạt động của cơ quan nhà nước, người có chức vụ, quyền hạn trong
bộ máy nhà nước đều phải căn cứ vào pháp luật và chỉ được làm những gì mà pháp luật không cấm và trong khuôn khổ pháp luật đặt ra
1.2.4 Nguyên tắc Đảng Cộng sản lãnh đạo
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vị trí rất quan trọng và được xác định trên hai phương diện đó là lãnh đạo hệ thống chính trị và lãnh đạo Nhà nước
Cơ sở pháp lý thể hiện ở điều 4 Hiến pháp 2013, đã khẳng định và làm rõ hơn, đầy
đủ hơn bản chất, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân mà đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Không chỉ vậy điều 4 của Hiến pháp còn nhấn mạnh Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân
Đó là sức sống của Đảng Thêm vào đó, Đảng phải phục vụ nhân dân, phải chịu sự giám sát của nhân dân và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình Nếu như quyết định không đúng, ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, nhân dân thì Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và trước dân tộc Nội dung cơ bản của nguyên tắc là Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nói cách khác, bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam, không thể được lãnh đạo bởi một lực lượng nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt nam Hoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Điều này là hoạt toàn đúng đắn bởi pháp luật là quy tắc xử sự chung và có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các chủ thể trong xã hội
1.2.5 Nguyên tắc tập trung dân chủ
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo Vai trò lãnh đạo của Đảng được phát huy chủ yếu thông qua việc lãnh đạo bộ máy nhà nước Do đó nguyên tắc tập trung dân chủ cũng trở thành nguyên tắc tổ chức và hoạt đông của bộ máy nước Cơ sở pháp lý của nguyên tắc này dựa theo Điều 8, Hiến pháp 2013 “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân
Trang 6dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí
và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.”
Nội dung cơ bản của nguyên tắc là: Trong các cơ quan nhà nước, những vấn đề quan trọng nhất thường được quyết định bởi tập thể theo chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Trong một tập thể thì thiểu số tuân theo đa số, tức là khi quyết định
đã đưa ra bởi tập thể thì tất cả phải thực hiện quyết định đó Cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng trung ương Tuy nhiên, trước khi ra quyết định thì cấp trên, trung ương phải tham khảo ý kiến cấp dưới, khuyến khích tính chủ động của địa phương Ngoài ra, nguyên tắc còn có ý nghĩa là tập trung dân chủ có vai trò trong việc bảo đảm sự nhất quán trong hoạt động của bộ máy nhà nước từ trung ương tới địa phương, nhưng vẫn khuyến khích được sự chủ động, sáng tạo của cấp dưới và của chính quyền địa phương, qua đó tránh được sự quan liêu của cấp trên, trung ương
1.2.6 Nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Hiến pháp năm 2013 đã nêu vấn đề ứng xử đối với quyền con người không những được quy định tại Chương II mà còn được quy định tại những điều khoản đầu tiên của Chương I Điều này chứng tỏ vấn đề ứng xử đối với quyền con người đã được quy định như một quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là Nhà nước phải hết sức coi trọng vấn đề quyền con người, nhà nước phải coi nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển con người là mục đích cao nhất và là mục đích cuối cùng của mình và điều này phải được thể hiện trong tổ chức cũng như hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và các cơ quan nhà nước nói riêng Về mặt tổ chức, trong bộ máy nhà nước phải có những thiết chế riêng có chức năng chăm lo tới vấn đề quyền con người Về mặt hoạt động, nhà nước phải co thái độ coi trọng toàn diện đối với quyền con người, quyền công dân Sự coi trọng toàn diện thể hiện ở bốn nội dung, cụ thể: Nhà nước công nhận quyền con người, quyền công dân; Nhà nước tôn trọng quyền con người, quyền công dân; Nhà nước bảo vệ quyền con người, quyền công dân; Nhà nước bảo đảm quyền con người, quyền công dân
1.3 Đặc điểm của bộ máy nhà nước.
Trong lịch sử đã tồn tại bốn kiểu nhà nước, do đó cũng tồn tại bốn kiểu tổ chức bộ máy nhà nước - bộ máy nhà nước chủ nô, bộ máy nhà nước phong kiến, bộ máy nhà nước tự san và bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Bốn kiểu bộ máy nhà nước
Trang 7tuy có những biểu hiện khác nhau về cơ các tổ chức, nguyên tắc, phương pháp và mục tiêu họat động, nhưng cũng có những đặc điểm chung, cơ bản sau đây: Là công cụ chuyên chính của giai cấp thống trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng trong xã hội, bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp cẩm quyền; nắm giữ đồng thời ba loại quyền lực trong xã hội quyền lực kinh tế quyền lực chính trị , quyền lực tinh thần;
sử dụng pháp luật phương tiện có hiệu lực nhất để quản lý xã hội và việc quản lý này được tiến hành chủ yếu dưới ba hình thức pháp lý cơ bản là xây dựng pháp luật , tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật; vận dụng hai phương pháp chung,
cơ bản là thuyết phục và cưỡng chế để quản lý xã hội
Bộ máy Nhà nước Việt Nam mang tính nhân dân sâu sắc Thông qua việc thực hiện quyền bầu cử, nhân dân trực tiếp bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, các cơ quan này sẽ thay mặt nhân dân để thành lập ra các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước Như vậy, bộ máy Nhà nước Việt Nam hiện nay được tổ chức và hoạt động trên cơ sở sự uỷ quyền của nhân dân Các
cơ quan, nhân viên nhà nước nhận quyền lực từ nhân dân, thừa uỷ quyền của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực của họ Hoạt động của bộ máy nhà nước hướng tới việc chăm lo cho nhân dân, bảo đảm, bảo vệ lợi ích cho nhân dân Mọi cán bộ, nhân viên nhà nước đều xuất phát từ nhân dân, tham gia vào bộ máy nhà nước là để phục vụ, phụng sự nhân dân Họ có trách nhiệm phải giữ mối liên
hệ mật thiết với nhân dân, phải gần gũi nhân dân, lắng nghe và thấu hiểu nhân dân, đồng thời phải chịu sự giám sát của nhân dân, họ có thể bị bãi miễn nếu không còn được nhân dân tín nhiệm Không chỉ vậy, bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc dân chủ và tiến bộ xuất phát từ bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam như: bảo đảm chủ quyền nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật; tập trung dân chủ, Các nguyên tắc cơ bản trên đều đã được quy định trong Hiến pháp hiện hành của nước ta Trong bộ máy nhà nước, các cơ quan quản lí kinh tế xã hội ngày càng phát triển, hoàn thiện để thực hiện sự quản lí một cách có hiệu quả các mặt của đời sống xã hội; các cơ quan cưỡng chế được xây dựng chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại để có thể đủ khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia, trật tự, an ninh, an toàn xã hội Nhìn tổng thể, có thể nói, bộ máy Nhà nước Việt Nam hiện nay đang chuyển dần sang tính chất phục vụ nhân dân, chủ yếu cung cấp dịch vụ công như điện, nước, đường giao thông, y tế, giáo dục cho xã hội Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nguyên tắc đặc thù trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Việt Nam hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo nhân dân làm cách mạng giành chính quyền từ tay giai cấp thống trị cũ, thành lập nên nhà nước
Trang 8kiểu mới ở Việt Nam Từ đó đến nay, trong suốt công cuộc kháng chiến và kiến quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thực hiện sự lãnh đạo toàn diện đối với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hiện nay Việt Nam đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, do vậy, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là điều kiện tiên quyết để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
II Phân loại các cơ quan bộ máy nhà nước
Cơ quan Nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước, là tổ chức (cá nhân) mang quyền lực Nhà nước được thành lập và có thẩm quyền theo quy định của Pháp luật nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước
Trong bộ máy nhà nước có rất nhiều loại cơ quan nhà nước khác nhau Mỗi cách phân loại cơ quan nhà nước có những giá trị riêng nhất định Việc phân loại cơ quan cho dù theo tiêu trí nào đi chăng nữa cũng không vì thế mà làm thay đổi địa vị pháp lý của chính cơ quan đó trong nấc thang quyền lực nhà nước Mà địa vị pháp
lý của cơ quan nhà nước phụ thuộc vào việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn, chức năng của chính cơ quan đó Có các tiêu chí, căn cứ phân loại các cơ quan bộ máy nhà nước như sau:
2.1 Căn cứ vào phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ
Căn cứ vào phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ, có hai nhóm cơ quan sau: Cơ quan nhà nước ở Trung ương: Quốc hội, Chính phủ, Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Đây là những cơ quan có phạm vi hoạt động bao trùm lên toàn bộ lãnh thổ và văn bản do những cơ quan này ban hành có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc, văn bản của các cơ quan nhà nước ở địa phương không được trái với văn bản của cơ quan nhà nước ở Trung ương, nếu trái thì có thể bị đình chỉ thi hành hoặc bị bãi bỏ Nhóm cơ quan thứ hai là cơ quan nhà nước ở địa phương: Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân địa phương – Những cơ quan này hoạt động bị giới hạn bởi địa giới hành chính, văn bản ban hành chỉ có hiệu lực trong phạm vi địa phương
Việc phân loại theo căn cứ này có ý nghĩa để xác định giới hạn thẩm quyền của các
cơ quan nhà nước Nếu vấn đề liên quan có ý nghĩa chung đối với toàn quốc thì thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan nhà nước ở Trung ương Ở địa phương thì thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan nhà nước cấp tỉnh
2.2 Căn cứ vào chế độ (nguyên tắc) làm việc
Cơ quan nhà nước làm việc theo nguyên tắc chế độ tập thể, tức là mọi việc đều được bàn bạc tập thể và quyết định theo đa số: Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Tòa
Trang 9án Cơ quan nhà nước làm việc theo chế độ thủ trưởng: Thủ trưởng quyết định và chịu trách nhiệm cá nhân: Bộ, Chủ tịch nước, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan thuộc chính phủ, sở, phòng.Cơ quan nhà nước hoạt động dựa trên nguyên tắc kết hợp với cả chế độ tập thể và chế độ thủ trưởng một người: Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp (tập thể và người đứng đầu)
Theo Luật tổ chức Chính phủ năm 2001, 08 loại vấn đề phải thảo luận tập thể, quyết định đa số Nếu biểu quyết ngang nhau, bên nào có Thủ tướng thì phải theo bên đó Luật Tổ chức HĐND và UBND trước đây cũng bàn bạc tập thể Nay 6 loại vấn đề phải bàn bạc tập thể, quyết định theo đa số Nếu chủ tịch ở bên thiểu số thì vẫn phải phục tùng đa số là sự thiết lập cơ chế đại nghi – một cơ chế nhà nước tổ chức theo nguyên tắc phân quyền , phủ định lại nguyên tắc tập quyền chuyển chế phong kiến Theo đó, quyền lực nhà nước được phân ra các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp và trao cho ba cơ quan đảm nhiệm tương ứng là Nghị viện, Chính phủ và Tòa án Ba nhánh quyền lực này độc lập và đối trọng lẫn nhau – dùng quyền lực để hạn chế quyền lực Cơ chế đại nghị ( phân quyền ) đã khắc phục được sự chuyên chế trong tổ chức nhà nước trước đó và nói theo K Mác và Ph Ăng ghen là
đã thể hiện sự “phân công lao đông áp dụng trong cơ chế nhà nước với mục đích đơn giản hóa và kiểm tra” Tuy nhiên cơ chế đại nghi do tính độc lập và đối trọng giữa các cơ quan đã làm cho Nghị viện trên nguyên tắc là cơ quan đại diện quyền lực của nhân dân bị thao túng trở nên hình thức, dẫn đến triệt tiêu quyền lực nhân dân Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin đã chủ trương xóa bỏ chế độ đại nghị và thay vào đó là cơ chế “tập thể hành động” sau này được khái quát thành nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa đối lập với nguyên tắc phân quyền trong tổ chức Ngoài ra, trên thực tiễn những nguyên tắc này còn có yêu cầu là: Các cơ quan nhà nước,cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền
2.3 Căn cứ vào tính chất, chức năng, thẩm quyền
Căn cứ vào tính chất, chức năng, thẩm quyền chia thành 5 loại cơ quan như sau:
Cơ quan đại diện quyền lực nhà nước: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp - Đây
là hệ thống cơ quan được nhân dân trực tiếp trao quyền, thay mặt nhân dân để thực hiện quyền lực nhà nước Cơ quan cấp hành chính (cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước): Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp Đây là hệ thống
cơ quan có bộ máy lớn nhất Cơ quan xét xử, Tòa án nhân dân các cấp và tòa án quân sư các cấp Cơ quan kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân các cấp và viện kiểm sát quân sư các cấp Nguyên thủ quốc gia (Chủ tịch nước): Người đứng đầu nhà
Trang 10nước, thay mặt nhà nước về đối nội, đối ngoại Chủ tịch nước có thẩm quyền trong
cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp
Tuy nhiên với cách phân loại các cơ quan nhà nước dựa vào tiêu chí trên không có nghĩa rằng chỉ có Quốc hội, hội đồng nhân dân mới có tính quyền lực nhà nước mà tất cả các cơ quan trên trong hoạt động của mình, khi thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định theo quy định pháp luật đều mang tính quyền lực nhà nước
Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp 2013:
III Vị trí, vai trò và chức năng cơ bản của các cơ quan nhà nước.
Điều 2, chương I, Hiến pháp 1992: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là nhà nước của dân, do dân và vì dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp nông dân với tầng lớp tri thức
3.1 Các cơ quan quyền lực là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
3.1.1 Quốc hội