1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nguyên tắc tập quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam Liên hệ thực tiễn

9 19 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên tắc tập quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam Liên hệ thực tiễn
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hiến pháp
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 25,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên tắc tập quyền là nguyên tắc quan trọng, đóng vai trò không thể thiếu trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam nói riêng và các nước xã hội chủ nghĩa nói chung. Chính vì thế, nhóm chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài “Nguyên tắc tập quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam” để có thể rút ra được những tri thức khách quan về khái niệm, đặc điểm, vai trò và biểu hiện thực tiễn của nguyên tắc này trong xã hội ngày nay.

Trang 1

Phần mở đầu

Có thể nói, tư tưởng về sự thống nhất quyền lực, có sự phân công, phối hợp trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đã được thể hiện nhất quán trong tư duy lý luận của Đảng ta Dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung, hoàn thiện nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước: “Quyền lực nhà nước (QLNN) là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”

Để bộ máy nhà nước có hiệu lực và hiệu qủa trong việc quản lý xã hội thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải bảo đảm cho nó có được một cơ cấu tổ chức hợp lý, một cơ chế hoạt động đồng bộ và đội ngũ cán bộ có đủ năng lực thực hiện những nhiệm vụ được giao Tất cả những điều đó chỉ có thể đạt được khi xác định đúng những nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Một trong số những nguyên tắc cơ bản đó là nguyên tắc tập quyền Đây là nguyên tắc quan trọng, đóng vai trò không thể thiếu trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam nói riêng và các nước xã hội chủ nghĩa nói chung Chính vì thế, nhóm chúng tôi quyết định đi sâu nghiên cứu đề tài “Nguyên tắc tập quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam” để có thể rút ra được những tri thức khách quan về khái niệm, đặc điểm, vai trò và biểu hiện thực tiễn của nguyên tắc này trong xã hội ngày nay

Phần nội dung

I Khái niệm

1 Bộ máy nhà nước và nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Để hiểu được nguyên tắc tập trung dân chủ là gì, trước hết chúng ta phải hiểu được thế nào là bộ máy nhà nước và nguyên tắc tổ chức và hoạt động của

bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa

Trang 2

Để thực hiện tốt chức năng của Nhà nước, bộ máy nhà nước cần được tổ chức chặt chẽ, khoa học Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất tạo thành một cơ chế đồng bộ nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng của nhà nước Thông thường trong bộ máy nhà nước nói chung bao gồm ba loại cơ quan: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp

- Cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương)

- Cơ quan hành chính nhà nước, tức là cơ quan hành pháp (đứng đầu hệ thống này là Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ

và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã, các sở, phòng, ban…)

- Cơ quan tư pháp: bao gồm các cơ quan xét xử (Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án quân sự…) và các cơ quan kiểm sát (Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Viện kiểm sát quân sự) Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước tùy thuộc vào hiệu lực, hiệu quả hoạt động của từng cơ quan nhà nước

Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, khách quan và khoa học, phù hợp với bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa tạo thành cơ sở cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và toàn thể bộ máy nhà nước

2 Nguyên tắc tập quyền

Nguyên tắc tập quyền là nền tảng tổ chức bộ máy nhà nước của các nước XHCN Nguyên tắc này đề cao vị trí, vai trò của cơ quan đại diện các cấp (Quốc hội, HĐND) trong tổng thể bộ máy nhà nước Tập quyền vừa được hiểu là sự tập trung quyền lực nhà nước vào một cá nhân hay một cơ quan được bầu ra theo nhiệm kì ở trung ương, vừa được xem như là sự tập trung cao độ quyền hạn của các cơ quan nhà nước ở trung ương trong quan hệ quản lí hành chính nhà nước giữa trung ương và địa phương

Sự tập trung quyền lực nhà nước vào một cá nhân hay một cơ quan được bầu

ra theo nhiệm kì ở trung ương phụ thuộc vào hình thức chính thể và từng loại trong một hình thức chính thể của nhà nước Trong nhà nước quân chủ tuyệt đối (quân

Trang 3

chủ chuyên chế) dưới chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến, quyền lực nhà nước được tập trung trong tay vua; trong nhà nước quân chủ lập hiến tư sản, cộng hoà dân chủ tư sản và cộng hoà dân chủ XHCN, quyền lực nhà nước được tập trung vào cơ quan được bầu ra theo nhiệm kì là Nghị viện (hay Quốc hội)

Trong quan hệ quản lí hành chính nhà nước, sự tập trung cao độ quyền hạn của các cơ quan quản lí hành chính nhà nước ở trung ương đã tạo nên một nền hành chính cai trị, trong đó, các cơ quan quản lí hành chính nhà nước ở địa phương hoàn toàn tuân thủ và chấp hành tuyệt đối mọi mệnh lệnh, quyết định của cấp trên, không có quyền tự chủ, sáng tạo; không phát huy được tính tích cực, năng động, và tinh thần tự chịu trách nhiệm Trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường hiện nay thì cơ chế quản lí này đã trở nên lạc hậu, lỗi thời cần bị loại bỏ

II Đánh giá

1 Ưu điểm

Tại Việt Nam, trong một thời gian dài, nguyên tắc tập quyền XHCN đã giúp nhà nước làm tốt chức năng của một “ nhà nước kháng chiến ”, quyền lực, nguồn lực của nhà nước được đảm bảo tập trung phục vụ cho nhà nước, các quyết định

và thực thi quyền lực được đảm bảo nhanh chóng, thống nhất

2 Nhược điểm

Nhưng khi đất nước ta bước sang giai đoạn đổi mới, hệ thống chính trị chuyển từ hệ thống chuyên chinh vô sản sang hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa thì nguyên tắc này bộ lộ một số hạn chế, bất cập Đó là thiếu đi sự phân định giữa 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, là sự phủ nhận tương đối của các quyền, là thiếu cơ chế kiểm soát với quyền lập pháp, từ đó tạo nguy cơ tiềm ẩn về sự lạm quyền của các cơ quan nhà nước được trao quyền

III Nguyên tắc tập quyền trong nhà nước xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc tập quyền trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN được thể hiện rõ qua sự tập trung quyền lực nhà nước vào một cá nhân hay một cơ quan được bầu ra theo nhiệm kì ở Trung Ương phụ thuộc vào hình thức chính thể

Trang 4

và từng loại trong một hình thức chính thể của nhà nước Qua tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN, nguyên tắc tập quyền được thể hiện như sau:

1 Cơ quan quyền lực nhà nước (hay hệ thống cơ quan đại diện): bao gồm

Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp Các cơ quan quyền lực nhà nước

do nhân dân trực tiếp bầu ra, nhân danh nhân dân để thực hiện và thực thi một cách thống nhất quyền lực, phải chịu trách nhiệm và báo cáo trước nhân dân về mọi hoạt động của mình Các cơ quan quyền lực hợp thành hệ thống

“xương sống” của bộ máy nhà nước Trong cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước XHCN, có các cơ quan thường trực như Ủy ban thường vụ Quốc hội (Việt Nam), Hội đồng Nhà nước (Cu-ba)… Các cơ quan này do Quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội Hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho

ý chí, nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra, phải chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên

2 Chủ tịch nước: là người đứng đầu nhà nước, được trao nhiều quyền hạn

rộng lớn trong cả 3 lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp Chủ tịch nước

là người giữ quyền thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức

vụ Chủ tịch hội đồng quốc phòng và an ninh Chủ tịch nước có vị trí đặc biệt

và giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phối hợp thống nhất giữa các bộ phận của bộ máy nhà nước XHCN

3 Các cơ quan quản lý nhà nước

Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước ở các nước XHCN gồm có:

- Chính phủ: là cơ quan cao nhất trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước “Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước Đảm bảo hiệu lực của bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở Đảm bảo việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật” (Trích điều 109 Hiến Pháp 1992 của Việt Nam)

- Các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các ngành (nông nghiệp, công nghiệp, thương mại…) hoặc các lĩnh vực (kế hoạch, tài chính, lao động…)

- UBND các cấp: thực hiện sự quản lý thống nhất mọi mặt đời sống xã hội ở địa phương

Trang 5

- Các sở, phòng, ban chức năng của UBND là các cơ quan thực hiện chức năng quản lý chuyên môn trong phạm vi địa phương

- Các cơ quan quốc phòng và an ninh: Thực hiện chức năng đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự xã hội, ổn định chính trị và các quyền tự do dân chủ của nhân dân

4 Các cơ quan xét xử: trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước, chịu trách

nhiệm báo cáo trước cơ quan quyền lực nhà nước nhưng trong hoạt động lại độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Cụ thể ở nước ta, hệ thống cơ quan xét xử gồm có: Toàn án nhân dân tối cao, các tòa án nhân dân địa phương, các tòa

án quân sự và các toà án khác do luật định

5 Các cơ quan Kiểm sát: được tổ chức ra không chỉ để thực hiện quyền công

tố mà còn để kiếm sát các hoạt động tư pháp, góp phần đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Hệ thống cơ quan kiểm sát

ở nước ta gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các viện kiểm sát nhân dân địa phương và các viện kiểm sát quân sự

Như vậy, tính tập quyền trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN

có thể nói là được biểu hiện cụ thể nhất trong cơ cấu và cách thức tổ chức bộ máy nhà nước

Trong quan hệ quản lý hành chính nhà nước, sự tập trung cao độ quyền lực của các cơ quan quản lí hành chính nhà nước ở Trung Ương đã tạo nên một nền hành chính cai trị, trong đó, các cơ quan quản lí hành chính nhà nước ở địa phương hoàn toàn tuân thủ và chấp hành tuyệt đối mọi mệnh lệnh, quyết định của cấp trên, không hề có quyền tự chủ, sáng tạo Trong bối cảnh xã hội hiện nay thì cơ chế quản lý này đã trở nên lạc hậu, lỗi thời, cần bị loại bỏ

IV Nguyên tắc tập quyền ở Việt Nam

1 Nguyên tắc tập quyền ở Việt Nam

Lý luận của các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã đưa ra những nét cơ bản của học thuyết tập quyền XHCN như sau: Để đảm bảo xây dựng nhà nước chuyên chính mà hạt nhân của nó là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, người dân là người chủ thực sự trên tất các các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, quyền lực nhà nước là thống nhất và được tập trung ở cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân (Xô viết tối cao hay Quốc hội) Việc tập trung quyền lực nhà

Trang 6

nước vào cơ quan đại diện của nhân dân giúp quyền lực bảo đảm tính thống nhất của nó Quốc hội là “cơ quan mẹ”, Chính phủ và các cơ quan khác của nhà nước chỉ là cơ quan phái sinh do Quốc hội thành lập và phải chịu sự kiểm tra, giám sát tối cao của Quốc hội Ở đây không có sự phân chia quyền lực cũng như không có

sự kiềm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực Tính chịu trách nhiệm và luôn

bị giám sát bởi cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và của nhân dân chính là cơ

sở để đảm bảo cho quyền lực nhà nước không bị tha hoá

Tại Việt Nam, trong một thời gian dài, nguyên tắc tập quyền XHCN đã giúp nhà nước làm tốt chức năng của một “nhà nước kháng chiến”, quyền lực nhà nước được bảo đảm tập trung, các quyết định và việc thực thi quyền lực được bảo đảm nhanh chóng, thống nhất Nhưng khi đất nước ta bước sang giai đoạn đổi mới, hệ thống chính trị chuyển từ hệ thống chuyên chính vô sản sang hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa thì nguyên tắc này đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập Đó là sự thiếu phân định giữa ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, là sự phủ nhận tính độc lập tương đối của các quyền, là thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực với quyền lập pháp,

từ đó tiềm ẩn nguy cơ lạm dụng quyền lực từ phía các cơ quan nhà nước được trao quyền Để khắc phục những hạn chế nói trên, Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã công nhận các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và yêu cầu sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan thực hiện các quyền này Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định yêu cầu phân công, phối hợp, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp

2 Vị trí, tính chất của Chính phủ trong định hướng sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Kết luận Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và những nội dung cơ bản về sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo và yêu cầu duy trì những hạt nhân hợp lý của học thuyết tập quyền XHCN trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Kế thừa quy định trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980

và 1992, Quốc hội tiếp tục được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất

Ví trí, tính chất này của Quốc hội tiếp tục được khẳng định bởi Quốc hội là cơ quan duy nhất gồm các đại biểu do cử tri cả nước trực tiếp bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của toàn dân Quy định Quốc hội là “Cơ quan quyền

Trang 7

lực nhà nước cao nhất” thể hiện những chức năng được toàn dân uỷ quyền cho Quốc hội như ban hành Hiến pháp, ban hành luật, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, thiết lập nên các cơ quan hiến định trong bộ máy nhà nước và giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Văn bản và quyết định của Quốc hội có hiệu lực pháp luật cao nhất Chỉ có Quốc hội mới có quyền sửa đổi, huỷ bỏ hay thay thế các văn bản quyết định của mình

Nhận thức về vị trí, tính chất của Quốc hội với các nội dung nói trên đã quyết định vị trí, tính chất của Chính phủ trong định hướng sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 Những nguyên lý cơ bản của học thuyết tập quyền XHCN như Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội thành lập Chính phủ, bầu Thủ tướng Chính phủ, phê chuẩn thành viên Chính phủ, Chính phủ tổ chức thực hiện luật, các nghị quyết của Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, chịu sự giám sát của Quốc hội chính là những căn cứ cơ bản để xác định vị trí của Chính phủ trong phân công lao động quyền lực tại Việt Nam Từ đó, vị trí, tính chất của Chính phủ được xác định theo trật tự như sau: Chính phủ, Cơ quan chấp hành của Quốc hội, Cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cơ quan thực hiện quyền hành pháp Như vậy, vị trí của Chính phủ tiếp tục được xác định là cơ quan có quyền lực “phái sinh” từ quyền lực của Quốc hội, là cơ quan chấp hành, cơ quan hành chính, cơ quan thực hiện quyền hành pháp dưới sự giám sát của Quốc hội Học thuyết tập quyền XHCN tiếp tục được xác định là một trong những tư tưởng, nguyên tắc cơ bản để tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước trong giai đoạn tới

Phần kết luận

Trong suốt chiều dài lịch sử của Việt Nam, mô hình xây dựng nhà nước tập quyền đã trở nên phổ biến song có nhiều sự biến đổi cả về hình thức lẫn tính chất cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện lịch sử của thời đại

Là một nhà nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam của hiện tại cũng xây dựng bộ máy nhà nước tập quyền từ trung ương đến địa phương Theo đó, bộ máy nhà nước

Trang 8

được phân chia thành Các cơ quan quyền lực nhà nước, Chủ tịch nước, Các cơ quan quản lí nhà nước, Các cơ quan xét xử và Các cơ quan Kiểm sát Quyền lực sẽ tập trung vào các đơn vị ở trung ương và những người đứng đầu các cơ quan, tuy nhiên lại có sự giám sát và góp ý của nhân dân Là một nước đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa, nòng cốt và linh hồn của quốc gia chính là nhân dân Cho nên quyền lực cao nhất phải thuộc về nhân dân Mà cơ quan cao nhất và quyền lực nhất đại diện cho nhân dân là Quốc hội Bởi vậy, trong bộ máy nhà nước Việt Nam, Quốc hội được coi là cơ quan quyền lực nhất, quyết định mọi vấn đề của quốc gia và dân tộc Chỉ có Quốc hội mới có quyền điều chỉnh và thay đổi luật pháp cũng như bộ máy nhà nước lâm thời

Không chỉ ở riêng Việt Nam, mà nguyên tắc tập quyền là nền tảng chung để

tổ chức bộ máy nhà nước của các nước xã hội chủ nghĩa Ở Việt Nam, nguyên tắc này càng có tầm quan trọng hơn trong việc xây dựng nhà nước vì từ xưa đến nay, nước ta vẫn luôn áp dụng nguyên tắc này và đã đạt được những thành công nhất định Nó đảm bảo quyền lực luôn tập trung vào nhà nước, phục vụ cho nhà nước, các quyết định được thực thi nhanh chóng và mang tính thống nhất cao Tuy nhiên

ở một góc độ khác, khi đất nước ta đã bước vào giai đoạn phát triển mới, nguyên tắc tập quyền có đem lại một số hạn chế nhất định, tạo nguy cơ tiềm ẩn về sự lạm quyền của các cơ quan được giao nhiệm vụ và người đứng đầu

Tóm lại, nguyên tắc tập quyền trong xây dựng bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một trong những nguyên tắc chủ đạo, góp phần xây dựng nhà nước vững mạnh Nhờ đó, nhà nước ta là một thể hoàn chỉnh và thóng nhất từ trung ương đến địa phương, giúp đảm bảo sự công bằng, nhanh chóng trong giải

Trang 9

quyết các công việc của đất nước.

Ngày đăng: 06/02/2023, 09:54

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w